Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong cách báo chí Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong cách báo chí Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại của dân tộc, Người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam và dắt dẫn báo chí nước ta phát triển và trưởng thành.

Các phẩm chất tuyệt vời “đại nhân, đại trí, đại dũng” của Bác đều dành cho cách mạng-vì dân tộc và nhân loại cần lao. Là nhà cách mạng lỗi lạc, lại được xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa uyên thâm, bản thân lại có năng khiếu bẩm sinh về báo chí và văn chương, Người đã sử dụng báo chí (và văn chương) làm một thứ vũ khí sắc bén trong hoạt động cách mạng. Các tác phẩm của Người có giá trị to lớn về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Riêng về báo chí, kể từ năm 1919 cho đến năm 1969, Bác Hồ đã viết hơn 2000 bài báo, thuộc nhiều thể loại, với nhiều bút danh, tạo nên một phong cách đặc sắc-phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là sự tổng hòa những đặc điểm độc đáo, sinh động và giàu tính thẩm mỹ về tư tưởng, đạo đức, về đề tài, thể loại, kết cấu và văn phong, cũng như các hình thức thể hiện trong các tác phẩm báo chí của Bác. Cơ sở tư tưởng của phong cách báo chí Hồ Chí Minh là: Vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, kết hợp với đạo đức cao cả và trong sáng của Người là: “Cần-kiệm-liêm-chính, chí công vô tư”. Đấy cũng là mục đích, là nội dung khái quát các tác phẩm báo chí của Bác Hồ.

Đề tài các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh rất đa dạng. Bác không viết chuyên sâu về một đề tài, như nhiều nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp. Bác không bỏ qua một đề tài nào, một vấn đề nào, một sự việc nào liên quan đến đời sống của nhân dân ta và cách mạng quốc tế. Bác viết về mọi đối tượng: Về ta, về bạn, về địch. Đề tài quan trọng, tập trung nhất của Bác là viết về ta. Bác viết về mọi tầng lớp nhân dân: Nam, phụ, lão, ấu, về công-nông-binh-trí thức, những người buôn bán, những người theo các loại tôn giáo và các nhà tư sản dân tộc có lòng yêu nước thương nòi-để kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”! Bác đi vào những đề tài thiết thực nhất đối với nhân dân và đất nước.

Viết về “Đời sống mới”, Bác chỉ ra những nội dung cụ thể, là: “Sốt sắng yêu Tổ quốc”, “Sẵn lòng công ích”, cho đến cách ăn mặc, làm việc, biết cư xử và “biết ham học”, v.v.. Bác viết về Tết Trung thu, sức khỏe và thể dục, bình dân học vụ, “Đạo đức công dân”; “Tìm người tài đức” phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc, cho đến các vấn đề của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, v.v..

Thể loại báo chí của Bác rất phong phú. Bác vận dụng mọi hình thức thể loại để biểu đạt nội dung, nhằm mục đích: “Giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” (Lời Bác trong bài “Cách viết”, 8-1953). Từ các bài nói, bài viết, bài thơ, các bức thư (đăng báo) cho đến các thể tài tin, bài, phóng sự, ký sự, bút ký hay tùy bút (chủ yếu Bác viết vào những năm 20 của thế kỷ XX) được Bác dùng xen kẽ, kết hợp với nhau, tuy Bác không ghi là “phóng sự”, “ký sự”, “bút ký” hay “tùy bút” dưới nhan đề bài viết của mình.

Nếu chỉ căn cứ vào lý luận về thể loại theo cách hiểu cũ, rập khuôn, máy móc, sẽ không thể hiểu hết được các vấn đề hình thức thể loại của các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh. Nói cách khác, là một nhà báo vĩ đại, kỳ tài, Bác Hồ không lệ thuộc vào hình thức thể loại của bài viết, chỉ cốt trình bày tốt nhất nội dung, thể hiện rõ nhất chính kiến của mình. Vì vậy, Người đã sáng tạo, bổ sung, đem lại nhiều vấn đề mới mẻ, độc đáo và khoáng đạt cho lý luận về thể loại của tác phẩm báo chí ngày nay và trong tương lai-kể cả ở Việt Nam và thế giới. Thường là Bác kết hợp một vài thể loại trong bài viết của mình, tạo nên một sắc diện tươi tắn, sinh động và biến hóa cho tác phẩm, nhằm làm cho quần chúng “nhớ được”, “hiểu được” và “làm được” (chữ Bác dùng). Bác nói: “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần làm cho mọi người thấy được nhiều loài hoa đẹp” (trích bài “Cách viết”).

Kết cấu bài viết của Bác chặt chẽ, gọn gàng. Bác thường vào đề bằng lời trực tiếp. Nhiều bài viết của Bác không phải cứ theo khuôn mẫu: Mở bài, thân bài và kết luận, mà chỉ có hai phần: Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Ngay trong phần đặt vấn đề, cũng đã có ý giải quyết vấn đề, nhưng ý tứ rất rõ ràng, mạch lạc. Mỗi phần trong một bài, Bác chỉ nêu một, hai ý lớn; mỗi ý được diễn đạt bằng một, hai câu hoặc đoạn văn ngắn gọn.

Văn phong của Bác đa dạng, thể hiện bộ óc thông minh trác tuyệt, tâm hồn lộng gió thời đại và sự am hiểu văn hóa Đông-Tây, kim-cổ của Người vô cùng sâu rộng. Viết về kẻ địch, Bác thường dùng lối văn châm biếm ý nhị nhưng ý tứ rất sâu xa, sắc sảo, thông minh đến kỳ lạ; văn phong vừa có tính chất báo chí, vừa có tính chất nghệ thuật văn chương. Viết về ta, viết cho quần chúng nhân dân, Bác lại dùng lời văn nôm na, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ của dân tộc, diễn đạt theo cách nói, cách nghĩ, cách cảm của quần chúng.

Các tác phẩm báo chí của Bác thường rất ngắn, viết “thiết thực” và kịp thời, không lạm dụng tiếng nước ngoài. Nét độc đáo này cũng xuất phát từ định hướng tư tưởng: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?” của Bác. Phê phán cái lối viết “rau muống”, nghĩa là tràng giang đại hải, làm cho người đọc như bị “chắt chắt vào rừng xanh”, Bác dạy các nhà báo: “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt”, vì “trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu” (trích bài “Cách viết”).

Bác không lạm dụng tiếng nước ngoài, mặc dù Người thông thạo nhiều ngoại ngữ. Bác nói: “Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia”. Bác dạy: “Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng”. Bác khuyên các nhà báo phải “học cách nói, tiếng nói của quần chúng”, và chính Bác đã làm gương về mặt này. Vì thế, ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh rất giản dị, trong sáng, đậm đà tính dân tộc.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời của báo chí cách mạng nước ta 87 năm qua và còn mãi mãi, có tiếng vang lớn đối với báo chí quốc tế. Những tác phẩm báo chí bất hủ của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tạo nên phong cách báo chí Hồ Chí Minh, có sức mạnh lớn lao động viên nhân dân làm nên những thành tựu huy hoàng của cách mạng Việt Nam, trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, tạo dựng vị thế Việt Nam trên thế giới, khích lệ chúng ta vững bước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay./.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh và phong cách báo chí Ngô Tất Tố



1. Đôi nét về diện mạo báo chí và tình hình sử dụng tiểu phm trên báo chí Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Bước vào thế kỷ XX, Việt Nam có khoảng 10 tờ báo cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp và chữ Hán. Trong những năm đầu thế kỷ như đã nói báo chí do người Pháp làm chủ bởi luật pháp thời thuộc địa bấy giờ không cho người bản xứ làm báo. Tuy nhiên như quy luật phát triển, dần dà cũng có những tờ báo “lách luật” để có những cú lội ngược dòng trong sự “bóp cổ” báo chí bản địa của chính quyền thực dân. Đến đầu những năm 20 của thế kỷ XX, đã dần định hình một nền Báo chí Việt Nam. Bên cạnh những tờ báo thời sự chính trị xã hội, đã có báo chí văn hóa văn nghệ, báo chí kinh tế, báo chuyên ngành, chuyên giới.
Chiếm dòng chủ lưu trong báo chí thời gian này là những cơ quan chuyên lo việc tuyên truyền, tô điểm cho chế độ thực dân, kêu gọi nhân dân hợp tác với nhà cầm quyền. Những tiếng nói phản kháng tuy đã có cất lên song vẫn còn rất yếu ớt và luôn luôn bị bóp nghẹt. Tuy nhiên những tiếng nói này lại biểu thị một ý thức dân tộc đang tự khẳng định qua những khuynh hướng yêu nước thương nòi, đòi quyền dân chủ, lên án chế độ cai trị hà khắc và bất công xã hội... Đó là tín hiệu báo trước sự xuất hiện tất yếu của một nền báo chí cách mạng.
Nói cách khác, lịch sử đòi hỏi và đã hội đủ những tiền đề cho sự ra đời một tờ báo cách mạng. Nhưng tờ báo ấy chỉ có thể thực hiện và lưu hành bí mật. Đó chính là điều Nguyễn Ái Quốc đã rút ra khi Người sáng lập báo Thanh Niên, số 1 ra ngày 21/6/1925 và từ nước ngoài đưa về lưu hành bí mật trong nước.
Trở về nước để chỉ đạo cách mạng sau bao nhiêu năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sáng lập tờ Việt Nam Độc lập với mục đích Kêu gọi nhân dân trẻ với già - Đoàn kết vững bền như khối sắt - Để cùng nhau cứu nước Nam ta.
Với sự ra đời của báo Cứu Quốc, cơ quan của Tổng bộ Việt Minh (số 1 ra ngày 25/1/1942); của tờ Cờ Giải Phóng, cơ quan tuyên truyền cổ động của Đảng (ngày 10/10/1942), của Tạp chí Cộng sản chuyên về lý luận cùng với nhiều tờ báo khác ở các địa phương hoặc của các đoàn thể, báo chí càng mạnh mẽ dấn thân vào tiến trình cách mạng.
2. Phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh
a). Về sự nghiệp báo chí cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sự nghiệp báo chí Hồ Chí Minh có thể nói gắn chặt với sự nghiệp cách mạng của Người. Hoạt động báo chí không tách rời hoạt động cách mạng và hu hết các tác phẩm báo chí, hoạt động báo chí của chủ tịch Hồ Chí Minh không ngoài mục đích phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Chính Người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam.
a). Sự độc đáo trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh
Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhận mình là một cây bút tiểu phẩm. Trong kho tàng báo chí đồ sộ của Người, thể loại tiểu phẩm chiếm số lượng nhiều hơn cả. Chỉ riêng trên báo Nhân dân từ năm 1950 đến năm 1969 đã có 1200 tác phẩm báo chí thuộc thể loại tiểu phẩm. Trong các tiểu phẩm của mình, Người chủ yếu tập trung vào chủ đề vạch rõ tội ác của bọn thực dân. Qua ngòi bút linh động của Người, bộ mặt chủ nghĩa thực dân đế quốc và chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn chủ nghĩa đế quốc đã hiện lên với tất cả tội ác, sự dã man đối với xứ thuộc địa nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.
Trên bình diện nội dung của các tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh, chúng ta có thể chia ra làm hai giai đoạn khác nhau là giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 và giai đoạn sau cách mạng.
Một điều đáng chú ý trong giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 là giai đoạn Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Pháp. Sự thâm nhập của ngôn ngữ và văn hóa Pháp đã tạo nên tính hài, tính châm biếm trí tuệ như một nét đặc thù của tính cách Pháp. Cũng vậy mà các tiểu phẩm của Người trong giai đoạn này rất đáng được nghiên cứu.
Sau Cách mạng tháng 8, Người vẫn tiếp tục quan tâm tới công tác báo chí, cả viết báo lẫn quản lý báo chí. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đều đặn viết cho các báo Sự thật, Nhân dân, Cứu quốc... Nội dung tiểu phẩm trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào giáo dục đạo đức cán bộ, phê phán những thói hư tật xấu vẫn còn tồn tại ở một bộ phận cán bộ. Cạnh đó tiểu phẩm Hồ Chí Minh tiếp tục vạch trần âm mưu, tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng. Sau Cách mạng tháng 8, tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh có thể nói tập trung vào hai mảng chính là tiểu phẩm tuyên truyền giáo dục và tiểu phẩm chính trị.
b). Độc đáo ở việc vân dung sáng tạo các thủ pháp của nghệ thuât sáng tác văn hoc vào tiểu phẩm.
Bước ra khỏi những khuôn mẫu để có những sự phá cách, “xé rào” là những điều làm nên sự sáng tạo trong viết tiểu phẩm. Sự sáng tạo ấy lại đuợc chắp cánh khi tìm ra một hình thức thể hiện hiệu quả nhất dù nó là văn học hay báo chí chính luận.
Nguyễn Ái Quốc trong tiểu phẩm đã vận dụng một cách sáng tạo các thủ pháp và phương tiện nghệ thuật của sáng tác văn học. Điều này bộc lộ rõ ở hai khía cạnh chính, đó là mạch nguồn và của văn học dân gian và sự “xâm lấn thể loại” theo cách gọi của PGS.TS Phạm Thành Hưng. Chúng ta dễ dàng tìm thấy tính chất điển tích, điển cố - một tập quán của văn học Việt Nam trong sáng tạo tiểu phẩm của Người. Vậy nên tiếng cười của tiểu phẩm học và văn hóa dân gian.
c). Độc đáo trong sử dụng ngôn từ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là một nhà văn hóa và là một con người có tri thức uyên thâm, cả về Hán học và tri thức Tây học. Vậy nhưng trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm tiểu phẩm thì ngôn ngữ không được dung như một sự “khoe mẽ” kiến thức, mà nó đã được chuyển hóa thành “Ngôn ngữ bình dân” một cách giản dị, dễ hiểu với vốn từ Việt nôm na được dung một cách đúng hoàn cảnh. Sử dụng ngôn ngữ bình dân là một trong những đặc điểm dễ nhận thấy trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh. Nếu làm một phép thống kê thông thường thì trong hầu hết các tiểu phẩm của Bác, tần suất xuất hiện lớp ngôn ngữ “nôm na, dân giã” này rất cao, kể cả trong những tiểu phẩm chính trị.
Cạnh đó ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ khẩu ngữ không chỉ được sử dụng ở tần suất cao mà sử dụng một cách hết sức sáng tạo với những kết nối ngôn từ linh động, thông minh và vô cùng bất ngờ. Sự xuất hiện các động từ như “láo” kết hợp với các tính từ để nâng mức độ, cấp độ bản chất lên nhiều lần như “láo toét”, “láo xược”... để vạch trần những âm mưu của kẻ thù.
Việc phiên âm tiếng nước ngoài, đặc biệt là phiên âm tên người, nhất là tên giới cầm quyền một cách cố ý theo dụng ý châm biếm cũng là một đặc điểm sáng tạo trong ngôn ngữ tiểu phẩm của Hồ Chí Minh. Chẳng hạn tổng thống Mỹ Ai- xen- hao được Bác rút gọn lại là “Tổng Ai”, rất ít khi Bác gọi đầy đủ là Tổng thống, mà chỉ gọi là “tổng” với cái tên phiên âm có dụng ý mai mỉa phía sau như một bổ ngữ. Chẳng hạn “Mấy lời thành thật ngỏ cùng tổng Ai”. Ai ở đây chính là Ai-xen- hao nhưng bởi tính đa nghĩa của từ tiếng Việt sau khi phiên âm, “Ai” cũng có thể hiểu “xiên xẹo” là “bi ai” buồn phiền, khổ não, và “Ai” cũng là một đại từ nghi vẫn hỏi người. Nixơn phó tổng thống Mỹ thì bị lược lại thành “Nix” trong tiểu phẩm “Gửi Mr. Nixơn, phó tổng thống Mỹ”. Dòng mở đầu là một câu văn “dở tây dở ta” rất gây ấn tượng: “Alo. Mr Nix! You đến Sài Gòn với mục đích gì?”…
Nghệ thuật chơi chữ cũng là một nét tài hoa trong phong cách tiểu phẩm Hồ Chí Minh. Đó là việc tạo ra sự tương phản giữa các từ đồng âm khác nghĩa, là sự kết hợp các tổ hợp từ, là việc phiên âm tiếng nước ngoài. tất cả đều xuất hiện một cách cố ý, dày đặc trong khối lượng tiểu phẩm độ sộ của Người.
d). Độc đáo trong cách rút tít cho tiểu phâm.
Với một trình độ điêu luyện Người đã rất chú ý đến nghệ thuật đặt tít cho các tác phẩm tiểu phẩm của mình. Đa phần những tít báo của Bác ở thể loại tiểu phẩm đều rất ngắn gọn súc tích chứa đựng một lượng thông tin tối đa mà vẫn hấp dẫn bạn đọc bởi sự bất ngờ, duyên dáng của nó. Nhiều nhà nghiên cứu thống kê trung bình tít mỗi bài tiểu phẩm của Bác chỉ bao gồm bốn từ, có tít chỉ vọn vẹn một từ, cá biệt trường hợp bẩy đến tám từ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi giật tít thường tìm những phương tiện từ vựng, ngữ pháp thích hợp nhất nhằm tiết kiệm lời và tăng lượng thông tin cho bài.
Đó là tạo sự cân xứng, đối lập trong mệnh đề. Chẳng hạn có tít bài Người viết: “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn” (Nhân dân số 194 từ ngày 13 đến 15/6/1954); “Mỹ thú Mỹ thua” (Nhân dân ngày 1/2/1956). Đôi khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng cả nối nói tắt trong hội thoại: “Mỹ thua to, Xô thắng lợi”, “Tổng Ken dại dột”. Một sự sáng tạo khác trong cách giật tít của Bác là sự chơi chữ tương phản trong cùng một tít báo. Hình thích đặt hai tự điệp âm, láy âm gần nhau cũng là một trong những ví dụ đáng quan tâm. Chẳng hạn như: “Xa lăng xa lù” (Nhân dân 20/3/1952)- “xa lù” là phiên âm tiếng Pháp có hàm nghĩa mắng chửi. “Đế quốc Mỹ bi và bí” (Nhân dân 29/12/1957).
3. Tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố.
a). Sơ lược tiểu sử tác giả Ngô Tất Tố.
Ngô Tất Tố, sinh năm 1894 tại quê gốc: làng Lộc Hà, Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là xã Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước cách mạng, Ngô Tất Tố làm nhiều nghề: dạy học, bốc thuốc, làm báo, viết văn; từng công tác với nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Phổ thông, Đông Phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Hà Nội Tân văn, Thực nghiệp, Tương lai, Thời vụ, Con ong, Việt Nữ, Tiểu thuyết thứ ba...
Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia ủy ban Giải phóng xã (Lộc Hà). Năm 1946: Gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Ngô Tất Tố mất ngày 20/4/1954 (tức 18/3 năm Giáp Ngọ) tại Yên Thế, Bắc Giang.
Ngô Tất Tố có một khối lượng các tác phẩm khá đồ sộ bao gồm các tác phẩm đã xuất bản, nhà văn đã được nhận hai giải thưởng trong giải thưởng văn nghệ 1949-1952 của Hội Văn nghệ Việt Nam: Giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác). Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt I, 1996).
b). Ngô Tất Tố nghề văn và nghiệp báo.
Đặc điểm nổi bật trong sự nghiệp báo chí của Ngô Tất Tố là ông viết nhiều thể loại, trong đó tiểu phẩm báo chí và phóng sự là hai thể loại nổi tiếng nhất của ông. Ông phụ trách nhiều chuyên mục của nhiều tờ báo hằng ngày và hằng tuần. Chuyên mục nào ông cũng nêu rõ chủ trương về nội dung và hình thức để các cộng tác viên theo đó mà tham gia viết bài cho chuyên mục.
Là một nhà văn, một người có vốn Hán học uyên thâm và cũng biết chữ Pháp cũng như uyên thâm về văn hóa nên tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố cũng rất giàu tính văn học và sử dụng các thủ pháp văn học một cách nhuẫn nhuyễn để tạo tính hấp dẫn và sức thuyết phục cho các tác phẩm tiểu phẩm.
c). Nội dung tiểu phm báo chí Ngô Tất Tố
Dù ở giai đoạn nào thì tiểu phẩm Ngô Tất Tố cũng là một bức trang tổng thể, rộng lớn phản ánh chân thực cảnh sống khốn cùng của những người nông dân ở các vùng nông thôn, vạch rõ những tai ương, những bất công ngang trái của chế độ thực dân phong kiến ở nước ta những năm trước cách mạng tháng 8.
Ngô Tất Tố ngay từ đầu những năm 30 đã đứng vững trên lập trường chủ nghĩa hiện thực phê phán để phản ánh thực trạng cuộc sống nên tiểu phẩm của ông giàu tính hiện thực, luôn gắn bó với quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy bên cạnh việc lên án một cách mạnh mẽ, kết tội bè lũ thực dân cướp nước cùng bọn vua quan phong kiến bán nước, Ngô Tất Tố còn dành nhiều tâm huyết trong các tiểu phẩm phản ánh về nối thống khổ của các tầng lớp nông dân lao động ở thôn quê đang bị bao vây bởi những hủ tục lạc hậu cùng với các thủ đoạn bóc lột tàn ác của giai cấp thống trị. Từ đó ông lên tiếng mạnh mẽ và tìm cách bênh vực quyền lợi cho họ.
d). Những đặc trưng và sự sáng tạo trong tiểu phm Ngô Tất Tố.
+ Sử dụng có hiệu quả bút pháp trào phúng, châm biếm.
Với Ngô Tất Tố là giọng điệu trào phúng thâm thúy sâu cay vừa có tính triết lý vừa là những suy nghĩ về thói đời ngang trái và chỉ ra hàng chục, hàng trăm thứ dởm đời khôi hài ở bọn cầm quyền, lừa đảo, trọng phú.
Ngòi bút châm biếm của Ngô Tất Tố còn có nhiều giọng điệu khác nhau. Lúc thì tấn công trực diện, lúc thì vận dụng cách nói gián tiếp mỉa mai sây cay những mặt trái, bất công trong đời sống xã hội.
+ Sự độc đáo về việc sử dụng giai thoại, điển tích trong tiểu phâm
Một trong những yếu tố tiếp nhận ảnh hưởng từ văn học vào các tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố là tính chất giai thoại, điển tích trong các tiểu phẩm. Ngô Tất Tố thường sử dụng điển tích từ kho tàng tri thức Hán học để vận dụng một cách linh động vào các trường hợp hoàn cảnh khác nhau để qua đó làm sáng tỏ các sự kiện và tăng tính hấp dẫn, thuyết phục cho sự kiện.
+ Nghệ thuật sử dung ngôn từ trong tiểu phẩm Ngô Tất Tố
Đầu tiên phải kể đến sự khéo léo, tài tình trong nghệ thuật đặt tít. Hàng loạt những tít cho tiểu phẩm như “Đã dại thì thôi định hùn ai”, “Vừa chạy vừa quay cổ lại, vừa quay cổ lại”, “Mạ lại tin tức”, “Ai bảo quan sĩ xứ mình không gan”, “Đại hiền nói dối”, “Có mà kiện lên thiên đình”, “Đen đỏ đỏ đen”, “Ngắn hai dài một”, “Hitle và con gà mái Biên Hà”, “Còn chờ gì nữa mà chưa giải tán Hội dân biểu, trò nhố nhăng” .
Ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố đã kết hợp được nét sắc nhọn mạnh mẽ của ngôn ngữ báo chí với chất thâm thí, nhuần nhị, hàm súc của ngôn ngữ văn chương. Ngôn ngữ tiểu phẩm Ngô Tất Tố không chỉ biểu đạt những ý tưởng một cách thông thường mà còn tham gia trực tiếp vào việc xây dựng và kiến trúc nội dung trong tiểu phẩm.
Ngôn ngữ tiểu phẩm Ngô Tất Tố là một sự kết hợp đầy ngẫu hứng của một con người đầy trải nghiệm vốn kiến thức phong phú của Hán học, văn học dân gian và cả ngôn ngữ hiện đại. Vậy nên sự diễn đạt trong các tiểu phẩm gần như không có sự lặp lại của một cấu trúc văn bản và ngôn từ có tính khuôn mẫu. Chỉ có điều trong cách giật tít, mặc dầu hấp dẫn những các âm tiết hơi nhiều. Tít tiểu phẩm của Ngô Tất Tố chủ yếu từ 4 tâm tiết trở lên, có tiểu phẩm dài đến 12 âm tiết như : “Nếu vậy thì Ích hữu ái quốc thư xã lâu rồi” in trên báo Đông phương năm 1931.
Trong việc sử dụng từ ngữ, ngoài sự điềm đạm của một người có kiến thức và văn hóa, đôi lúc ta còn thấy Ngô Tất Tố còn sử dụng “ngoa ngôn” theo đúng nghĩa đen để bày tỏ những cung bậc tình cảm qúa sức chịu đựng trước những thói đời giả dối. Lúc này sự “điềm đạm” tạm nhường chỗ cho những ngôn từ hơi “cay độc” , “ngoa ngoắt” nhưng rất “đáng đồng tiền bát gạo” khi “vận” vào những tình huống phải buộc phải chửi như thế mới đau.
Ngôn ngữ của Ngô Tất Tố không có tính ám chí, mà đã chửi ai, đánh ai là.đánh trực diện, đánh đích danh. Đây không đơn thuần chỉ là một cách diễn đạt, mà ngôn ngữ sử dụng đã thể hiện bản lĩnh, chất kiêu hàng của người làm báo. Và theo cách này thì ngôn ngữ đã là một phần không thể thiếu góp phần quan trọng kiến tạo nên chất tiểu phẩm, tính chiến đấu trong nội dung tiểu phẩm báo chí Ngô Tất Tố.
Trên bình diện đặc trưng, cấu trúc và nghệ thuật viết tiểu phẩm của nhà báo Ngô Tất Tố chúng ta còn thấy sử dụng các thủ pháp đặc trưng khác như tính tự sự của văn học. Mỗi một tiểu phẩm có cấu trúc chặt chẽ, có nhân vật, có hình tuyến, có cả hoàn cảnh điển hình trong một không gian và thời gian thực và ảo. Tất cả những điều nói trên đã tạo thành một phong cách tiểu phẩm khó lẫn vào ai và tạo dựng nên một tên tuổi Ngô Tất Tố trong dòng chảy của lịch sử báo chí Việt Nam. Một tên tuổi tiểu phẩm hang đầu của thế kỷ XX không dễ gì có sự thay thế.
*
Tiểu phẩm báo chí của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố trong thế kỷ XX, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ có thể nói là một bộ phận chuẩn mực về thể loại của nền báo chí Việt Nam. Đây là những quả bom tấn trên mặt trận văn hóa tư tưởng tấn công trực diện và có hiệu quả vào chủ nghĩa thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai bán nước. Cùng với đó là tiếng nói đấu tranh cho những bất công ngang trái trong xã hội để bảo vệ và đứng về những người dân lương thiện bị áp bức bót lột. Không chỉ chuẩn mực trên bình diện nội dung mà hình thức tác phẩm và nghệ thuật viết tiểu phẩm của Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố cũng đạt đến độ chuẩn mực bằng tất cả sự độc đáo từ kết cấu, nghệ thuật đặt tít, dùng từ đến việc vận dụng nhuần nhuyễn các thủ pháp văn học khác trong sáng tạo tiểu phẩm báo chí.

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014

Hồ Chủ tịch viết về tình hình báo chí ở An Nam đầu thế kỷ XX



BÁO CHÍ[1]
…Những điều tôi sẽ kể về báo chí An Nam nó kỳ dị quá đến nỗi khó mà tin được. Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi. Lý do như thế này. Chính quyền Pháp quyết định rằng không một tờ báo bằng tiếng An Nam nào được xuất bản nếu không được viên toàn quyền cho phép, rằng họ chỉ cho phép với điều kiện là bản thảo đưa đăng phải trình viên toàn quyền duyệt trước đã, và giấy phép ấy họ thu hồi lúc nào cũng được. Tinh thần bản sắc lệnh về báo chí là như thế đấy (Chúng tôi bị cai trị bằng chế độ sắc lệnh do viên toàn quyền ban bố chứ không phải bằng những đạo luật đã được thảo luận và biểu quyết ở nghị viện). Trên thực tế còn tệ hơn nữa. Mãi đến bây giờ, chưa có người An Nam nào được phép xuất bản một tờ báo cả.
"Người ngồi đó với cây chì đỏ/vạch đường đi từng bước từng giờ" (Tố Hữu)
Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hoá và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế, thì ở Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy.
Ngay cho đến cả những tờ thông tin thuần tuý về kinh tế và thương mại, người ký giả bản xứ cũng chỉ xin được phép bằng những biện pháp quanh co. Anh ta phải thuê tiền một người Pháp có địa vị và được kính nể. Ông này đi gặp quan cai trị và xin phép cho ông ta, là người Pháp. Vì ông ta vẫn sẽ là sáng lập viên của tờ báo, mặc dầu ông chẳng biết một tiếng An Nam nào gọi là có, ông chẳng phải bỏ tiền túi ra lấy một xu nhỏ, chẳng phải đụng tí gì đến công việc của tờ báo cả trừ việc đi gặp viên quan cai trị. Chỉ việc cho mượn tên mình, người Pháp kia nhận được hằng tháng một số tiền rất hậu mà người ký giả bản xứ phải trả cho ông lâu dài, báo còn ra là còn phải trả.
Trước khi đưa đi nhà in, tất cả các bài báo phải dịch ra tiếng Pháp và đưa kiểm duyệt đã. Cấm ngặt những tờ thông tin ấy không được đả động gì đến những vấn đề chính trị hay tôn giáo, mà chỉ được đăng những tin tức thông thường, những vấn đề xét ra có lợi cho Nhà nước. Khi đất nước bị một thiên tai nào, lụt lội, bão táp, đói kém, v.v., phòng kiểm duyệt cấm báo không được cho dân chúng biết những tin “không vui” ấy, cấm báo không được mở lạc quyên giúp những người bị nạn. Báo không có quyền nói gì, dù chỉ bóng gió, đến việc bầu cử hội đồng thuộc địa hay hội đồng hàng tỉnh. Có một tờ, dịch ra tiếng An Nam đạo luật cấm những hành vi hối lộ trong việc tuyển cử, đã bị kiểm duyệt trắng mất nửa tờ báo mà còn bị khiển trách thêm nữa. Nhiều khi người ta cấm cả dịch đăng những bài đã đăng ở các báo tiếng Pháp xuất bản ở Đông Dương.
Các bạn chớ tưởng rằng mấy tờ báo thông tin khốn khổ ấy được tự do phân tích tất cả những cái thuộc về kinh tế. Chẳng hạn, họ không được nói đến đời sống đắt đỏ, đến việc mất mùa, đến việc buôn gian bán lậu của bọn con buôn người Âu, đến việc xoay xở tiền nong bất lương của bọn quan cai trị, đến những vụ đầu cơ đê tiện của bọn chủ đồn điền và chủ nhà máy người da trắng. Vừa rồi, người ta cấm báo chí không được đả động đến việc Chính phủ nhượng quyền kinh doanh hải cảng Sài Gòn, nếu không phải để tán dương công đức của công ty độc quyền và lòng vô tư của Chính phủ. Có một tờ cũng đã “tán dương”, nhưng kém nhiệt tình, nên phòng kiểm duyệt trước hết đã theo dõi bí mật, rồi đóng cửa hẳn tờ báo ấy.
Những người vào làng Tây, được hưởng quyền công dân Pháp, có thể xuất bản báo, nhưng chỉ bằng tiếng Pháp mà thôi - ở Nam Kỳ có 5, 6 tờ báo vào loại ấy. Ở các vùng khác, không có tờ báo nào, vì không có hay có ít người vào làng Tây. Trong số các cơ quan ngôn luận ấy - thường là bán nguyệt san - có hai hay ba tờ có khuynh hướng quốc gia hợp pháp. Ghép hai tính từ trái ngược nhau ấy với nhau, có thể kỳ dị đấy và cần giải thích đôi chút. Những tờ báo này là của bọn tư sản bản xứ mới lên, có địa vị là nhờ ở nền đô hộ Pháp. Nền đô hộ ấy đã sinh ra bọn này, nhưng lại không để cho họ phát triển. Vì vậy, tầng lớp tư sản nhỏ bé đó bị ngạt thở trong phạm vi chật hẹp và phụ thuộc mà quan thầy ngoại quốc - cha đỡ đầu của họ - đã dành cho họ. Và vì thế, họ hờn mát nhưng cũng nhè nhẹ thôi. Bởi thân phận nửa dơi nửa chuột của họ, chẳng thuộc hoàn toàn trong xã hội An Nam vì họ là những người vào làng Tây, mà cũng chẳng thuộc trong tầng lớp “quý tộc” Tây vì họ xuất thân ra là người An Nam - nên họ cảm thấy lúng túng trong mọi việc. Đồng thời trong mọi hành động và tư tưởng của họ, đều thấy cái mâu thuẫn xã hội và tâm lý ấy. Báo của họ chỉ trích những vụ hà lạm, nhưng lại phỉnh nịnh những kẻ hà lạm; họ than phiền về những đạo luật đè nén áp bức, nhưng vẫn cậy thế vào nước mẹ; họ mủi lòng cho số phận khốn khổ của người An Nam, nhưng vẫn ca tụng công đức mơ hồ của một nền khai hoá tốt đẹp hơn. Họ muốn chữa bệnh, nhưng lại không dám tìm và tấn công vào nguồn gốc của bệnh.
Ảnh hưởng của họ bị cản trở mọi đường:
a) Vì chính sách ngu dân như các bạn đã biết, nên độc giả chỉ có một dúm người rất hạn chế. Mỗi số phát hành không bao giờ quá một hay hai nghìn bản, ấy thế mà bán không hết.
b) Vì thái độ lừng chừng, vì không có chương trình cụ thể, không có kế hoạch rõ ràng, không có khuynh hướng mạnh dạn, nên mấy tờ báo ấy không thu hút được cảm tình của dân chúng. Họ ngả nghiêng, hay đúng hơn, lơ lửng giữa dân chúng mà họ không gần gũi được và những kẻ thống trị không ưa họ.
c) Nhà nước thuộc địa cố tâm phá phách họ. Họ bị phá bằng nhiều cách. Sau đây là những cách thông thường nhất:
1. Nhà nước báo cho công chức và nhân viên người bản xứ biết rằng cấp trên đã coi những tờ báo ấy như làm cách mạng, rằng những người nào đọc những báo đó sẽ bị ghi danh sách riêng, và dĩ nhiên là bản danh sách ấy sẽ đính theo báo cáo thăng hay giáng chức.
Có nhiều công chức đã bị bắt buộc phải đổi đi chỗ khác hay bị bắt về hưu chỉ vì đã vi phạm những điều răn đe ấy.
2. Đối với những độc giả không phải là công chức (tôi nói không phải là công chức chứ không nói tự do, vì ở đất nước chúng tôi không ai được tự do cả, trừ bọn xỏ lá ba que ra) thì viên quan cai trị cho gọi họ đến bàn giấy, ân cần khuyên bảo họ điều hơn lẽ thiệt.
Nếu họ không biết nghe những lời khuyên tử tế ấy, thì họ bị cảnh sát theo dõi. Và cứ mười lần thì có đến chín, báo chí và thư từ của họ bị thất lạc như bị phép thần. Chính phủ hãy tạm vui lòng như thế trong lúc chờ đợi cơ hội để tóm cổ họ vì lẽ này hay lẽ khác.
3. Chính phủ cho bọn chủ nhà in lựa chọn nên làm việc cho một tờ báo "tin vịt không biết điều" được ít tiền, hay nên nhận in cho Nhà nước được lợi lộc và bảo đảm hơn nhiều.
Vì thế, một tờ báo ở Sài Gòn đã buộc phải đổi chủ in nhiều lần trong một tháng.
4. Chính phủ vi phạm quyền tự do thư tín, ngay cả thư riêng của các ký giả. Những người này bị “ghi” vào sổ đen, bị theo dõi, dò la, do thám và vu cáo. Chính phủ dùng cả áp lực đối với gia đình, bà con thân thuộc và bè bạn họ nữa. Chỉ nhờ địa vị có làng Tây và nhờ mánh khoé khôn khéo kết thúc mọi bình luận bằng cách nịnh hót tâng bốc hết mức nước mẹ bảo hộ, nhân từ, thiêng liêng, v.v. mà họ thoát khỏi đi tù.
Báo chí bản xứ bằng tiếng Pháp bị phá phách như vậy đấy. Những hành vi bất hợp pháp của lối trị an đê hèn ấy còn được tăng cường và bổ sung thêm bằng những điều lệ pháp lý như thế này: “Mọi việc trưng bày hay gửi đi nơi khác những bài hát, bức hoạ hay tranh ảnh trái đạo tôn kính đối với các vị đại diện của Nhà nước, sẽ bị trừng phạt bao nhiêu tháng tù và phạt tiền bao nhiêu phrăng đó, v.v.”.
Chưa hết đâu. Nền văn minh của thực dân đã dùng ngọn đuốc cổ truyền thủ tiêu đến chút tự do cuối cùng của người bản xứ. Đã làm cho người bản xứ phải đần độn và câm, chúng vẫn chưa vừa lòng; chúng còn muốn họ phải điếc nữa kia. Chúng bịt tai họ không cho họ nghe tiếng vang của những biến cố bên ngoài. Chỉ đơn giản bằng một nét bút, chúng đình chỉ hẳn đời sống tinh thần của cả một dân tộc. Cũng sắc lệnh vừa kể trên định rằng: “Sự lưu hành báo và tạp chí bất cứ bằng tiếng gì, có thể bị cấm do một nghị định của quan toàn quyền”. Các bạn có tin chắc rằng quan toàn quyền nhân từ chẳng sơ suất gì mà không dùng và lạm dụng quyền hành ấy. Báo chí bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pari, gửi sang đều bị tịch thu ở Đông Dương. Sở bưu chính, sở mật thám và các cơ quan hành chính cùng nhau làm nhiệm vụ đê hèn ấy. Và người ta doạ trừng phạt những người có tên nhận những tờ báo ấy. Người ta cấm ngặt không cho đọc báo Nhật và Trung Quốc. Giữ một tờ tạp chí, một quyển sách Trung Quốc nào đó có thể là một trọng tội đối với người An Nam. Tôi biết nhiều nhà văn thân bị kết án khổ sai chung thân vì đã đọc tạp chí Trung Quốc hồn, Ẩm băng và những bài cùng loại ấy của các nhà duy tân Trung Quốc. Năm 1920, có nhiều người An Nam ở Bắc Kỳ bị kết án từ hai đến năm năm tù, chỉ vì một người đã làm thơ ca tụng tự do và các người khác đã nghe ngâm bài thơ ấy./.


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 403 – 407.

Thứ Ba, 13 tháng 5, 2014

Tư liệu nghiên cứu về báo Người cùng khổ (Le Paria)



TÊN BÁO
Tên báo Le Paria được káo dài suốt cả trang báo. Tên báo được viết bằng ba thứ tiếng: chính giữa to đậm nht được viết bằng tiếng Pháp, phía trái kề bên tên báo được viết bng tiếng Ấn Độ[1], phía bên phải là hàng ch Trung Quốc (được dịch thành Lao động báo). Paria nguồn gốc từ tiếng n Đ, ch tầng lớp bị khinh rẻ nht trong xã hội đng cấp nặng nề của chế độ phong kiến n Độ xưa. Dưới tên báo là hàng chữ tiêu đề báo viết bng tiếng Pháp.
TIÊU ĐỀ BÁO


Tiêu đề báo thay đi bn lần:
- Từ số 1 (tháng 4/1922 đến s 20 (tháng 11/1923): Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa (Tribune des Populations des colonies).
- Từ số 21 (tháng 12/1923) đến số 35 (tháng 8/1925): Diễn đàn của vô sn thuộc địa (Tribune du prolétariat colonial).
- S 36 - 37 (tháng 9 và 10/1925): Cơ quan của các dân tộc bị áp bức các thuộc địa (Organe des Peuples Opprimés des colonies).
- S 38 (tháng 4/1926): Cơ quan của Hội liên hiệp thuộc địa (Organe de L’Union Intercoloniale).
SỐ BÁO VÀ TỔNG SỐ TỜ BÁO
Báo Le Paria tồn tại trong bn năm tròn, xuất bn được tất cả 38 s. Số 1 ra mt bạn đọc tháng 4/1922, s cuối cùng xut bản tháng 4/1926. Theo đánh s, có 38 s báo, nhưng thực tế ch có 35 tờ báo được xut bản vì có ba số kép. Đó là các số 6 -7 (tháng 910/1922), s 18 - 19 (tháng 9 -10/1923), và số 36 - 37 (tháng 9 -10/1925).
Thng kê theo từng năm, số báo ra được như sau:
Năm 1922 báo ra được
9
số với 8 tờ báo
Năm 1923 báo ra được
12
số với 11 tờ báo
Năm 1924 báo ra được
10
số với 10 tờ báo
Năm 1925 báo ra được
06
số với 05 tờ báo
Năm 1926 báo ra được
01
số với 01 tờ báo
KHỔ VÀ SỐ TRANG
Hu hết báo ra hai trang kh 40 x 55cm. Có bn s ra trên hai trang:
- Hai số ra ba trang là các số 11 (ngày 1/2/1923) và số 36 - 37.
- Hai số ra bốn trang là số 10 (ngày 15/1/1923) và số 12 (ngày 15/2/1923). Hai số này dành 1 đến 1,5 trang in qung cáo. Theo quyết định của cuộc họp thường trực Ban lãnh đạo Hội liên hiệp thuộc địa và báo, từ s13 báo trở lại xuất bn hai trang và không nhận in bất kỳ loại quảng cáo nào (cũng xin lưu ý bạn đọc là từ s 9 tr về trước báo chưa nhận đăng quảng cáo).
ĐỊA CH
Báo thay đi địa ch hai ln.
Từ số 1 đến số 6 - 7, trụ s báo được đặt số nhà 16 ph Gic Ca-lô (Jacques Callot, 16) quận 6 Paris nhưng địa ch đề liên lạc bng điện thoại lại đ số nhà 6 phố Vi-la đê Gô-bơ-lanh[2] (Villa des Gobelins) quận 13 Pa-ri. Số nhà 16 phố Giắc Ca-lô là trụ sở của Hội Ánh sáng (Clarté) và Tạp chí văn học cùng tên, do nhà văn Hăng-ri Bác buýt sáng lp và lãnh đạo. Trong khi chưa ai tìm được địa ch thích hợp thì Nguyễn Ái Quốc, bng sự quen biết riêng với H. Bác-buýt, một đảng viên cộng sản Pháp rt có cảm tình với Nguyễn Ái Quc nói riêng và các dân tộc bị áp bức nói chung, đã nhờ nhà văn nhường nhà cho Hội liên hiệp thuộc địa đặt trụ s cơ quan ngôn luận.
Từ số 8 (tháng 11/1923) đến s 38, trụ sở báo được chuyn đến số 3 phố Mác-sê đề pa-tơ-ri-ảc-sar (Marché des patriaches) quận 5, Paris. Đây cũng chính là trụ s chính thức của Hội liên hiệp thuộc địa và báo Le Paria. Hàng tuần Hội và đồng chí Nguyễn Ái Quổc cắt cử những người lãnh đạo ch cht đến trực tại số nhà này. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc do hoàn cảnh riêng có nhiều thuận lợi hơn những người khác và do trách nhiệm được giao phó thường phải trực nhiều bui theo sự phân công cũng như nhận trực thay cho nhiều đồng chí khác. Đ tiện công việc và có lẽ cũng đ tránh việc đi lại nhiều và xa[3], ngày 14/3/1923 Nguyn Ái Quốc thôi thuê trọ tại s 9 ngõ Công-poanh (9 imp, Compoint), dọn đếnhn tại s nhà 3 ph Mác-sê đề pa-tơ-ri-ác-sơ.
NHÀ IN
Báo được lần lượt in ba nhà in khác nhau nm trong thủ đô Paris.
- Từ s 1 đến s 12 (tháng 4/1922 đến tháng 2/1923) in nhà in Hợp tác Lơ-máng-xi-pa-tơ-ri-xơ số nhà 3 ph Pông - đi -sê ri, quận 15 Pa-ri (L'Emancipatrice irap. Coopérative, 3 Pondichẻry).
- Từ s 13 đến số 18 - 19 (tháng 410/1923) in tại nhà in Béc-lăng đơ, số nhà 24, phố Ê-côn, quận 5, Pa-ri (Irnp. G. Berlanđa, 24 rue des Ecoles).
- Từ s 20 (tháng 11-1923) đến khi đình bản, in tại nhà in của hãng Đăng-gòng, s nhà 123 ph Mông-mac, qun 2 Pa-ri (Imp. Francaise Maison J. Dangon, 123 Montmartne).
QUẢN LÝ
 Tờ báo trải qua ba người quản lý[4].
- Từ s 1 đến s 12 do J. B. Ney-ra quản lý (J. B. Neycat).
- Từ số 13 (tháng 4/1923) đến s 15 (tháng 6/1923 do G. Xa-rt quản lý (G. Sarotte).
- Từ s 16 (tháng 7/1923 đến số 38, người quản lý báo là Lê-ô-pỉn Mẻt-na (Léopold Mesnard).
THỜI GIAN XUẤT BẢN
Thời k đu, đặc biệt là thời gian Nguyễn Ái Quốc còn hoạt động trên đt Pháp, bảo đảm báo ra đu hàng tháng. Thời gian sau, nhất là từ năm 1928 tr đi báo ra khỏng đều na.
- Từ s 1 đến số 9 (trừ s kép 6 - 7) báo ra đều hàng tháng vào ngày đầu tháng.
- Từ s 10 đến sổ 12 báo ra nửa tháng một s vào các ngày 1 và 15 hàng tháng.
- Có 5 số ra chung hai tháng một s. Đó là các s 24 (tháng 3 và 4/1924), 31 (tháng 11 - 12/1924), 32 (tháng 2 và 3/1925), 33 (tháng 4 - 5/1925) và s 34 (tháng 6 và 7/1925).
Có một s thời gian báo ra ngt quãng, gia s 12 và 13 báo ngh tháng 3/1923, giữa s 31 và 32 báo ngh tháng 1/1925; giữa s 36 - 37 và 38 báo ngh 5 tháng từ tháng 11/1925 đến tháng 3/1926.
GIÁ TIN
Giá tiền bán l các số in hai trang là 25 xu. Giá tiền đặt mua năm như sau:
- Từ số 1 đến 9 và từ s 13 đến 38 là ba phơ răng một năm.
- Từ số 32 đến 38 là năm phơ răng một năm.
- Riẻng ba số 10, 11 và 12 do số trang tăng lên, giá tiền đặt mua năm quy định Pháp và các thuộc địa là bảy phơ răng, các nước ngoài khác là 10 phơ răng.
NGUN TÀI CHÍNH
Báo Le Paria tồn tại nhờ vào năm nguốn tài chính chủ yếu sau đây:
- Hội phí do hội viên Hội liên hiệp thuộc địa đóng hàng tháng, được trích một phần cho báo. Theo nhiều báo cáo ca mật thám, số hội viên có thời gian lên tới 300 người chủ yếu sng trên đất Pháp.
- Tiền đặt mua năm và bán báo lẻ.
- Tiền quyên góp gồm khon quyên góp ban đầu, quyên góp tự nguyện thường xuyên và quyên góp đột xut. Đi tượng chủ yếu đ quyên tiền là nhng người lãnh đạo Hội và báo. Theo một báo cáo của thủ quỹ báo Le Paria, tính đến ngày 31/12/1922, Nguyễn Ái Quc đã thực hiện đều đặn nht s tiền tự nguyện đóng góp mỗi tháng 25 phơ răng vi tng số tiền là 175 phơ răng, trong khi những đng chí khác mới chỉ thực hiện được duới một nửa số tiền đã đăng ký từ trước. Riêng khon tiền đóng góp đột xuất, tuy thu nhập thấp nhất, nhưng mc đóng của Nguyễn Ái Quc bao giờ cũng cao nhất. Ví dụ trong phiên họp Ban chấp hành tại s 3 phMảc- sé đề Pa-tơ-ri-ác-sơ tối ngày 19/1/1923, Nguyễn Ái Quốc đã đóng 100 phơ răng, mức cao nht hôm đó. Đ có được số tiền này, Nguyễn Ái Quốc đã phải vay của luật sư Bơ-lông-cua (Bloncourt) và tạm đưa cho ông luật sư một phiếu nợ đ đảm bảo.
- Tiền ủng hộ báo: Từ s 2 đến những số cuối thường có đăng danh sách và số tiền ủng hộ báo. Có người ghi tên họ, có người ch ghi dân tộc, hoặc bí danh, hoặc tên nhóm người hay t chức. Trong s này, những người Việt Nam có ghi rõ tên (hay tẻn viết tắt), nhóm người hoặc tố chức và thống kê được số tiền đã đóng góp cho báo. Tính đến số 35 (tháng 8/1925) là 3.996,5 phơ răng, chiếm gn 2/3 tồng s tiền ủng hộ báo. Trong danh sách ngươi Việt Nam ủng hộ báo, người đóng ít nhất là hai phơ răng, người nhiều nhất là 1000 phơ răng mỗi lần. Trong s này có tám người đóng trên 100 phơ răng mỗi lần. Trong đó có 3 người đóng trên 200 phơ răng mỗi lần. Đặc biệt trên số 28 (tháng 8/1924) có đăng tin Nguyễn Ái Quốc ủng hộ báo 98,25 phơ răng. Trên số này cũng đăng danh sách sáu người ủng hộ báo 315 phơ răng trên tng số 415 phơ răng, chiếm 76,8% tng số tiền ủng hộ.
Nguồn trợ cấp của Đảng cộng sn Pháp: từ tháng 5 năm 1925, nghĩa là trên một năm sau khi báo Le Paria ra mắt, hàng tháng Đảng cộng sản Pháp trợ cp cho báo Le Paria 100 phơ răng. S tin này trích từ quỹ trợ cấp hàng tháng 350 phơ răng của Đảng cộng sản Pháp dành cho Ban nghiên cứu thuộc địa. Ban này trích 100 phơ răng trợ cấp cho báo Le Paria. Với số tiền này ch đủ trả tiền thuê trụ sở báo hàng tháng.
SỐ LƯỢNG IN, ĐẶT MUA VÀ PHÁT HÀNH
Số lượng in báo Le Paria không cố định, dao động từ 1000 bản đến 5.000 bn, cá biệt có s in tới trên 5000 bản.
S lượng in ấn định cho mỗi số tùy thuộc vào hai điều kiện chính. Một là, mục đích cần tuyên truyền trong thời gian nhất định; hai là, khả năng tài chính.
Yếu tố thứ hai có khi quyết định số lượng in báo Le Paria. Theo nhiều nguồn báo cáo của mật thám, số lượng in của số 1 báo Le Paria là 1.000 bản và sẽ được nâng lên 2.000 bn từ s 2. Trong 1.000 bản của số 1, dành 500 bản phân phi cho các thuộc địa, còn lại s được chuyèn giao phần lớn cho Ban nghiên cứu thuộc địa trực thuộc Trung ương Đảng cộng sản Pháp, khoảng hai mươi bn được bày bán hiệu sách Thực chứng, số nhà 16 phố Xanh Xe- vơ-rin (Librairie positiviste rue Saint Séverine, 16) quận 5 Paris, một s lượng nhỏ khác được dành đ làm công tác tuyên truyn và đi ngoại. Có vài số khác cũng được in với số lượng như số 1, ví dụ như s 8 (tháng 11/1923). Trong 1000 bản của s 8, hơn 100 bản dành cho người đặt mua năm, gần 900 bản phân phi cho các thuộc địa. Trong một báo cáo tng hợp của mật thám nhân dịp báo Le Paria xut bản được hai năm, có ghisố bản in gần đây và trong lúc này lưu hành khoảng 2.000 bản. Trong một báo cáo khác của mật thám đề ngày 23/3/1923 có nói rng, vi nhiều lý do Ban chp hành Hội liên hiệp thuộc địa họp đu tun này quyết định cắt giảm số lượng in Le Paria s tới xuống còn 4.000 bn và đình ch nhận đăng mọi quảng cáo. Đ có tiền trả tiền thuê trụ sở và xut bản s báo tới (s 13) đúng kỳ hn, s tăng cường huy động quyên góp và cho vay....
Trong một báo cáo khác gửi cho Bộ trưng Nội vụ (tháng 3/1924) có nói, số lượng đặt mua năm báo Le Paria tính đến cui năm 1923 như sau: số lượng người đặt mua năm có xu hướng tăng lên rõ rệt. Con s người đặt mua năm hiện nay ước khoảng 500 chủ yếu từ các thuộc địa và đa s họ là công chức bản xứ....
Trong h sơ mật thám lập vào hai tháng cui cùng trước khi Nguyễn Ái Quc rời Paris đi Matxcơva, có ghi lại một số đơn đặt mua báo và phiếu chuyn tiền của nhng người đặt mua năm báo Le Paria từ các thuộc địa Pháp ba châu Á, Phi và Mỹ Latinh. Dưới đây là vài s liệu thng kê đơn đặt mua báo gửi cho Nguyễn Ái Quốcsố 3 ph Mác-sê đề Pa-tơ- ri-ác-sơ trong tháng 5 và 6/1923.
+ 12 người Việt Nam viết đơn (hoặc thư) xin đặt 15 suất báo năm, trong đó 10 người sng trên đất Pháp, hai người từ Bc và Trung Kỳ gửi đơn đặt mua. Cụ th như sau:
- Tám người Việt sng cùng trong một thành phốmiền Nam nước Pháp (thành phng pen-li-ê (Mont Pellier), trong số đó có hai sinh viên, một công chức, những người còn lại không nói rõ nghề nghiệp. Hầu hết họ xin đặt mua từ s 1, cá biệt có một sinh viên luật xin đăng ký ba suất báo năm k từ số 1 đ gửi cho các bạn Nam Mỹ.
- Một người sngthành phố Mác-xây.
- Một người là trung sĩ trong trung đoàn 52 súng máy Đỏng Dương đang đóng quân tại dãy An-pơ.
- Hai người gửi đơn đặt mua báo từ bưu điện làng Yên Thái (Hà Nội) và từ bưu điện Nha Trang (Trung Kỳ).
- Có tám người ở các thuộc địa khác gửi đơn xin đặt mua báo năm, nhiều người tha thiết nhờ ông Giám đốc kính mến của tờ báo đáng kinh trọng[5], cho đặt mua một năm báo, nếu có th từ s l[6]. Cụ th như sau:
- Một người từ thành ph Magađo (Magador) nước Ma-rc.
- Một người thành phố Tuyni, thủ đô nước Tuynidi.
- Một người thành ph Pođơ Phơ-rang-xơ (Port de France).
- Hai người qun đo Haiti.
- Một người Trung Hoa, và vân vân.
VỀ CÁC BÀI CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN ÁI QUỐC
Trừ s 3 chưa tìm được, chc chn là có bài của Nguyn Ái Quc và hàng loạt bài không ký tên nhưng có th là của Nguyễn Ái Quc đang nghiên cứu, xác minh, tng số bài có ký tên cho đến hiện nay là 38. Trong số này, 25 bài đã được công b từ trước[7], 12 bài ln này chính thức công b (có 1 bài dịch).
 Dựa vào đặc điểm trong hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi chia nhng bài báo của Ngưi thành hai thi kỳ:
- Thi k hoạt động cách mạng trên đất Pháp, trực tiếp lãnh đạo và là linh hồn của tờ báo, từ ngày 1/4/1922 đến ngày 13/6/1923. Thời kỳ này bao gồm từ s 1 đến số 16[8]. Tồng số bài có ký tên 24, bình quân 1,6 bài trên 1 tờ báo.
- Thời kỳ gián tiếp chỉ đạo tờ báo trên cơ s tôn ch, mục đích đã được vạch sẵn. Tng s bài trong thời kỳ này là 14, bình quân 0,74 bài trên một tờ báo.
Tng số bài được phân theo năm như sau:
- Năm 192210 bài.
- Năm 1923 có 15 bài.
- Năm 1924 có 09 bài.
- Năm 1925 có 04 bài.
Có 10 số đăng trên hai bài, trong đó một s đăng bn bài, hai số đăng ba bài, by s đăng hai bài. Cụ th như sau:
- S 5 (ngày 1/8/1922) đăng bn bài và một tranh vẽ chiếm gn hết trang nhất.
- Số 11 và số 15 đăng ba bài.
- Các số đăng hai bài là số 4, 10, 14, 17, 22, 25, 27.
TRANH V
Trên các số báo Le Paria có đăng tất cả 10 bức tranh, đều là tranh châm biếm, trong đó năm bức tranh có ký tên Nguyễn Ái Quc, hai bức ký tên Ký Viên và Văn Lưu, hai bc không ký tên và một bức tranh đăng lại của tác gi Pháp trên báo Luy-ma ni-tê (L’Humanite).
Trong 5 bc tranh xác định là ca Nguyn Ái Quốc, có:
- Hai bức tranh ký tên bng ch Hán: Văn minh b trên(Civilisation superieure), đăng trên s 2 (ngày 1/5/1922) và Hội nghị An-giê” (La Conférance DAlger) đăng trên số 12 (ngày 15/2/1923).
- Một bc ký tên NG. A. Q nhan đề Trin lãm thuộc địa (Exposition coloniale)... đăng trên s 2.
- Một bức ký tên Nguyễn A.Q nhan đề Mau lên! Du hành!... (Mau lên! Incognito!...) đăng trên số 5.
- Một bức ký tên Nguyễn nhan đề Sự phục thù của Tu-tăng Ca-mông (Représaiiles de Toutan Ka mon) đăng trên số 13.
BÚT DANH
Trên báo Le Paria Nguyn Ái Quốc sử dụng by bút danh khác nhau.
1. Nguyễn Ái Quốc ký dưới 26 bài và 2 tranh vẽ
2. Ng. Ái Quốc ký dưới 02 bài.
3. N. ký dưới 05 bài.
4. N.A.Q. ký dưới 03 bài.
5. NG.A.Q. ký dưới 01 bài và 1 tranh.
6. Nguyễn A.Q  ký dưới 01 bài và 1 tranh.
7. Nguyễn ký dưới 01 tranh./.


[1] Có tài liệu cho rng bng chữ bên trái được viết bng chữ Ả-rập (Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, t.1, tr. 47).
[2] Sổ nhà 6 ph Vi-la de Gô-bơ-lanh do cụ Phan chu Trinh và Phan Văn Trường thuê từ trưc. Có một thi gian lâu dài, trước khi chuyn đến s 9 ngõ Cỏng-poanh, Nguyn Ái Quc đã ở tại đây trẻn căn buồng nh gác 2. Sau khí chuyn đi Ngưi vn thường xuyên đến s nhà này, coi đây là địa đim liên lạc và nhận thư t sách báo.

[3] Nội thành Pa-ri có 20 quận, các quận 12 đến 20 nm bao quanh vòng ngoài. Quận 17 nm ở phía Bắc, cách trung tâm xa nht so với các quận vòng ngoài. Quận 5, nơi đặt trụ sở báo nm ở phía nam sông Xen. Khoảng cách từ quận 5 đến quận 17 xa hàng chục cây số, qua nhiêu tuyến giao thông chuyn tiếp.
[4] Trưc đây nhiu tài liệu cho rằng ngoài chủ nhiệm, chủ bút, Nguyn Ái Quốc còn là người quản lý t báo. Theo Luật Báo chí của nước Pháp, ngưi quản lý tờ báo tiếng Pháp phải có nhiu điu kiện theo luật định, một trong những điều kiện đó là phải có quc tịch Pháp. Ngưi quản lý thứ hai của báo là Xa-rổt có quan hệ rất chặt ch vi Nguyn Ái Quốc và báo Le Paria. Cũng như Nguyn Ái Quốc, Xa-rốt là thành viên Ban lãnh đao Hội liẻn hiệp thuộc địa ca Đảng cộng sản Pháp. Ban này phân cỏng Xa- rổt theo dõi và giúp đ báo Le Paria.
[5] Tức là Nguyn Ái Quốc và báo Le Paria
[6] Trích thư đặt mua báo của một người từ thuộc địa Pháp ở Haiti (qun đo thuộc châu Mỹ).
[7] 22 bài này được công b ln đu tiên năm 1959 trong tp Lên án chủ nghĩa thực dân do Đảng cộng sản Liên Xô gửi tặng Đảng ta và Nhà xut bản Sự thật đã t chức dịch và xut bản. Những bài đăng báo Le Paria được in trong Hồ Chí Minh Tuyển tập xut bản năm 1960 và năm 1980 (2 tâp) và Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 1 và 2) đu theo nguyẻn văn bản dịch đu tiên. Ln này Viện bảo tàng HChí Minh cho dịch và hiệu đính lại toàn bộ 37 bài căn cứ theo bản gc của 34 s báo Le Paria hiện có và tập hợp 37 bài đó trong cuổn sách này, theo thi gian đăng báo.
Trong số 37 bài đăng trên báo Le Paria đuợc cng b trong cun sảch này, có năm bài còn được đăng ở các báo và tạp chí khác như:
- Bài Tình cảnh người nông dân Việt Nam (Le Parid, s 21, tháng 12/1923) còn được đăng trên báo La Vie Ouvrièrei sống công nhân), số 124, ngảy 4/1/1924 và tạp chi Quốc tế nông dân (kèm theo ảnh và tranh v), trên tạp chí này có đăng 2 bài: Tình cảnh người nông dân Việt NamTình cảnh người nông dân Trung Quc.
- Bài Đỏng Dương và Thát Bình Dươttg (Le Paria, số 24,  tháng 4/1924), còn được đăng trên tạp chí Correspondance internationale (Thư tín quốc tế), s 18, năm 1924.
- Bài Sự phá sản của chế độ thực dân Pháp (Le Paria, số 25 tháng 5/1924), còn được đăng trên tp chí Thông tin cộng sản năm 1924 và tạp chi Thư tín quổc tế sổ 26, năm 1924.
- Bài Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp (Le Paria. số 27, tháng 7/1924), còn được đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế), s 32, năm 1924.
- Bài Tr vì đi, Anh quốc!) Trung Quc, n độ, Xu đăng (Le Paria, s 33, tháng 4 và tháng 5/1925,) và được đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế s 33 ngày 8/4/1925.
[8] Ngày 13/6/1923, Chủ tịch Hồ Chí Minh ri nước Pháp sang Liẻn Xô. Trước khi đi Ngui đã thu xếp chu đáo mọi công việc và đã chun bị xong số 16 báo Le Paria xut bản vào tháng 7. Ngưi còn đ li bài để đăng vào số 17. Mãi đến số 21 (tháng 12/1923) mi xuất hiện bài báo tiếp theo của Nguyn Ái Quốc, chính nhng lẽ đó, chúng tôi cho rng có th tính s 16 (và thậm chi cả số 17) vào thi kỳ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Pháp.