Khiemnguyen

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Nghĩa vụ nhà làm báo




NGHĨA VỤ NHÀ LÀM BÁO

“Các ông phải tự coi mình là nhà giáo dục. Giáo dục cho ai? Giáo dục cho khắp mọi người. Giáo dục cho cái dư luận trong nước nhờ các ông mà biết đường lối nên theo, biết công việc nên làm, biết cái tư tưởng nên nghiền ngẫm suy xét…
…Cái trách nhiệm của các ông là phải điều hòa được mọi người, công cáo cho dư luận trong nước biết những vấn đề nên biết, những việc có thể sảy ra sau này mà cần phải liệu trước, những sự biến cách tất có ngày sinh ra trong cuộc sinh hoạt. Nền xã hội một dân như dân xứ này, sống ở thời đại cả nhân loại đều biến động không thể đứng im mãi như xưa được...
Một tờ báo! Một ngọn bút! Còn cái nguyên động lực nào mạnh bằng!
(Nhời diễn thuyết của quan Toàn quyền Albert Sarraut).
Bài diễn thuyết của quan Toàn quyền Xa lộ đại nhân ở  hội các báo quán Nam Kỳ ngày tháng mười trước, thực là cái khuôn vàng thước ngọc cho các nhà làm báo trong xứ này. Kỳ trước bản báo đã dịch toàn văn trong mục Thời đàm[1], định đến kỳ này giải kỹ những ý kiến hay, tư tưởng cao của quan Toàn quyền, mà nhân bàn rộng đến cái nghĩa vụ nhà làm báo ở nước Nam ta ngày nay.
Quan Toàn quyền ngài binh sinh là một tay làm báo có tiếng bên quí    quốc, nên ngài vẫn có cảm tình riêng với các nhà báo. Ngài yêu mến nghề báo vô cùng, yêu đến mê, đến sùng, coi là một nghề tuyệt phẩm ở đời. Suốt bài diễn thuyết của ngài tức là một bài ca ngợi khen công đức nghề làm báo. Vậy thì nghề báo có cái nghĩa thâm trầm, cái thú cao thượng thế nào mà cảm được một bậc đại trí như thế?
Cái thú cao thượng, cái nghĩa thâm trầm ấy, ngài đã giải ra trong mấy nhời hùng hồn như sau nấy. Ngài nói:
“Một tờ báo! một ngọn bút! Còn cái nguyên động lực nào mạnh bằng! Người ta ở đời như đứng trong cái xưởng sinh hoạt nhớn, nhân loại đương có công cùng sức mà tiến lên cõi Công lý là cái nơi ai ai cũng nhiệt  tâm mong mỏi cho tới đến được, như thế mà mình được đem dùng cái nguyên động lực kia để giúp cho cái lòng hi vọng này, thi trần gian còn sự khoái lạc nào bằng. Trong khi nhân loại tiến lên như thế để cầu lấy sự thực sự hay, thì những tư tưởng này, chủ nghĩa kia khơi lên bời bời, tranh nhau kịch liệt, mình đứng giữa mà biểu dương ra cái lý tưởng nào là cái lý tưởng chân chinh, cái lý tưởng khá sáng tạo được những sự nghiệp hay, đem phô bày ra cho mọi người biết, đem ban bố trong công chúng, lấy mà kích thích tinh thần người ta, chiếu diệu tâm trí người ta, tự coi mình như người lính thổi kèn để truyền sự thực, báo tin lành, tự coi minh như người quân tiên phong tay cầm đuốc để chiếu sáng vào trong đám người u âm sầu khổ, để soi đường cho cái Công lý nó sắp đến; còn cái nhiệm vụ nào đẹp bằng, còn cái phẩm giá nào cao bằng, mà đáng cho một đời người nên tận tụy vì đây! Không những thế, trong cái công việc hằng ngày, trong sự chiến đấu hằng giờ, đề bênh cho cái lợi quyền người ta phạm hại, giữ cho cái tự do người ta giày xéo, biểu cái công đức người ta không biết đến, cáo những sự tệ lạm của kẻ gian phạm, thiên hạ đều sợ hãi không ai dám nói, mà một mình mình nói to lên cho ai ai cũng biết, mình là cái nhời ngôn luận tự do, mình là cái lương tâm không chịu khuất nhục, đối với cái cường quyền nó áp chế người ta, để bênh vực cho kẻ công chúng, cho kè nghèo hèn, cho kẻ bị áp ức khốn khổ, tựa hồ như mình là người võ sĩ của cái Công lý, nghiễm nhiên là một cái quyền  thế đồi với cái quyền thế của kẻ có quyền, còn cái thiên chức nào hay bằng, quảng đại bằng, tôi thử hỏi một đời người còn cái mục đích nào cao thượng bằng cái mục đích ấy nữa không?”.
 
Quan Toàn quyền đã cực tả cái thiên chức của nhà làm bảo như thế thực là hết nhời hết ý, không còn thể nào nói thêm cho bằng được nữa. Cứ mày nhời ấy mà suy thì biết nghề bảo trọng là dường nào, mà cái thế  lực của nhà báo mạnh biết bao nhiêu! Thế lực ấy đủ chuyển dịch được lòng người, thay đổi được cục diện, rèn đúc uốn nắn được cái vật vô hinh vô trạng gọi là cái Dư luận vậy.
Bởi đâu mà nhà báo có cái thế lực như thế? Bởi nhà báo vừa biểu được mà lại vừa gây nên mối dư luận trong một nước. Ai nói đến báo là nói đến dư luận, ai hởi đến dư luận là tìm đến báo, báo với dư luận, dư luận với báo hai cái là lần lót, là hình ảnh cho nhau, hai cái là tinh thần hình thức của nhau vậy. Vậy thì dư luận là cái gi? Lấy nhời giản dị mà giải thì dư luận là ý kiến chung của nhiều người, là cái tư tưởng của công chúng. Cứ lấy ý kiên riêng của mỗi người thì dù hay dù phải đến đâu, cái hiệu lực cũng là có hạn mà thôi; họp ý kiến của nhiều người thì dù sai dù nhảm đến đâu cái hiệu lực cũng có thể tăng đến vô cùng vậy. Chúng bao giờ vẫn có thế mạnh, dù khi cuồng dại cũng là mạnh hơn “cá nhân”. Bởi thế nên từ xưa đến nay các bậc đế vương mưu việc trị bình trong thiên hạ đều vụ lấy được lòng dân làm cốt nhất; được lòng dân tức là thu được cái thế mạnh của công chúng. Xưa gọi “lòng dân”, tức nay gọi là “dư luận”, chỉ khác xưa người dân còn thuần phác, bằng cả ở cái đức hóa của các bậc đế vương, chỉ biết đem tấm lòng tin mà qui phục; nay dân trí đã mở mang, biết lấy sự suy nghĩ mà bàn xét những nhẽ phải chăng, điều lợi hại trong nhân đoàn. Nhưng dù là “dân tâm”, dù là “dư luận”, tên có khác mà sự thực cũng là một, đều là chỉ cái sức mạnh vô hình của phần nhiều người trong một nước. Cái sức mạnh ấy xưa thuộc về tiêu cực, mà nay bởi nhẽ tiến hóa dần dần chuyển ra tích cực. Còn thuộc về tiêu cực thì phải tùy ở một bọn số ít có quyền chủ trương đốc trách, đã chuyển ra tích cực thì tất có tư cách suy xét mọi việc mà giám đồc được cả cái phần số ít kia.
Bởi thế nên trong thời đại này cái thế lực của dư luận đã bành trướng ra vô cùng, khiến cho có người đã gọi là cái “thời đại riêng của dư luận”. Lắm nước như nước Pháp nước Anh, dư luận thực là giữ quyền chúa tể trong nước, chi phối cả mọi việc thuộc về chính trị, xã hội...
Nhưng cái sức mạnh như thế mà để phó mặc cho một mình, không đoàn luyện, không tổ chức, không đặt cho có phương trâm, có định  hướng, thì chẳng qua cũng là cái sức hỗn độn, vô tri vô giác, thế sao mà giúp được cho cái trị thuật trong nhân quần? Không những không giúp được mà có khi lại sinh ra nhưng sự biến loạn, hại đến cuộc trị bình. Cái công đoàn luyện, tổ chức, đặt phương, định hướng cho dư luận ấy là thuộc về ai?
Tức là công của các nhà báo vậy.
Lấy cái sức của dư luận mà rèn đúc cho dư luận, khiến cho không tản mạn đi mất mà thành một khối bền chặt, giúp được cho cuộc sinh  hoạt chung của một dân một nước, đó là cái nhiệm vụ tối cao của các nhà làm báo. Báo bởi dư luận mà thành ra, mới có sức biến hóa được dư luận: cho hay dư luận cũng như chơi kim cương, chỉ có mình mới giũa được mình vậy.
Nhthế thì báo vừa biểu được dư luận mà lại vừa gây nên dư luận, cái thế lực trong một dân một nước lại chẳng to tát lắm sự? Bởi thế nên quan Toàn quyền nói ngọn bút tờ báo là hai cái nguyên động lực rất mạnh, khá lấy mà biến hóa được các dân quần xã hội, không phải là nói quá vậy. Bởi thê nên ngài lấy những nhời hùng tráng mà tả cái khoái lạc tuyệt trần của con nhà làm báo trong những lúc đua tranh gắng gỏi, khi vẻ vang, khi sầu khổ, không phải là vẽ cho ta mơ màng một cái cảnh bồng tiên không thực vậy.
Cảnh ấy quả có thực, nhưng chỉ riêng để cho những người nhiệt thành về nghề báo, coi nghề báo là một thiên chức rất cao, mà tận tâm tận lực làm cho trọn cái thiên chức ấy.
Ấy nghề báo có cái nghĩa cao, cái thú lạ, cái sức mạnh như thế. Vậy nên dùng thế nào cho phải đường, cho được thực ích lợi? Như xét riêng về nước ta thi nhà làm báo ở nước Nam ngày nay phải làm thế nào cho xứng đáng cái nghĩa vụ của minh?
Quan Toàn quyền khuyên các nhà báo nên tự nhiệm cải trách giáo dục cho dư luận trong nước. Như trên kia đã nói cái thế lực cùa dư luận mạnh là dường nào, thì đủ biết công giáo dục ấy không phằi là không quan trọng. Nhưng nước ta xưa nay chưa từng có dư luận bao giờ hoặc là cái dư luận chưa thành hình. Vậy ta phải gây lấy một nền dư luận trước đã. Việc đó không phải là việc dễ. Dân ta đương vào buổi dở dang, mới cũ giao nhau, khó lòng mà biết được cái ý kiến chung của quốc dân thế nào. Phàm những vấn đề quan trọng ngày nay, thuộc về chính trị, giáo dục, kinh tế, xã hội, mỗi người xét ra một cách, mỗi người hiểu ra một đường, mà phần nhiều người thì hãy còn mang nhiên chưa giải đầu đuôi ra làm sao. Ấy là nói bọn thượng lưu trí lhức, không kể những bậc trung lưu hạ lưu, cái trình độ lại còn kém nữa. Như thế mà muốn hội ý kiến của phần nhiều người để gây thành một mối dư luận chung có thế lực trong nước, có thể ảnh hưởng đến các công việc nhớn đề khuynh hướng về một đường nào, thì thực là khó thay.
Tuy vậy nếu biết thi thố cho phải đường, cũng có thể thành được. Cốt nhất là nhà báo phải lập một cái chương trình phân minh, một cái chủ nghĩa nhất định, rồi cứ thi hành cái công “giáo dục” theo một chương trình, một chủ nghĩa ấy. Đương buổi quốc dân còn phân vân chưa biết theo đường nào là phải, ta nên suy xét trước sau mà quyết định lấy một cái đường lối chính đáng, cứ thế mà đi, không hề thay đổi. Phàm lập ngôn khởi luận cũng cứ theo một đường ấy, khiến cho quốc dân hằng phải chú ý vào đây, rồi tất có ngày khuynh hướng mà theo vào với ta. Như thế dần dần gây lên một cái tự trào, trước nhỏ sau nhớn, gồm cả những người cùng một ý kiến, cùng một tư tưởng như mình, tức là nhóm thành một nền dư luận về sau vậy. Đến khi cái dư luận ấy đã đủ có thế lực thì bấy giờ mới có thể mong ảnh hưởng đến cuộc sinh hoạt trong nước, mà giúp cho thực hành được những sự nghiệp hay.
Nhưng hiện nay dư luận chưa thành, trách nhiệm của nhà làm báo lại càng trọng lắm nữa. Buổi này mới là buổi nên hết sức thi hành cái công giáo dục như quan Toàn quyền đã khuyên bọn ta trong bài diễn  thuyết.
Dân An Nam ngày nay thực là đương gặp một cái cảnh ngộ đặc biệt. Vốn là một dân cổ, từ xưa vẫn có một nền văn minh học thuật riêng, dù sinh trưởng phát đạt trong một cuộc lịch sử mấy nghìn năm ; hốt nhiên phải ra đối đãi với một thế giới mới, xưa nay chưa từng biết bao giờ, thành ra mang nhiên không hiểu một tí gì, nhất thiết phải học cả, như người học trò mới vào trường. May nhờ có nhà nước Đại Pháp sang bảo hộ, đã phá đường mở lối cho lúc ban đầu, nên nay đã ràng rạng biết một đôi chút. Nhưng chẳng qua cũng mới có một phần ít người là được hưởng cái công giáo hóa của Nhà nước mà thôi. Còn phần nhiều người trong quôc dân, trinh độ hãy còn kém lắm, chưa hiểu được chính sách của Nhà nước, chưa biết những việc ích lợi nhà nước trù tính mưu toan cho xứ ta. Vậy thì cái nhiệm vụ tối thiết của các nhà báo là phải làm người đứng giữa mà giãi bày ban bố những mưu hay chước phải của Nhà nước cho phần nhiều người ấy được biết, cùng thay mặt quốc dân mà trinh bày cho Nhà nước rõ cái chân tình trong nước và những điều sở nguyện của người dân. Nếu các nhà báo biết khéo điều hòa trên dưới mà làm trọn được cái nhiệm vụ ấy thì cái công giúp cho việc chính trị không phải là nhỏ vậy.
Các nhà báo không những là có thể giúp cho việc chính trị ngay bây giờ, mà lại còn có thể mở đường cho việc chính trị về sau nữa. Bởi sao vậy? Quan Toàn quyền đã nói dân ta là một dân đương biến cải, mỗi ngày tất mỗi khác, mỗi ngày tất xuất hiện ra những vấn đề mới cần phải giải quyết cho xuôi. Nhưng nếu đợi cho đến khi những vấn đề ấy đã xuất hiện ra rồi mới tìm đường giải quyết thì kịp sao được? Đã hay rằng cái trách nhiệm của các nhà chính trị là phải dự liệu trước mọi việc, nhưng các nhà báo được trực tiếp với dư luận phải dọn đường mở lối sẵn thì nhà chính trị thi thố mới được ích lợi. Như thế thì cái công của các nhà báo đối với sự tương lai lại chẳng to tát lắm rư?
Nước Nam ta sau này hay hay dở các nhà báo cúng có một phần vào đây. Nếu ta biết khéo dùng cái nguyên động lực rất mạnh là tờ báo ngọn bút kia, như nhời quan Toàn quyền nói, mà gây thành được một cái dư  luận sáng suốt khôn ngoan, thông hiểu tình thế, giúp được cho cái công chính trị giáo dục của Nhà nước, thì ta mới trọn nghĩa vụ đối với chính phủ, đối với quốc dân, và xứng đáng cái thiên chức nhà làm báo vậy./.

Thượng Chi




[1] Xem Nam Phong, số 5, trang 340 - 346.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét