Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Ngọc Phan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Ngọc Phan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Sự tiến triển của văn học Việt Nam hiện đại (Vũ Ngọc Phan)



SỰ TIẾN TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI


Vũ Ngọc Phan
(Tạp chí Tiên Phong, số 3, ngày 16/12/1945)

Trong tám mươi năm Pháp thuộc, sự đàn áp của bọn thực dân đối với dân tộc Việt Nam không những đã diễn ra trong trường chính trị và kinh tế, mà còn cả trong phạm vi văn hoá nữa.
Dưới một chế độ cấm đoán tân thư, ngăn ngừa sự phát triển tư tưng mới, dưới một chế độ hẹp hòi và khe khắt, tuy những loại văn chính trị, xã hội không nẩy nở được, nhưng nếu theo sự tương đối, những loại văn chương thun tuý đã tiến triển một cách khả quan.
Chỉ trong vòng ba mươi năm mà văn học Việt Nam đã tiến hoá rt mau, phân ra đủ các loại thơ văn, như những nước đã trải nhiu phen biến đổi.
Ở những nước mà nn văn học đã vững vàng, những văn phẩm hay thi phẩm ra đời cách nhau hàng ba bn mươi năm, người ta mới thấy có sự khác nhau; nhưng ở nước ta, vài ba năm đã có thể kể như ba bốn mươi năm của người.
Nhờ sự tiếp cận với văn hoá thế giới, tràn ngập khắp nơi, không sức gì ngăn cản nổi, nên bước tiến trình của văn học Việt Nam đã mau lẹ khác thường tuy những mục đích chính của nhà văn còn chưa đt được.
Đã thế, cái học cũ của Đông phương chứa chất trong não chúng ta, mà ông thầy Trung Hoa vẫn là ông thầy giàu về đạo lý, rồi đến cái học mới của Tây phương mà bà giáo khoa học thật đáng là người cầm cân nẩy mực, đã gây nên một sự giao hoà đặc biệt, giúp ích rất nhiều cho sự tiến triển của văn học Việt Nam hiện đại.
Thật ra, văn học cũng chẳng khác nào các loài động vật, thực vật; văn học cũng chịu chung một luật tiến hoá như như muôn loài. Các loại văn nẩy n, biến đổi, tự cấu tạo, phát đạt, chịu đựng sự đào thải, sinh sinh hóa hóa như vạn vật vậy.
Trong khoảng 1915-1930, phong trào dịch thuật và biên khảo nước ta rất là sôi nổi. Những tiểu thuyết Trung Hoa, từ những tp giá trị, đến những tập giá trị đều được các nhà văn lục tỉnh din ra quốc âm trước nhất. Rồi ngoài Bắc, những sách cổ đin và triết học Đông Tây đều được lược thuật hay biên khảo ra quốc văn và đăng vào các tạp chí văn học. Hình như các nhà văn ta hồi đó chưa dám nghĩ đến sáng tác, mà có lẽ vì những nguyên do này thưở xưa, ta đã nghiền ngẫm mãi về kinh sử của Trung Hoa, coi bách gia chư tử như một kho vô tận, quán tuyệt cổ kim về đường trí tuệ và đạo lý, đến khi nhìn gần cái học rất phong phú ca Tây phương, ta không khỏi kinh ngạc. Lẽ tự nhiên là đứng trước những cái hoàn toàn mới mẻ, các nhà văn Việt Nam trong buổi giao thời phải rụt rè và cho là chỉ có cách đem ngay cái mới ấy cống hiến đng bào.
Văn học Trung Hoa cũng đã trải qua một thời kỳ dịch thuật và biên khảo như thế. Các nhà văn hiện đại lớp đầu nước ta, dù là Tây học, cũng đã chịu ảnh hưởng Hán học ít nhiều, nên theo ý các ông cái gương sáng nhất đáng noi theo là cái gương Trung Hoa mới duy tân trong hi đó. Có người đã cho cái lối biên dịch trong thời quốc văn phôi thai ở nước ta do ở sự lười biếng về đường tinh thần và do óc nô lệ. Sự chỉ trích ấy có một phần đúng, nhưng sự thật thì cái lối dịch thuật, biên tập và khảo cứu các sách tiểu thuyết, các sách tư tưởng hoc thuật của Trung Hoa, của Âu Tây, đã do hoàn cảnh chính trị và cũng do ở cả trình độ tri thức của phần đông dân chúng nữa.
Cái kết quả của phong trào dịch thuật biên khảo hi đầu ấy là làm cho người đọc so sánh văn học ngoại quốc với thứ văn học phôi thai Việt Nam và đưa dắt nhiu nhà văn lớp sau đến cuôc thí nghiệm các loại văn Âu Tây trong sự sáng tác. Sự thí nghiệm ấy diễn ra lúc đầu ở văn thể, rồi dần đến ý kiến và tư tưởng.
V văn thể chúng ta đã thấy từ lối văn dài giòng, cân đối, dùng đy chữ Hán, biến chuyển ra một lối văn cộc lốc, đặc nôm na. Đó là hai cái thái cực. Đó là một phản động lực có nhiều quá đáng, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến cách hành văn đương thời..
Dần dần với thời gian, mọi người đéu thấy rằng cần phải có sự phải chăng: văn chương mi nước là tấm gương phản chiếu tinh thần nước ấy, vậy trước hết văn chương Việt Nam cần phải có đặc tính Việt Nam, tuy những sự lôi thôi dài dòng vẫn là những điều nên tránh.
Đến các nhà văn hiện đại lớp sau, quốc văn không dùng nhiều chữ Hán nữa, câu văn sáng suốt, không cộc cỡn, ngớ ngẩn như những câu dịch bất thông; văn lại phong phú, dồi dào, đủ diễn tất cả những ý tưởng cao sâu, nên chẳng bao lâu, chúng ta có đủ tất cả các loại: nào bút ký, truyện ký, lịch sử, ký s, phóng sự, phê bình, biên khảo, dịch thuật, kịch, thi ca, tiểu thuyết. Rồi tiểu thuyết cũng chia ra nhiều thứ phong tục, luận đề, luân lý, truyện ký, phóng sự hoạt kê, tả chân, xã hội, trinh thám. Những tính chất này của tiểu thuyết Việt Nam rất là rõ rệt. Người ta có thể chỉ trích những tiểu thuyết này bắt chước Âu Tây, những tiểu thuyết kia bắt chước Trung Hoa, nhưng người ta cũng phải nhận rằng có một số tiểu thuyết tuy chưa đi đến chỗ tận thiện tận mỹ, nhưng đã có nhiều đặc điểm Việt Nam và đang tiến hoá điều hòa.
Đối với các nhà văn hiện đại, đoán định hẳn sự tiến hoá của họ là một sự điên cuồng. Tất cả đều chưa dừng bước, và nhiều người mới bước bước đầu. Chỉ có thể xét nhận khuynh hướng của họ và tính chất văn học của họ, mà về điều này, cũng nên dè dặt, thận trọng. Đối với những nhà văn quá cố, người ta còn phải đợi thời gian lọc bớt những cái mờ ám có thể lừa dối con mắt quan sát, vậy đối với những văn nhân đang suy nghĩ, đang tìm tòi, đang tiến bước và chưa ngả hẳn về đường nào, ta có thể nào đoán định ngay sự tiến hoá của họ được...
Một điều mà ta nhận thấy trước nhất là thơ văn Việt Nam hiện đại đã tiến hoá rất đều, đi qua những giai đoạn tình cảm, lãng mạn, ngả về phong tục, lịch sử, rồi đi đến tả chân là những đặc điểm người ta nhận thấy ở những văn phẩm trội nhất gần đây. Trong các thi phẩm và văn phẩm, người ta lại nhận thấy điều này nữa: sự bắt chước Trung Hoa đã tàn hẳn, sự bắt chước Âu Tây cũng phai lạt rất nhiều, và có nhiều thi phẩm, văn phẩm đã có tính chất Việt Nam, có xu hướng dân tộc hoá.
Nhưng có hai cái khuyết điểm lớn là hầu hết các văn phẩm và thi phẩm hiện đại đều không gần dân chúng và còn thiếu sự sáng suốt của khoa học. Không gần dân chúng, vì một số đông thi phẩm, văn phẩm chỉ là phản ảnh những cuộc sống tinh thần và vật chất của một thiểu số trong giai cấp phú hào; không gần dân chúng vì những thơ văn ấy có tính chất bác học hơn là có tính chất bình dân. Còn thiếu óc khoa học, là vì các nhà văn, nhà thơ nước ta vẫn chưa phân biệt được rõ ràng tinh thần cố hữu của Đông phương với những cái cẩu thả di truyền của Đông phương: một đằng là những đặc sắc nên duy trì, còn một đằng là một sự cổ hủ, trái với tinh thần khoa học.
Văn học Việt Nam hiện đại đã trải qua một thời áp bức, đã lượm được ít nhiu kinh nghiệm bằng một giá rất đắt, nhưng cũng đã tỏ rõ một sự gắng sức trên đường tiến triển, làm cho người bi quan đến đâu cũng tin cậy được rằng ở vào một chế độ ban hành triệt để những quyền tự do dân chủ, văn học Việt Nam sẽ nẩy nở khác thường.
Về văn học, chúng ta có thể đặt rất nhiều hy vọng vào tương lai, nhưng cái điều kiện trước nhất là các nhà văn Việt Nam phải biết nhận xét cho rõ sự đổi hướng từ lâu của tư tưởng thế giới và hoàn cảnh Việt Nam hiện thời, không nên ôm chặt những thành kiến cũ và tưởng như thế mới là biệt phái./.


Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

HOÀNG TÍCH CHU VÀ LỐI VĂN CỘC CỦA ANH





Vũ Ngọc Phan
(Trích từ Tuyển tập, tập IV)
Những năm tôi mới viết văn và viết báo, tôi hay đến nhà in Trung Bắc ph Hàng Bông đệm[1]. Ở nhà in này tôi đã gặp Hoàng Tích Chu, cây bút được anh chị em thanh niên đương thời rất yêu mên. Anh là người đề xướng một lối văn mới, người ta gọi là “văn cộc” hay “văn nhát gừng”.
Trước khi đề cập đến lối văn Hoàng Tích Chu, tôi muốn nói qua về con người anh, vì theo tôi, anh có thể tiêu biểu cho lớp nhà văn tr vào cuổi thập kỷ 20 sang đầu thập kỷ 30. Anh người làng Phù Lưu thuộc Bắc Ninh (nay thuộc Hà Bắc). Người ta thường nói “Trai Phù Lưu, gái Đình Bảng, hai làng giáp nhau, trai và gái đều nổi tiêng tuấn tu, xinh đẹp, tài hoa. Hoàng Tích Chu đã tài hoa lại đẹp trai, nên được nhiều còn gái Hà Nội rất chú ý. Anh có đôi mắt sắc và thông minh, tầm vóc vững vàng, hơi to ngang một chút không cao, không thấp. Anh nói chuyện hấp dẫn, luôn luôn dùng hình tượng, lại hay châm biếm, thỉnh thoảng điểm những tiếng cười giòn giã. Có thể nói Hoàng Tích Chu có phong thái con người Hà Nội thời đó. Người ta đồn rằng cô Phượng Hàng Ngang (nhân vật trong Mồ cô Phượng) là một trong những bạn tình của anh.
Năm tôi mười ba mười bốn tuổi, ngày ngày đi học qua phố Hàng Ngang, tôi đã được trông thấy cô Phượng, lúc đó, cô vào khoảng hăm hai hăm ba tuổi. Cô ngồi bán các thứ hàng lụa, xa tanh, gấm, vóc tại nhà chồng, nhà này họ Phan. Chồng cô là một “khách lái” vô công rồi nghề, vào loại công tử bột thời bấy giờ. Hắn đi đi lại lại suốt ngày ở cửa hàng để trông kẻ gian, và còn đ canh vợ nữa. Cô Phượng người tầm thước, có đôi mắt bồ câu long lanh, với cặp mi cong, đôi lông mày xanh và dài, môi đỏ mọng đầy dục vọng, mũi (383) dọc dừa thanh tú, và đôi má lúm đồng tiền khi cười. Gò má cô hơi cao, ửng hồng, làm cho khuôn mặt trái xoan của cô có sức quyến rũ, giống như nữ diễn viên điện ảnh Marlen Dietrich thời bấy giờ. Cô Phượng ăn mặc rất nền, khi thì chít khăn nhiễu tam giang, khi thì chít khăn nhung đen, đuôi gà vắt qua mái tóc. Cô hay mặc yếm hoa hiên, quần lĩnh tía cạp điều thắt lưng quan lục, tất cả những màu sắc ấy ánh lên qua chiếc áo dài vải phin trắng, may sát vào thân hình n nang. Lối ăn mặc của cô là một lối rất “nền” của phụ nữ Hà Nội thời xưa. Người ta nói: cô là con người tài hoa, yêu thích văn thơ, trái hẳn với chồng cô là một gã tốt mã, giẻ cùi. Việc cô bỏ chồng và trốn nhà ra đi, ầm ĩ cả Hà Nội vì hồi ấy, thanh niên thủ đô không ai là không biết cô Phượng Hàng Ngang. Nhưng rồi hồng nhan bạc mệnh, cô đã sớm qua đời! Người thì nói cô bị trúng phong mà chết, người thì nói cô chán đời nên đã quyên sinh. Mồ cô Phượng, tiêu thuyết lãng mạn tiêu cưc, nhân vật Phượng là cô Phượng Hàng Ngang này. Cái tên Hoàng H trong giai thoại, trong vè, trong tiu thuyết đã ám chỉ vào Hoàng Tích Chu. Cô Phượng và Hoàng Hồ đều là nhân vật chính.
*
... Hoàng Tích Chu thy tôi làm nghề văn, không đi làm công chức, anh rất hoan nghênh. Lúc bấy giờ, anh đã thôi không làm chủ bút Ngọ Báo của Bùi Xuân Học và đã cho ra tuần báo Đông Tây, do anh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Báo Đông Tây in ở nhà in Trung Bắc, nên tôi thường gặp anh.
Vào cái thời người ta quan niệm người làm nghề viết phải sng cho phóng khoáng, nghĩa là biết uống rượu, nghiện cà phê, biết ra vào tiệm hút, biết đi hát ả đào và có một vài nhân tình nhân ngãi, thì dưới con mắt anh em làm báo làng văn lúc bấy giờ, tôi quả là một thanh niên ngây thơ, vì tôi không biết gì về những chuyện đó. Một số người đã gọi đùa tôi là: “bê-bê-Nes-lê”[2] và cái tên này Thiết Can mách cho tôi biết (384).
Hoàng Tích Chu có vn Hán học; vào buổi chữ nho đang tàn tạ, anh được k vào hạng những người có trình độ tam trường[3]; còn về Tây học anh biết sơ sơ tuy anh đã từng sang Pháp, Paris khoảng một năm trời. Vào thời Andrré Gide chưa ra quyển Re’ourde L URSS (ở Liên bang Xô-viết trở về), nhà văn Pháp này được nhiều thanh niên Việt Nam ưa thích. Một thời gian, đọc Gide trở thành cái “mốt” gần như cái “mốt” mặc áo Lơ Muya của phụ nữ Hà Nội. Theo thời Hoàng Tích Chu cũng viết một bài về Gide, nhưng anh lại viết lầm tên nhà văn này là Charles Gide một nhà kinh tế học Pháp đương thời, tác giả quyển Economic politique (chính trị kinh tế học). Tuy vậy, anh rất có năng khiếu về văn. Từ hồi trẻ anh đã viết những bài “biền ngẫu” trên tạp chí Nam Phong. Anh dùng loại văn có những câu đối ngắn gọn này, để phê phán những điều tai nghe mắt thấy. Nhưng với nội dung ấy mà viết lối “biền ngẫu” tất nhiên không thành công được. Dùng “bình cũ rượu mới” thì đi đến chỗ gò ép, tối nghĩa. Từ nhỏ dùng lối văn đối nhau, như phú chiêu, kiểu để viết về thời sự, Hoàng Tích Châu đã xếp “bình cũ” lại và dùng “bình mới rượu mới”, với ý nghĩ: hình thức phải phục vụ đắc lực nội dung. Anh viết một lối văn hết sức ngắn gọn, đương thời người ta gọi là “văn cộc”, “văn nhát gừng” hay “văn Hoàng Tích Chu”.
Trong những năm của thập kỷ 20, quốc văn còn non trẻ, những người viết quốc văn đầu tiên là những người nửa Tây học, nửa Nho học. Lúc đầu, nhà nho thuần túy viết văn xuôi bằng tiếng dân tộc rất ít. Nếu họ có hứng về quốc văn thì họ làm thơ. Đến khi báo chí quốc văn ra đời, do yêu cầu phải có nhu cầu bài dịch thuật từ các sách Hán văn, mấy ông nhà nho bắt buộc viết văn xuôi. Gọi là văn, nhưng thật ra các ông cố dịch cho đúng nghĩa, xuôi tai. Câu văn không được trau chuốt, có quá nhiều từ thì, mà, vậy. Người ta đã gọi những thứ văn ấy là “thứ văn thì thì mà mà”, “thứ văn vậy vậy”.
Lối văn Hoàng Tích Chu ra đời tiêu biểu cho tư tưởng phản kháng của những người viết văn trẻ đối với thứ văn “bè ngô bè dừa” của một số nhà nho mới cầm bút sắt. Vào những năm 1929 - 1930 (385), trên t Ngọ báo do Hoàng Tích Chu làm chủ bút, anh viết những bài bàn về thời cục với một lối văn hết sức gọn, những từ mà, từ thì gần bị loại hết.
Đến khi không còn phụ trách tòa soạn Ngọ báo nữa trên tuần báo Đông Tây  (số ra ngày 29-07-1931) do Hoàng Tích Chu làm chủ nhiệm kiêm chủ bút anh phát biểu về lối văn của mình như sau:
“…Tôi vốn đã bị cái bả viết văn kéo dài, hàng mười dòng mới hạ được cái chấm dứt câu, hàng hai ba cột báo vẫn chỉ chọi một ý. Phải có một lối văn khác. Cái lối viết phải làm sao cho gọn, không thừa nhiều lời. Đến khi tìm được nó rồi, tôi liền bắt đầu thưc hành bằng những “bài bàn về thời sự”. Tôi định rằng bài nào cũng vậy, chỉ được chiếm một cột báo là nhiều lắm”.
“Đó là thời tôi viết cho tờ Ngọ báo năm xưa. Đó cũng là hồi văn Hoàng Tích Chu bắt đầu được một phần độc giả công kích, cũng như một phần độc giả hoan nghênh. Lâu dần nó thành ra một lối, mà anh em làm báo như đã nhận một cách vô tâm, vậy”.
“…Tôi đến giờ muốn thực hành cái lối văn H.T.C, ra mọi phương diện khác. Viết về cuộc phỏng vấn, viết truyện đoản thiên, tôi thy dễ xoay cán bút, không tốn công lắm như viết một “bài bàn về thời s, chỉ trong một cột”, phải chọn từng chữ, phải sửa từng câu. Được một đằng, hỏng một đằng. Đến khi thực hành lối văn ấy vào những bài nghị luận, thì thấy ngay một sự khó khăn trình bày trên mặt giấy”.
“Bi lối văn không cho phép viết dài câu hay thừa nhiều tiếng, nên mỗi khi giãi bày một lý thuyết nào tôi thấy khó xoay xở lắm. Chân muốn bước đi, mà như có một sức gì ngăn cản lại. Trong khi lúng túng về nỗi tiến thoái ấy, tôi lắm khi tự quên rằng bài viết để người đọc, không phải chỉ để một mình xem...”.
Trên đây là những lời thanh minh và cũng là những điều suy nghĩ, cân nhắc của Hoảng Tích Chu. Bài trên đây anh còn viết lối văn bình thường. Cũng trên số báo Đông Tây nói trên (số ra ngày 29-07- 1931), anh đăng một bài viết theo lối mới, có đoạn như sau:
Gớm cho năm 1931! (386)
Thế giới đang khổ về nạn kinh tế[4]. Tôi đây cũng chẳng được yên: hai anh thợ sơn đê lại bức tường làng cuỗm giy “con công” theo thằng Cuội; vài ông đại lý tiêu lạm tiền báo tháng, trốn ăn “mắm ngoé”  xứ Lào. Đã thiệt một bên, tôi nào thy một bên có lời: nhà in giục nợ, thợ chữ thúc bài, mà... bên nách, một bạn đồng nghiệp cứ nay gãi, mai cào, lắm khi muốn cười lên tiếng khóc.
Còn mong cái sướng về tinh thần.
Này bức thư anh lái lọng gửi đến chiều qua, giấy nhu bn, mực tím phai, nét chữ tháu:
Văn Tôi.
Gái chơi hoang, sao ta cứ đổ tội cho trai quyến rũ? Phùng Đình Mai ưu thịt bóng, sao ta cứ kết án anh lái lọng nhử mồi? Lời Văn Tôi biện hộ trước tòa Dư luận như đã đến tai các quan tòa Thượng thm.
Châu biết Châu có tội, cái tội buôn đồ lậu hẳn pháp luật không dung. Nhưng thứ đồ lậu của Châu, Văn Tôi đã cãi cho nó không đến nỗi hại vệ sinh như dấm rượu, Vitelpha nước.
Châu quả nhiên có công làm lợi nền kinh tế 'lúc này: tiền giam trong tủ mấy anh giàu bẩn được dịp may đội nón ra đi...
Sốt sắng, Văn Tôi lên tiếng cãi trong s 74, quyết xin cho Châu trắng án. Nhưng Châu có tội. Tòa Thượng thâm đãi 3 năm tù, đáng lẽ phải 5.
Ngày nay Châu là tù. Cái thời giờ ngồi tù, Châu dùng đ sửa lỗi theo phải, hay trái lại, dùng để nghĩ thêm mưu kế lừa đời một cách diệu hơn.
Trên hai đốc ấy, Văn Tôi nên liệu cho Châu bước xuống bên nào?
Muôn độ ơn lòng.

Nhà pha (quên ngày) 1931 Lái Lọng (387)
Chúng ta nhận thy những câu rất ngắn. Có câu chỉ có hai từ, ba từ, bốn từ. Không có một từ thì nào, từ được dùng, cũng dùng một riêng. Các bài viết theo lối trên, tác giả đều ký “Văn Tôi” ở dưới. Thể “Văn Tôi” y, thể văn buổi đầu của riêng Hoàng Tích Chu y, đã được một số nhà viết báo tr thừa nhận và viết theo. Dương Mậu Ngọc (tức Ngọc Thỏ tức Nhị Lang), Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính, Phùng Tất Đắc, Tchya[5] đều viết lối văn Hoàng Tích Chu trên Ngọ Báo, Đông Tây, Việt Báo, Nhật Tân, Tân Việt Nam và cả trên tờ Trung Bắc nữa.
Trên ph trương báo Trung lập Sài Gòn (1931) trong bài “Văn nghị luận phải viết thế nào?”, có đoạn hoan nghênh li văn Hoàng Tích Chu như sau:
“Trong văn quốc ngữ ta, cái lối viết của ông Hoàng Tích Chu thật nó biệt hẳn ra một lối, đủ mà kêu được là “lối văn Hoàng Tích Chu”: sự ấy trong làng văn ta hình như đã công nhận một cách vô tâm rồi. Chng luận lối văn ấy ông Chu sáng tạo ra hay bắt chước của ai, nội một cái biệt lập ra một nhà được như thế, cũng khá gọi là tay hào kiệt trong làng văn vậy”.
Mạnh dạn sửa đổi hình thức câu văn, làm cho văn xuôi được trau chuốt, xứng với cái tên của nó, không còn bị coi thường, nôm na, cha mách qué, chống cái bệnh lê thê, dài dòng, không biết châm câu, là rất đáng hoan nghênh, nhưng coi đó là “biệt lập ra một nhà” là nói quá đáng. Người viết văn gọn gàng và chm câu rành mạch đầu tiên, phải kể Phạm Duy Tốn. Ông Tốn viết không nhiều, chỉ để lại vài truyện ngắn, nhưng văn ông đã ảnh hưởng đến lớp trẻ. Trong tạp chí Nam Phong (số 18, tháng 12-1948), truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn có đoạn:
Thốt nhiên một người nhà quê, mình my lấm láp quần áo ướt đầm, tất tả chạy xông vào, th không ra hơi:
- Bẩm... Quan lớn... Đê vỡ mất rồi!
Ngài quay mặt vào, lại hỏi thầy đề (388)
- Thày bốc quân gì thế?
- Dạ bẩm con chưa bốc.
- Thì bốc chứ!
Cách đây gần 70 năm mà những câu văn trên đây tưởng như mới viết ngày nay. Hoàng Tích Chu là người đã nhìn thấy trong văn học hình thức phải đáp ứng nội dung, phải phục vu đắc lc biu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Đó là cái nhìn rất đúng của anh. Còn những từ thì từ vốn có ý nghĩa và hiệu lực của nó. Đoạn văn trên đây của Phạm Duy Tốn từ thì trong câu: “Thì bốc chứ!” có ý nghĩa thúc dục phải làm ngay. Chỉ dùng không đúng chỗ, câu văn mới hóa rườm rà.
Viết văn xuôi, cần phải cân nhắc, nhưng chưa đến nỗi phải cân nhắc bằng thơ. Trong Truyện Kiều tác phm văn vần bậc nhất của ta xưa và nay, Nguyễn Du đã dùng những từ thì, từ rất đúng chỗ, muốn tước đi cũng không được.
Tuy rằng những từ thì bị loại trừ một cách quá đáng trong lối “văn cộc”, nhưng phải thừa nhận răng lối văn Hoàng Tích Chu đã ảnh hưởng đến một số người viết văn trẻ vào những năm 30 của thế kỷ này. Một số người đã bỏ hết những từ mà thì; còn một số người, trong đó có tôi, tuy không viết lối văn Hoàng Tích Chu, nhưng cũng đâm dè dặt trong khi dùng những từ thì, từ mà...có một thời gian phong trào viết văn cộc đã dẫn người ta đến viết quốc văn theo lối văn Tây, không biết rằng văn phạm mỗi nước một khác. Viết lôi thôi, rườm rà, không biết chấm câu là rất dơ, nhưng cắt xén câu văn nhiều quá, b hết những từ thì, từ mà, không hiểu tác dụng của những từ ấy, làm cho câu văn tối nghĩa, đó là điều mà tính chất trong sáng của tiếng Việt không bao giờ dung thứ.
Tôi vào Quảng Nam năm 1932, một cụ nhà nho rất hay thơ nôm, nói với tôi: “Tôi vẫn đọc bài anh viết trên báo, không kể nội dung phải cái câu văn của anh Tây quá”. Lời nhận xét ấy làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều, viết văn mà “Tây quá” thì còn đâu là tính dân tộc! Ấy là mình chưa hn viết lối “văn cộc”. Tôi đã cố gắng tìm tính hài hòa, cố gắng dùng chữ thật nôm, cùng lắm mới phải dùng những chữ (389).
Hán Việt, c gắng khi viết thì nghĩ đến người đọc, để ai cũng có thể hiểu ngay những ý mình muốn trình bày, những tư tưng tình cảm mình muốn th hiện.
Tiếng Việt của ta là một thứ tiếng trong sáng, đó là phương châm mà tôi phải nhớ trong khi viết.
Vào những năm 31 - 32 Hoàng Tích Chu cũng đã tự thấy phải thay đi lối viết của mình: viết văn cộc không đạt hết ý, nhưng phải tránh không sa vào “lối văn thì thì mà mà” và “lối văn vậy vậy”. Anh đã nói với tôi như thế.
Tôi đang trông đợi xem lối viết cân phân của anh về như thế nào, thì thốt nhiên tờ Đông Tây của anh bị thực dân Pháp rút giấy phép.
Một buổi trưa hè năm 1932, tôi đã trông thấy bọn mật thám vừa Tây vừa ta xông vào nhà in Trung Bắc tịch thu những tờ báo Đông Tây còn chưa ráo mực. Chỉ vì số báo ấy đăng một bài thơ nhan đề là: “Cái chày”, ám chỉ tên tổng đốc Thái Bình họ Vi đã dùng chày để tra tấn, đánh giập đầu gối những người chính trị phạm.
Không còn báo để viết, Hoàng Tích Chu rất buồn. Mùa thu năm 1932 anh xuống chơi với tôi ở Thái Hà mặt buồn rười rượi, không còn vui tính như trước nữa. Mấy tháng sau, anh ốm nặng. Tôi đến thăm anh ở phố Lê Lợi[6], Anh còn rất tỉnh, nghe tiếng tôi nói, anh nhận ra ngay, nhưng hai con mắt sắc sảo của anh lúc ấy đã phải che bằng hai mảnh the đen, vì anh rất sợ ánh sáng. Ngày 25 tháng Giêng năm 1933 tức ngày 29 tháng Chạp ta, anh mất, để thương, để tiếc cho nhiều bạn trẻ trong làng văn làng báo Việt Nam lúc bấy giờ (390)./.


[1] Nhà in Trung Bắc, ngoái việc in Trung Bắc tân vănAanam nouveau của Nguyễn Văn Vĩnh, còn in nhiều sách báo khác, nên nhiều nhà văn, nhà báo thường đến nhà in này.
[2] Quảng cáo của hãng sữa Nestlé có vẽ một em bé chừng một tuổi rất bụ bẫm ngồi bên hộp sữa.
[3] Tức được vào tam trường (kỳ th 3) tại khoa thi hương Nam Định (gọi là trường Nam), ri mới hỏng.
[4] Đông Dương hi by giờ có cai nạn mà Thực dân Pháp gọi là “Khủng hoảng về không bán được gạo” (Crise de la mé vent du riz).
[5] Nghĩa là: tôi chăng yêu ai (chắp chữ đầu) biệt hiệu của Đái Đức Tuấn
[6] Nay là phố Bà Triệu, căn nhà anh Hoàng Tích Chu mất ở bên số lẻ, gần ngã tư Bà Triệu, Nguyễn Du bây giờ.