Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Vĩnh Ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Vĩnh Ký. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2015

Các nhà văn quốc ngữ tiền phong



Những nhà văn quốc ngữ tiên phong là những người đã dùng chữ quốc ngữ để phổ biến văn chương, học thuật trước tiên mà cũng là những người hô hào truyền bá chữ quốc ngữ đến đại chúng vào thời kỳ sơ khai. Những nhà văn tiền phong ấy là Trương Vĩnh Ký, Hình Tịnh Của, Trương Minh Ký, đã sáng tác văn chương, đẩy mạnh việc truyền bá chữ quốc ngữ.
1. Sự Ðóng Góp Của Các Nhà Văn Tiền Phong.
Trương Vĩnh Ký đáng được người đời tôn vinh lên hàng bác học như người ta đã làm, chính ông là học giả, là nhà văn tiền phong đã nhìn thấy khả năng chữ Quốc ngữ và ông đã phổ biến chữ Quốc ngữ đến quảng đại quần chúng.
Trước ông, chưa có ai làm việc nầy, cho đến thời đại của ông và công việc ông làm, cho thấy chữ Quốc ngữ đã được công chúng dùng đến. Như vậy nó đã được phổ biến chớ không phải chờ đợi đến người Pháp, người Pháp chỉ là kẻ nhúng tay vào cho nó tiến nhanh, ngõ hầu giúp cho việc cai trị của họ được dễ dàng.
Trong phần nầy, trước tiên chúng tôi muốn dành một chỗ xứng đáng cho học giả Trương Vĩnh Ký, vì ông chính là người tiền phong dùng chữ Quốc ngữ và cổ vũ cho phong trào học Quốc ngữ.
Trương Vĩnh Ký (1837-1898)
Từ năm 1886-1888, Trương Vĩnh Ký được bổ nhậm chức Giám đốc và dạy ngôn ngữ Ðông Phương ở Trường Thông Ngôn ( Collège des Interprètes).
Ngày 16/9/1869, ông được Thống soái Nam Kỳ Ohier bổ nhiệm Chánh Tổng Tài tờ Gia Ðịnh Báo. Ông đã điều hành tờ báo nầy cho đến năm 1872, năm nầy ông được thăng Tri Huyện và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường Sư Phạm (Ecole Normal). Năm 1874, ông là giáo sư dạy chữ Quốc ngữ và chữ hán ở Trường Hậu Bổ (Collège des Stagiaires).
Từ 1866-1886, khoảng thời gian 20 năm nầy, ông chuyên về vấn đề văn hóa và giáo dục. Nhưng năm 1886, người bạn cũ của ông là Paul Bert sang làm Thống Ðốc Nam Kỳ, vì tình bạn ông đã bước sang sân khấu chánh trị, một bước phù du mà cuối cùng cuộc đời ông nghèo nàn, danh vọng một thời đã mai một!
Cộng tác với Pháp, nhưng chắc chắn Trương Vĩnh Ký không thích con đường chính trị, ông lại thiết tha với nền văn học chữ quốc ngữ, ông có chủ đích quay về sự nghiệp văn chương của mình, khi Paul bert mất, ông không ngần ngại từ bỏ sân khấu chánh trị, trở lại nghề dạy học, viết sách dạy các thứ tiếng Ðông phương, về phương diện nầy, ông là nhà ngôn ngữ học quảng bác, vì ông có thể nói và viết 15 ngôn ngữ Tây phương và 11 ngôn ngữ Ðông phương.
Viết sách dạy người Pháp học tiếng Việt và ngược lại, dịch bộ Tứ Thư (Ðại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử), cũng như một số sách chữ Hán ra chữ quốc ngữ, cốt để phổ biến ngôn ngữ và tư tưởng Ðông phương, chính ở phương diện nầy chúng ta thấy ông là nhà văn hóa, ở sân khấu chánh trị ông mong tạo sự thông cảm giữa người Việt và người Pháp, giữa những xung đột lớn lao về chánh trị, kinh tế, văn hóa giữa hai nước.
b) Huỳnh Tịnh Của (1834-1907)
Huỳnh Tịnh Paulus Của hay Huỳnh Tịnh Của người tỉnh Bà Rịa, ông thông thạo Hán và Pháp Văn. Năm 1881, được bổ ngạch Ðốc phủ sứ, phụ trách công việc phiên dịch các văn án cho nhà cầm quyền Pháp tại Việt Nam.
Ông cũng là nhà văn quốc ngữ tiền phong cộng tác với Gia Ðịnh báo. Tác phẩm quan trọng trong văn nghiệp của ông rất có giá trị, đó là quyển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị, in thành 2 tập, tập I in năm 1895 từ mẫu tự A đến L, tập II in năm 1896 từ M đến X, cả hai quyển đều in tại Sàigòn do nhà in Imprimerie REY, CURIOL & Cie, Rues Catinat & dOrmay. Năm 1983, nhà sách Khai Trí có in lại 2 tập của quyển tự vị nầy.
Cách hành văn của ông rất mộc mạc và bình dân, cho đến nay chưa tìm thấy tác phẩm nào ông viết bằng Pháp Văn, các tác phẩm của ông cho chúng ta thấy, ông đã chú trọng vào việc điển chế và phổ biến chữ quốc ngữ.
c) Trương Minh Ký (1855-1900)
Trương Minh Ký có biệt hiệu là Thế Tải, ông sanh ngày 23/10/1855 tại Gia Ðịnh, là học trò của Trương Vĩnh Ký. Ông thông Hán và giỏi Pháp văn, làm thông ngôn cho nhà cầm quyền Pháp, cộng tác với Trương Vĩnh Ký trên tờ Gia Ðịnh báo, Thông Loại Khóa Trình cũng như viết sách dạy Pháp văn.
Trương Minh Ký không được người ta chú ý nhưng vừa là môn đệ, vừa là người cộng tác thân cận với Trương Vĩnh Ký, xét qua văn nghiệp, cũng xứng đáng dành cho ông một chỗ đứng trong các nhà văn tiền phong chữ quốc ngữ.
Ông hành văn cũng bình dân, mộc mạc như Trương Vĩnh Ký và Huình Tịnh Của, chuyên dịch chữ Hán ra quốc ngữ và sử dụng văn vần nhiều hơn văn xuôi.
2. Việc thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ của người Pháp
Từ năm 1867, quyển Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký ra đời và trước đó năm 1865 tờ Gia Ðịnh báo được in bằng chữ quốc ngữ, nhà cầm quyền Pháp tại miền Nam đã thấy phương tiện truyền thông bằng chữ quốc ngữ cho người Việt Nam có khả năng thích hợp hơn chữ Pháp, chữ Hán hay chữ Nôm, vì nó dễ học, người Việt nhờ chữ quốc ngữ mà thông hiểu trực tiếp ngôn ngữ của mình. Về điểm nầy chúng ta có thể đọc một đoạn văn trong Gia Ðịnh báo:
Thầy Ký ( Trương Vĩnh Ký ) dạy học, có làm sách mẹo dạy tiếng Lang-sa, có làm ra chữ quốc-ngữ để người ta dễ học, những người ký-lục giỏi cùng siêng-năng sẽ lo mà học chữ quốc-ngữ vì có hai mươi bốn chữ mà viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẽ cũng viết đặng, không phải như chữ ta (8), học già đời mà còn có những chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường (9) đã học đặng chữ quốc-ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết (Gia Định báo, ngày 15/4/1867) (10)
Hơn 10 năm sau, nhà cầm quyền Pháp quyết định dùng chữ quốc ngữ để làm văn tự chánh thức cho miền Nam. Sự việc nầy không phải chánh phủ Pháp muốn khai phá cho dân Việt, mà đây cũng chỉ là một trong những mưu đồ thôn tính Việt Nam.
Nhà cầm quyền Pháp đã ban hành Nghị định số 82 ngày 6/4/1878, nội dung như sau:
Ðiều thứ 1: Kể từ ngày 01/01/1882 tất cả văn kiện chính thức, nghị định, quyết nghị, sự vụ lệnh, án lệnh, chỉ thị và các văn kiện khác đều sẽ viết, ký và công bố bằng chữ La-tinh.
Ðiều thứ 2: Cũng kể từ ngày ấy, sẽ không được ban cho bất cứ một bổ nhiệm nào, một thăng cấp nào trong hàng nhơn viên phủ, huyện và tổng, cho bất cứ là ai mà không đủ sức viết công văn bằng Quốc ngữ.
Ðiều thứ 3: Cũng kể từ ngày ấy và dĩ chí ngày 01/01/1886, hương thân nào cũng được miễn thuế thân, hương hào nào cũng chỉ đóng phân nữa thuế thân và biện lại nào cũng được miễn sưu, nếu họ đủ sức viết công văn bằng Quốc ngữ.
Ðiều thứ 4: Kể từ ngày 01/01/1886, không ai được lãnh các nhiệm vụ trên đây, nếu không biết Quốc ngữ đàng hoàng.
Tuy nhiên, biện pháp nầy chỉ được miễn cho những người nào trước thời gian đó đã được chú ý vì họ sốt sắn và lương thiện trong lúc thi hành các nhiệm vụ ấy.
Thống đốc Nam Kỳ
Lafont (11)
Nghị định 82 nầy chỉ nhằm bó buộc và khuyến khích những người làm việc cho Pháp từ cấp huyện, tổng và làng xã, là cấp thừa hành để giúp cho công cuộc cai trị của họ được dễ dàng, thuế vụ không bị thất thu.
Như vậy chúng ta thấy rõ Nghị định 82 đã thúc đẩy cho việc sử dụng chữ quốc ngữ trở nên chánh thức tại Miền Nam.
3. Kết Luận.
Thời kỳ chữ quốc ngữ phát triển chính là thời kỳ nầy trong tiến trình hình thành của nó. Cho đến nay, chúng ta biết Gia Ðịnh báo là một sản phẩm đầu tiên sử dụng chữ quốc ngữ, nhằm phổ biến nghị định, tin tức... thuộc về nhà cầm quyền chủ trương, còn quyển Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký có chủ đích phổ biến chữ quốc ngữ cho người Việt, rồi sau đó, trên Gia Ðịnh báo ngoài Trương Vĩnh Ký làm Chánh Tổng Tài còn có sự cộng tác của Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký đã dùng nó làm phương tiện phổ biến chữ quốc ngữ đến đại chúng.
Trương Vĩnh Ký là nhà thông thái, quảng bác ngữ học nhưng ông hành văn rất giản dị, bình dân, viết cũng y như câu nói. Ðến Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký lời văn cũng bình dị nhưng câu văn lại nhẹ nhàng hơn. Tuy Trương Minh Ký ít người biết đến, nhưng ông là người cộng tác gắn bó với Trương Vĩnh Ký trên Gia Ðịnh báo và Thông Loại Khóa Trình, còn Huỳnh Tịnh Của được nhiều người biết đến nhờ quyển Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của ông.
Các nhà văn tiền phong kể trên rất có công trong việc truyền bá chữ quốc ngữ vào thời kỳ phôi thai, nhờ đó đến đầu thế kỷ thứ hai mươi, văn học quốc ngữ miền Nam cũng tiên phong trong các bộ môn văn học.
Tôn vinh những nhà văn quốc ngữ tiên phong miền Nam như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký bởi sự nghiệp văn học của họ và nhiệt tâm truyền bá chữ quốc ngữ vào thời buổi sơ khai, đáng cho chúng ta ngưỡng vọng. Và nhờ họ mà Văn học Việt Nam sau nầy phát triển nhanh chóng khắp mọi miền đất nước.
                                                                 Huỳnh Ái Tòng
Ghi chú:
(1) Nhân Loại bộ mới số 4 ngày 15-10-1958 trang 30-32
(2) Chúng tôi dùng chữ trong ngoặc thay cho chữ Hán.
(3) Chúng tôi để nguyên văn, không sửa chữa chánh tả, xống: sống
(4) Chép theo Petite Dictionnaire Francais-Annamite.
(5) Không ghi năm tháng.
(6) Chép nguyên văn.
(7) Có lẽ thợ nhà in đã bỏ sót mất một đoạn: Từ Thức gặp lại Giáng Hương ở cõi tiên, được tác hợp thành vợ chồng.
(8) Chữ Nôm
(9) Tôn Thọ Tường
(10) Nguyễn bá thế, Tôn Thọ Tường, Tân Việt. Sàigòn 1957 trang 29
(11) Bản dịch của nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát.

Quan niệm của một số cây bút văn xuôi cuối thế kỷ XIX



                                                                                                  Cao Thị Hảo
Nói đến quan niệm về văn xuôi quốc ngữ giai đoạn cuối XIX, người ta thường chú ý đến vai trò tiên phong của Trương Vĩnh Ký. Thanh Lãng cho rằng, với sự xuất hiện những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký “một quan niệm viết truyện mới ra đời” với cốt truyện “đơn sơ, giản dị”, và “lối văn bình dị, mộc mạc, quê mùa, trơn tuột như lời nói”(1). Cách hành văn nôm na như lời nói thường của Sĩ Tải được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm, có tác giả coi đó là “một quan niệm văn học mang tính cách tân của Trương Vĩnh Ký”(2), thậm chí là một đặc điểm “có ý nghĩa xác định một phương diện trong quan niệm nghệ thuật của văn xuôi tự sự buổi đầu”(3).
 Đặc điểm đầu tiên trong quan niệm về văn xuôi tự sự quốc ngữ là việc đưa ngôn ngữ đời thường vào sáng tác văn chương. Giai đoạn cuối thế kỷ XIX trong khi thể loại văn vần vẫn đang chi phối thói quen thưởng thức văn học của số đông độc giả thì Trương Vĩnh Ký đã đưa ra một chủ trương hết sức mới mẻ về sáng tác văn chương, thể hiện rõ qua lời phát biểu ở đầu sách Chuyện đời xưa (1866) trong lần in lại (4).
 Trương Vĩnh Ký khi sử dụng ngôn ngữ đời thường vào văn chương xuất phát từ mục đích xã hội hóa chữ quốc ngữ, phổ cập chữ quốc ngữ trong quần chúng nhân dân. Nhưng chính trong công việc đó ông đã trở thành người đầu tiên khởi xướng cho việc đưa ngôn ngữ đời thường vào tác phẩm văn chương, đặt ra một lối viết mới bằng “tiếng An Nam ròng”, ngôn ngữ nôm na như lời nói thường, khác với lối viết đương thời (vốn viết bằng văn biền ngẫu và văn vần). Cũng cần lưu ý rằng ở vào thời điểm Trương Vĩnh Ký sáng tác, những lời “nôm na” “trơn tuột như lời nói” ấy “ai cũng cho là dễ dàng đã được gọi là “văn” đâu”(5). Thậm chí có những tác phẩm Trương Vĩnh Ký viết bằng văn xuôi nhưng khi đăng báo người ta lại diễn ra văn vần. Chẳng hạn trường hợp Kiếp phong trần (1882) và Bất cượng chớ cượng làm chi (1885) được Trần Hữu Hạnh diễn ra thơ lục bát đăng trên Miscellanées, số 10/11/1889 (6).
 Một số sưu tầm và sáng tác của Trương Vĩnh Ký (Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, Kiếp phong trần, Bất cượng chớ cượng làm chi…) đã được viết và diễn đạt theo hình thức văn xuôi, có tính thông tục và hướng đến tiếp cận với ngôn ngữ đời sống hằng ngày. Chuyện đời xưa mặc dù không có gì mới mẻ, gồm 74 truyện được tác giả sưu tầm, “góp nhóp trộn trạo” từ những truyền thuyết, truyện kể bình dân có trong dân gian nhưng đáng chú ý là tác giả lại chủ trương viết bằng một hình thức ngôn ngữ mới: chữ quốc ngữ (chứ không phải chữ Nôm, chữ Hán hay chữ Pháp) và cách hành văn mới: lối văn khẩu ngữ dễ đọc dễ hiểu. Tác phẩm Kiếp phong trần (1882) được viết với một giọng văn nôm na, bình dân đặc biệt tác giả đã sử dụng hình thức đối đáp giữa hai nhân vật Trương Chí Đại và Lê Hảo Học khiến người đọc dễ liên tưởng đến hình thức của kịch nói hiện đại sau này. Cũng có khi tác giả sử dụng một ngôn ngữ nôm đã khá xuôi tai và rõ nghĩa để viết du khảo (7). Văn phong của Trương Vĩnh Ký đã mờ nhạt bóng dáng của “chi hồ giả dã”, câu văn dường như trong sáng, gãy gọn, rõ nghĩa hơn và rất ít từ Hán Việt.
 Nếu như Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên khởi xướng lối viết văn xuôi nôm na, đời thường qua công việc sưu tầm, biên khảo và viết du ký thì Nguyễn Trọng Quản là người đầu tiên đưa lời nói thường vào sáng tác văn chương. Trong Truyện thầy Lazarô Phiền (viết 1886 xuất bản 1887) - một tác phẩm được coi là áng văn xuôi quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam - tác giả đã hoàn toàn đoạn tuyệt với lối văn biền ngẫu sóng đôi bổng trầm, đăng đối trong văn học cổ điển. Đây là một quan niệm rất mới về sáng tác văn chương. Quan niệm này được Nguyễn Trọng Quản tuyên bố một cách rõ ràng trong Lời tựa viết tại Khánh Hội tháng 12 năm 1886(8).
 Nhìn từ góc độ thể loại những Lời tựa luôn có một “ý nghĩa đặc biệt quan trọng” (9). Nó như những tín hiệu chỉ dẫn cho người đọc khi tiếp xúc với một thể loại mới so với thói quen thưởng thức của số đông độc giả. Và theo như Bakhtin thì chính những tín hiệu chỉ dẫn này đã “phản ánh sâu sắc và trung thực” cuộc đấu tranh của những thể loại mới - biện minh cho sự ra đời của nó trong khi trước nó chưa hề xuất hiện những hiện tượng tương tự. Chính những lời đầu sách này khẳng định và thừa nhận vị trí của thể loại mới trong văn học - cái vị trí mà các thể loại khác không thể so sánh được. Do đó qua Lời tựa này chúng ta đọc được tham vọng của Nguyễn Trọng Quản, phải chăng ông muốn xây dựng và cổ vũ mọi người cùng xây dựng một nền văn chương viết bằng “tiếng thường mọi người hằng nói” mà Truyện thầy Lazarô Phiền có lẽ mới chỉ là một thí nghiệm đầu tiên? Cả thiên truyện trên dưới khoảng 30 trang mà người đọc không hề bắt gặp một câu văn biền ngẫu. Tác giả đã sử dụng hoàn toàn ngôn ngữ đời thường rất xuôi tai, rõ nghĩa.
 Giai đoạn cuối thế kỷ XIX việc sử dụng ngôn ngữ đời thường nôm na để sáng tác văn chương đã trở thành một quan niệm trong ý thức của một số tác giả mà người khởi xướng là Trương Vĩnh Ký và được đẩy cao ở Nguyễn Trọng Quản. Sở dĩ có chủ trương viết văn xuôi bằng lời nói thường, nôm na một mặt là do mục đích xã hội hóa chữ quốc ngữ mà mọi người đều dễ nhận thấy(10). Theo chúng tôi còn một lí do lịch sử nữa quyết định tới việc sử dụng ngôn ngữ này. Bởi khi tiếp xúc với văn xuôi quốc ngữ giai đoạn cuối thế kỷ XIX người đọc thường bắt gặp một hiện tượng tên riêng của các tác giả được ghép với tên thánh đó là Pétrus Ký, Paulus Của hay P.J.B Nguyễn Trọng Quản… Điều này cho thấy nguồn gốc xuất thân của họ giống nhau: là những người công giáo. Chính nguồn gốc xuất thân này là một lợi thế của họ (so với các tác giả có xuất thân từ Nho giáo vốn được đào tạo trong cái nôi của văn chương cử tử) trong việc sáng tác bằng ngôn ngữ đời thường. Bởi ở vào thời điểm đó khi đại đa số người thưởng thức và sáng tác chỉ biết đến văn vần hay văn biền ngẫu thì trong các giáo đoàn Ki tô đã sớm có sự “bột phát của một nền văn xuôi dễ dãi, đơn sơ gồm tiếng nói hàng ngày, ít chữ nho, không có điển tích” (11). Là những người công giáo, các tác giả này đã được sống, đào tạo trong một môi trường văn chương phi truyền thống - văn học phương Tây, cụ thể là văn học Pháp, hơn nữa lại được tiếp xúc và thừa hưởng nền văn xuôi Thiên chúa giáo đã phát triển và có những thành tựu nhất định tồn tại 3 thế kỷ trong các giáo đoàn, giáo dân Ki tô và sớm làm quen với lối viết “chuyện kể” - một lối văn dễ dãi, bình dân, nôm na, ai nghe cũng hiểu ngay của nền văn xuôi Nôm công giáo có từ những thế kỷ trước với một loạt những tác phẩm về sự tích của các ông thánh như: Truyện các thánh của Jéronimo Maiorica (1646), Sách thánh của Dominique Martigia (1848), Quan quang Nam Việt của Pierre Marie Gendreau Đông (1902), Sách truyện các thánh của Joseph Marie Bigorlet Kính (1905) (12), và “gần 500 truyện nôm do Majoria biên soạn tại Kẻ Rum, Nghệ An” (thế kỷ XVII) (13). Có lẽ nền văn chương tôn giáo này đã tạo “cơ sở vững chãi” cho sự ưu thắng của chữ quốc ngữ trên con đường sáng tác văn xuôi. Và mầm mống của một nền văn xuôi sử dụng ngôn ngữ đời thường cũng được khởi phát từ đây qua những trí thức công giáo tiếp xúc sớm với văn học phương Tây.
 Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng ngôn ngữ nôm na như lời nói thường mà các tác giả cuối thế kỷ XIX này sử dụng chưa đạt được tính nghệ thuật cao, thậm chí có nhà nghiên cứu còn coi sáng tác của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của là “văn ghi chép khẩu ngữ”(14). Nhưng chúng ta cũng không thể không ghi nhận sự xuất hiện của một chủ trương, một quan niệm mới về cách viết (đã được thí nghiệm và có thành công). Điều này đã phần nào khẳng định sự ưu thế của văn xuôi quốc ngữ - một nền văn xuôi lấy ngôn ngữ đời thường làm nền tảng.
 Văn chương cần hướng đến những vấn đề của đời sống thực tại với những con người đời thường là đặc điểm nổi bật thứ hai trong quan niệm văn học của các tác giả văn xuôi quốc ngữ giai đoạn cuối thế kỷ XIX.
 Vấn đề phản ánh hiện thực, đời sống thực tại là một trong những tiêu chí để khu biệt văn xuôi hiện đại với cổ điển. Bakhtin đã dùng tiêu chí hướng đến hiện tại của tiểu thuyết để khu biệt nó với thể loại sử thi vốn chỉ hướng đến quá khứ và lịch sử. Trong quan niệm sáng tác của các tác giả giai đoạn cuối thế kỷ XIX chúng ta cũng ghi nhận một xu hướng chú ý đến thực tại với những con người đời thường mang tính hiện thực.
 Trong buổi đầu sáng tác bằng chữ quốc ngữ, hai ông Trương, Huỳnh dường như đã lặp lại những bước đi của các tác giả văn xuôi chữ Hán trong nền văn học trung đại Việt Nam. Trong công việc sưu tầm, “góp nhóp trộn trạo” chuyện dân gian của các tác giả Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của (Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, Chuyện giải buồn) ta như gặp lại bóng dáng của Lý Tế Xuyên, Vũ Quỳnh - Kiều Phú, Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ trong việc sưu tầm hiệu đính ghi chép những chuyện kỳ lạ, huyền ảo trong dân gian (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục). Tuy nhiên nhìn vào văn phẩm mà hai tác giả này sưu tầm, ghi chép chúng ta thấy họ ưu tiên số lượng cho các tác phẩm phản ánh những quan hệ trong cuộc sống đời thường hàng ngày của những con người bình thường. Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của gồm 112 truyện thì có tới 70 truyện được dịch từ Liêu trai chí dị, nhưng tác giả lại chủ tâm chọn dịch những chuyện phản ánh con người đời thường và các mối quan hệ của họ trong cuộc sống trần tục (Chuyện voi, Chuyện tên Ất, Chuyện tên Giáp, Địa ngục miền dương gian...) chứ không phải những chuyện hồ ly, thư sinh, mộng mị mang nhiều yếu tố kỳ lạ chiếm phần lớn trong kho truyện Liêu trai chí dị.
 Không chỉ chọn lọc những truyện dân gian, Trương Vĩnh Ký bắt đầu có khái niệm về sự quan sát thực tế và ghi chép thực tế được biểu hiện qua tập du kí Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876 (1881). Ở đây tác giả đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong dịp ra Bắc hơn một tháng trời. Với con mắt của nhà khoa học người viết đã “quan sát, đón bắt, ghi nhận thay cho cái máy ảnh” (15) một cách chi tiết, cụ thể, sinh động hành trình chuyến đi theo thời gian, địa điểm thực tế qua các vùng đất Hải Dương, Hải Phòng, đặc biệt là Hà Nội với những danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Những trang du kí này đã phơi bày một hiện thực nhiều màu sắc qua sự quan sát mô tả thực tế của tác giả. Tất nhiên ở giai đoạn đầu này chúng ta phải thừa nhận “mô tả ở mức đơn sơ nhất, ít gia công tư duy nhất cũng đã là mới, cũng đã là phá vỡ khuôn sáo” (16).
 Trong tác phẩm Kiếp phong trần (1882) Trương Vĩnh Ký đã để nhân vật tự do bộc lộ những cảm xúc cá nhân của mình (những suy nghĩ về nhân tình thế thái, cách đối nhân xử thế, nhận thức về lẽ phải, trái ở đời...). Phải chăng đây cũng là một cách tự do bày tỏ suy nghĩ cá nhân của người viết - một trong những nội dung vốn xuất hiện rất hạn chế trong các hình thức văn học cũ nhưng lại khá phổ biến trong sáng tác văn xuôi hiện đại? Những câu hỏi đầy tính tò mò của nhân vật Lê Hảo Học và suy nghĩ rút ra từ trải nghiệm cuộc sống thực tế của nhân vật Trương Chí Đại tạo cho người đọc hứng thú mới, cảm xúc mới, suy nghĩ mới về kiếp người, cuộc sống, thực tế xã hội khác hẳn với quan niệm trước đây. Điều khiến người đọc hứng thú là những bài học kinh nghiệm quý giá đó được rút ra từ chính sự quan sát, trải nghiệm thực tế cuộc sống của nhân vật đã từng “được học hành thông kim bác cổ, lại thêm châu lưu khắp miền khắp xứ, điều nghe thấy rộng lắm, từng trải việc đời” (17) chứ không đơn thuần là bài học giáo lý khô khan học theo những gương trung thần hiếu nghĩa trong truyền thống.
 Qua những ghi chép và sáng tác bằng văn xuôi quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của chúng tôi nhận thấy các tác giả bắt đầu quan tâm đến vấn đề nhận thức, mô tả, phản ánh hiện thực mà không chỉ là hướng đạo nêu gương như trong văn học truyền thống. Cách lựa chọn đề tài cũng khác trước, không đề cao những nhân vật phi thường anh hùng liệt nữ hay ca ngợi những gương trung hiếu tiết liệt vốn ngự trị hàng ngàn năm trên văn đàn mà thiết thực gần gũi với đời sống hơn, có khi chỉ là những câu chuyện đơn sơ dí dỏm thường có trước mắt ta; có khi được lượm lặt trong những truyện dân gian của Việt Nam hoặc Trung Quốc thường được kể trong đám bình dân để giải trí hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe ở xứ người trong những dịp du ngoạn được tác giả kể lại mua vui cho độc giả hay đơn giản chỉ là muốn bày tỏ một thái độ của cá nhân trước cuộc đời... Tóm lại đó là những vấn đề có ý nghĩa đời sống thường ngày.
 Trong Truyện thầy Lazarô Phiền vấn đề phản ánh hiện thực mô tả cuộc sống bình thường với những con người đời thường đã được Nguyễn Trọng Quản quan tâm một cách đặc biệt. Tác giả không chỉ dụng ý đặt nhân vật người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, xưng tôi nhằm tạo cho người đọc cảm giác như đang được tiếp xúc với người thực, việc thực mà còn quan tâm tới cách tạo dựng tình tiết cốt truyện để tăng tính hiện thực của tác phẩm. Đáng chú ý hơn cả là việc Nguyễn Trọng Quản đã sử dụng nhiều mốc thời gian rất cụ thể chi tiết (18).
 Chính việc kê khai ngày tháng một cách cụ thể chi tiết như “một bản khai lí lịch” này, đặc biệt là thời điểm câu chuyện kết thúc (năm 1885) chỉ trước thời điểm tác giả viết (năm 1886) có một năm tạo cho người đọc cảm giác như đang được chứng kiến một câu chuyện có thật vừa mới xảy ra trong cuộc sống như vẫn đang hiện hữu đâu đây và còn rất nóng hổi. Đồng thời sức nặng của việc phản ánh hiện thực càng được thuyết phục khi tác giả đưa ra hai chú thích rất cụ thể. Chú thích thứ nhất nói về ngôi nhà thờ của những kẻ tử đạo được dựng lên ở Bà Rịa khiến người đọc có cảm giác câu chuyện xảy ra ở thời hiện tại rất gần với mình vì được tiếp xúc với một địa điểm có thật trong thực tế, ai cũng biết. Chú thích thứ hai, khi nghe thầy Phiền kể về sự kiện cấm đạo tại Biên Hòa, nhân vật người kể chuyện cũng xen cảm nghĩ của mình vào như xác nhận thêm một lần nữa sự chính xác trong lời kể của nhân vật (19). Ở đây chú thích là một dụng ý nghệ thuật của tác giả.
 Nguyễn Trọng Quản khi xây dựng cốt truyện là muốn cho người đọc cảm nhận đây là một “truyện có thực”, “xảy ra trước mắt” với những nhân vật, sự kiện của thời hiện tại chứ không phải là những truyện xưa tích cũ được đem ra kể lại. Có thể nói tính hiện thực, thời sự của tác phẩm được đẩy lên mức cao. Đây là một minh chứng thuyết phục cho quan niệm sáng tác văn chương hướng về đời sống thực, với những con người thực và “sự thường có trước mắt ta” mà tác giả đã tuyên bố trong lời Tựa mở đầu thiên truyện (20).
 Một đặc điểm nữa chúng tôi muốn nói đến trong quan niệm văn học của một số trí thức viết văn xuôi quốc ngữ giai đoạn cuối thế kỷ XIX là hướng đến người đọc bình dân, bước đầu chú ý đến thị hiếu của người thưởng thức.
 Là những trí thức cộng tác với người Pháp, Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của phải thực hiện sứ mệnh của mình theo những chính sách, nghị định của nhà nước bảo hộ đó là: xã hội hóa chữ quốc ngữ, phổ biến chữ quốc ngữ trong quần chúng nhân dân. Nhưng chính trong công việc đó hai ông đã có điều kiện để gieo hạt và ươm mầm cho một quan niệm mới về văn học. Nhìn từ góc độ xã hội, có thể nói nhiệm vụ xã hội hóa chữ quốc ngữ là la bàn định hướng cho Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của chú ý đến việc lựa chọn những tác phẩm văn học phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ - đạo đức của đông đảo người đọc. Nhưng việc lựa chọn những tác phẩm này cũng chứng tỏ thị hiếu của số đông độc giả trong xã hội là nhu cầu giải trí, mua vui cũng bắt đầu được người sáng tác quan tâm. Điều này đã ít nhiều đánh dấu bước thay đổi trong cách nghĩ, cách quan niệm về văn chương của những người sáng tác. Không kể một loạt những tác phẩm được dịch ra quốc ngữ rất phổ biến trong dân gian như Lục súc tranh công, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên... Trương Vĩnh Ký đã chọn lọc, “lựa nhón” những truyện “hay và có ích” trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam còn Huỳnh Tịnh Của thì ngoài việc ghi chép những truyện kể trong dân gian còn chọn dịch những truyện ngắn trong Liêu trai chí dị vốn rất quen thuộc và phổ biến đối với tầng lớp bình dân.
Chuyện giải buồn (1885) của Huỳnh Tịnh Của ngoài một số truyện rút ra từ kho tàng văn học dân gian dân tộc (Anh em ruột tranh gia tài, Ăn mày xin vàng nén, Phật đổ mồ hôi, Mua cua...) còn phần lớn được chuyển dịch từ Liêu trai chí dị (Chí khí cao, Đông Phương Sóc, Chuyện Ký viên, Ông Tơ bà Nguyệt, Quân mồ hóng, Chuyện Trang Tử....) nhưng tác giả đã có một chủ trương rõ ràng là chọn dịch những truyện gần gũi với quan niệm đạo đức - thẩm mĩ của dân gian về nhân quả, ca ngợi cái thiện, phê phán cái ác hơn là những gì cao siêu, bác học xa lạ với đông đảo công chúng. Điều này thể hiện rõ ý thức hướng đến đối tượng tiếp nhận rộng rãi là người đọc bình dân. Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký hầu hết là các chuyện khôi hài hoặc có tính cách khôi hài, chỉ nêu tên chuyện cũng đủ thấy điều đó như: Chàng rể bắt chước cha vợ, Thằng cha nhảy cà tứng, Hai anh sợ vợ, Thằng chồng khờ…
Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của đã rất có ý thức trong việc hướng đến kết hợp cái hay, cái có ích, tính phổ biến và dễ tiếp nhận để phù hợp với tâm lý, thị hiếu của độc giả bình dân. Các tác giả đã chú ý đến đối tượng tiếp nhận là đông đảo bạn đọc bình dân và nhu cầu thưởng thức văn học của họ là giải trí, mua vui. Tính giải trí, mua vui được đề cao và đặt lên hàng đầu. Chính cái ý thức hướng đến độc giả, chú ý đến thị hiếu người đọc của các tác giả này đã hàm chứa một quan niệm khác trước về sáng tác văn chương. Văn chương không phải để cho một số ít người có học thù tạc, mạn đàm, ngâm ngợi “khi chén rượu lúc cuộc cờ” mà phải hướng đến đông đảo quần chúng, hướng đến đời thường, thỏa mãn thị hiếu của số đông người thưởng thức. Ngay cả Nguyễn Trọng Quản khi viết Truyện thày Larazô Phiền (1887) cũng có mục đích “trước là làm cho trẻ con ham vui mà tập đọc” và “kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì đặng giải buồn một giây” (21).
Giai đoạn này Trương Minh Ký bên cạnh việc dịch hàng loạt tác phẩm của phương Tây ra văn vần đã dịch một số tác phẩm sang hình thức văn xuôi quốc ngữ như: Truyện Phan sa diễn ra quốc ngữ - 1884 (dịch 16 truyện ngụ ngôn của Laphôngten và 12 truyện của các tác giả phương Tây khác - trong đó chủ yếu là truyện ngụ ngôn). Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ - 1886 (dịch 150 truyện ngụ ngôn của Laphôngten dưới hình thức văn xuôi và văn vần). Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết những truyện dịch của Trương Minh Ký đều là truyện ngụ ngôn. Là một trí thức cộng tác với Pháp, Trương Minh Ký có điều kiện tiếp xúc sớm và nhiều với văn học Pháp và phương Tây nhưng trong cái kho tàng đồ sộ và phong phú của nhân loại ấy những tác phẩm được họ Trương quan tâm đầu tiên để chuyển dịch sang chữ quốc ngữ lại là truyện ngụ ngôn. Tác giả đã chú ý tới đối tượng tiếp nhận và thị hiếu của đông đảo độc giả bình dân mà món ăn ưa thích và phù hợp hơn cả đối với họ là những truyện ngụ ngôn có nội dung mang đậm tính giải trí, bình dân, trong đó gửi gắm những bài học luân lí nhẹ nhàng, dí dỏm, gần gũi với đời sống thường ngày. Điều này chứng tỏ việc chọn dịch tác phẩm của Trương Minh Ký là có chủ ý: hướng tới đối tượng thưởng thức là đông đảo độc giả bình dân.
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, qua những ghi chép, sưu tầm, sáng tác bằng văn xuôi quốc ngữ của các tác giả Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Trương Minh Ký, có thể nhận thấy những dấu hiệu của nền văn học mới bắt đầu manh nha qua những đột phá về quan niệm sáng tác - quan niệm văn xuôi viết bằng ngôn ngữ đời thường, hướng về những vấn đề của đời sống thực tại và chú ý tới đối tượng thưởng thức là những người bình dân. Quan niệm này rất mới mẻ và khác trước, nó tiệm cận với quan niệm sáng tác theo khuynh hướng tả thực được du nhập từ phương Tây. Nhưng ngay sau đó xu hướng sáng tác này không được phát huy ở Nam Bộ mà phải đến những năm 20 của thế kỷ sau mới xuất hiện ở Bắc Bộ và trở thành một khuynh hướng chủ đạo của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
*
1, 11. Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Nxb Trình Bày, Sài Gòn, quyển Hạ, 1867, tr.31, 25.
2. Nguyễn Thị Thanh Xuân, Văn học hiện đại Việt Nam bước khởi đầu quan trọng ở Sài Gòn - Nam Bộ, Tạp chí Văn học số 3-2000, tr.35.
3, 12. Nguyễn Huệ Chi, Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu, Tạp chí Văn học số 5-2002, tr.14, 13.
4. P.J.B Trương Vĩnh Ký, Chuyện đời xưa, Bản in lại của nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1962, tr.2.
5. Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1998, tr.29.
6, 15. Bằng Giang, Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký, Nxb Văn học, Hà Nội, 1993, tr.44.
7. P.J.B Trương Vĩnh Ký, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi - 1876, bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, 1881.
8, 19, 20, 21. Cao Xuân Mỹ (sưu tầm và tuyển chọn), Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, 1998, tr.16, 27, 17.
9. M.Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, 1992, tr.30.
10. Nguyễn Văn Hiệu, Văn chương quốc ngữ Nam Bộ nhìn từ quá trình xã hội hóa chữ quốc ngữ, Tạp chí Văn học số 5-2002, tr.21-28.
13. Dẫn theo Lại Văn Hùng, Truyện ngắn nhìn trong nguồn mạch, Tạp chí Văn học số 2-2001, tr.70.
14, 16. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng, Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr.284, 26.
17. P.J.B Trương Vĩnh Ký, Kiếp phong trần, Bản in nhà hàng C. Guilland et Martinon, 1882.
18. Hoàng Dũng, Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản - những đóng góp vào kỹ thuật hư cấu (fiction) trong văn học Việt Nam in trong sách Tự sự học một số vấn đề lý luận và lịch sử do Trần Đình Sử chủ biên, Nxb ĐHSP, Hà Nội, 2003, tr.302, 303.

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Những khám phá mới về Gia Định Báo





Phạm Long Điền
(Bách khoa giai phẩm)
Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên vừa ban hành nghị định đưa môn Quc văn lên giảng dạy lớp 12. Nghị định này có đề cập tới lịch sử báo chí Việt Nam. Như vậy, tờ Gia Định báo phải được nghiên cứu tường tận ngõ hầu cung cấp thêm tài liệu làm sáng tỏ thời kỳ đầu văn học quốc ngữ.
Cho tới nay, nhiều sách báo đã giới thiệu tờ báo đầu tiên của làng báo nước nhà. Tạp chí Bách Khoa đã đành một s đặc biệt kỷ niệm 100 năm báo chí số ra ngày 15/1/1966. Giáo sư Huỳnh Văn Tòng trong Lịch sử báo chí Việt Nam Trí Đăng xut bản, với các tài liệu thu thập tại Pháp, ông đã đưa ra một s dữ kiện khá chính xác liên hệ đến tờ Gia định báo. Ngoài ra còn một số tác giả khác giới thiệu qua tờ báo này. Tuy nhiên nếu đem so sánh các bài viết về Gia Định báo, ta nhận thấy một số điềm cần phải đính chánh.
Đây là tờ báo đầu tiên viết bẵng chữ quốc ngữ nhưng Thư viện quc gia Sài Gòn chỉ còn lưu lại ấn bản năm 1880 tức 15 năm sau nó ra đời.
Gần đây, trong lúc tìm tài liệu nghiên cu thời kỳ đầu văn học quc ngữ tại miền Nam, chúng tôi phát hiện được hai tài liệu có th soi sáng một số vấn đề liên hệ đến tờ Gia Định báo.
Tập tài liệu thứ nhứt là tập hồ sơ ca ông Trương Vĩnh Ký. Trong tập tài liệu này toàn bản chép tay nghị định và thơ từ qua lại giữa ông Trương Vĩnh Ký và nhà cầm quyền Pháp liên hệ đến tờ Gia Định báo. Tất cả gồm 53 văn kiện đều bằng chữ Pháp, viết tay với mực tím. Giấy đã vàng, rt dòn, đụng tới có th rách nhưng nét chữ còn đọc được.
Tập tài liệu thứ hai là bộ Gia Định báo năm 1870, n bản đặc biệt của Soái phủ Nam kỳ, thuộc loại giấy tt. Do đó tập báo cho đến nay vn còn nguyên vẹn, không rách nát hoặc lun như tờ Courrier de Saigon cùng năm 1870 hiện còn lưu trữ tại Thư viện quc gia Sàigòn. Năm 1870 rất hệ trọng đối với sự khởi sắc của tGia Định báo vì từ ngày 16/9/1869 nhà cầm quyền Pháp giao việc quán xuyến tờ báo cho ông Trương Vĩnh Ký. Trước kia, từ năm 1865 đến 1869, ông Ernest Poneau trông coi. Chúng tôi cũng tìm được 4 số Gia Định báo của thời kỳ 1865 - 1869. Nhờ đó, chúng ta có th so sánh tờ Gia Định báo trong hai thời kỳ 1865 -1869 và 1869 - 1897 từ hình thức tới nội dung.
Dĩ vãng sống lại qua nét chữ của ngòi viết lá tre màu mc tím
Tiu sử ca ông Trương Vĩnh nhiều sách báo đã nói tới. Trong thời gian 1866 -1868, ông làm Giám đốc trường Thông ngôn. Năm 1863, ông đệ đơn xin từ chức. Ngày 3/9/1868, ông Trương Vĩnh Ký viết thơ cho ông Giám đốc Nội trị đ báo trưc ý định ông muốn từ chc Giám đốc trường Thông ngôn đ được an nhàn trong cuộc sng riêng tư. Cuối thơ, ông có hứa lúc nào cũng phục vụ cho nhà nưc Pháp với mục đích gắn lin hai nước Pháp Nam.
Qua ngày 2/11/1868, ông Trương Vĩnh Ký chánh thức gởi đến ông Giám đốc Nội tr đơn xin từ chức. Trên t đơn này cạnh bên có ghi bằng viết chì xanh chữ Pháp còn đọc được: chấp thun”.
Ngày 15/9/1869, ông Trương Vĩnh Ký viết thơ cho ông Giám đc Nội trị biết là ông đồng ý quán xuyến tờ Gia Định báo một khi nhà nước giao phó. Nguyên văn bc thơ như sau:
Kính gởi ông Giám đốc Nội trị. Thưa Ông Giám đốc,
 Tôi hân hạnh tr lời cho Quan lớn và những đ nghị mà Quan ln cho biết đối với quan Thống soái.
Nếu một chánh sách khác với chánh sách mà tôi hằng mong theo đuổi, chánh sách mà tôi tin tưởng tốt, chánh sách ấy đã làm cho tôi xa rời guồng máy hành chánh, Quan ln c tin rằng tôi đã giữ niềm kính trọng thật ln lao đối với những vị cầm ging mi bộ máy hành chánh và lòng tin tưởng thật ln lao đi vi những thành quả thu đạt được.
Một kỷ nguyên mới mở ra cho xứ s, chng những tôi cảm thấy mà sự bình yên đến với dân chúng, lòng tin tưởng của họ càng ngày càng vững chc đối vi một chánh quyn chân thành và liêm khiết. Tt cả những điều đó làm cho tôi có bn phận nhận đ nghị mà Quan ln cho tôi biết, tôi sung sưng thấy trách cứ hẹp hòi trước đây đã làm xa cách các sự việc, giờ đây tan biến trước một cuộc vận động khích lệ.
Thưa ông Giảm đc,
Tôi cầu mong ông Giám đốc quả quyết với quan Thống soái là tôi hoàn toàn đặt dưới quyền của ngài giữa lúc không có cái chi cản trở tôi hân hạnh chu toàn trách vụ mà quan Thng soái muốn cho tôi lạm tròn.
Kính thơ”.
i thơ có chữ ký của ông Trương Vĩnh Ký và hàng chữ: Chợ quán ngày 15/9/1869”.
Qua ngày hôm sau tức 16/9/1869. Thống soái Nam kỳ là G. Ohier ban hành nghị định s 298 ủy thác cho ông Trương Vĩnh Ký làm Chủ bút tờ Gia định báo:
Thng Soái Nam kỳ thuộc Pháp,
Chiểu đ nghị ca Giám đốc Nội trị,
“Định:
K từ ngày hôm nay, việc biên tập tbáo An nam Gia định báo được giao cho ông Pétrus Trương Vĩnh Ký; với tư cách chánh tng tài tờ báo nàyt ông sẽ lãnh một bổng cấp hàng năm 3.000 phật lăng.
T báo tiếp tục ra hàng tuần. Nó chia làm hai phn: phần công v gồm  các văn thư, quyết định ca Quan Thng Soái và của nhà cm quyền nguyên văn bằng tiếng Pháp do Nha Nội trị cung cấp và ông Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ An nam; phần tạp vụ gồm các bài có ích cho sự học và vui thích vi các bài sử học, luân lý, thời sự đ có th đọc trong các trường bản x và làm cho dân chúng An nam chú ý.
Trước khi ấn hành, tờ báo chuyn đến Nha Nội trị.
Giám đc Nha Ni tr có nhiệm vụ thi hành nghị định này. Nghị định này sẽ ấn hành và đăng ở mọi nơi cần thiết.
i Gòn, ngày 16 tháng 9 năm 1869.
G. Ohier ký tên nhưng không có đóng du”,
Vi nghị định trên có 3 đim cần giải rõ:
- Từ trước ti nay, nhiều tác gi dịch Direction de L’Intérieur thời kỳ đầu Pháp thuộc là Nha Nội vụ. Trong Gia Định báo, danh từ đương thời là Nha Nội trị.
- Cũng dựa vào Gia Định báo, các nghị định cuối thế kỷ 19 đều ghi Thống soái Nam kỳ định ch không ghi Thống soái Nam kỳ quyết định như th thức lập nghị định ngày hôm nay.
- Với nghị định ngày 16/9/1869, ông Trương Vĩnh Ký được ủy thác làm chánh tng tài tức chủ bút tờ Gia Định báo. Mỗi s báo ấn hành trong năm 1870, phía cuối trang 4 đều có ghi P.Trương Vĩnh Ký, Gia Định báo chánh tng tài. Theo Đại nam quc âm tự vị của Hunh Tịnh Paulus Của, chánh tng tài là một tước quan lớn chủ trương việc gì như làm lịch, làm sách. Dictionnaire Vietnamien Fransais của Génibrel dịch chánh tồng tàiRedacteur en chef. Theo Đào Duy Anh, rédacteur en chef là chủ bút.
Sở dĩ chúng tôi phải nói rõ như trên là vì một số tác giả cho rằng với nghị định ngày 16/9/1869, ông Trương Vĩnh Ký được ủy thác làm Giám đốc và ông Hunh Tịnh Của làm Chủ bút tờ Gia Định báo. Chúng tôi đã đọc kỹ toàn tập  Gia định báo năm 1870 ch thấy nêu ông Trương Vĩnh Ký làm chánh tng tài, ông Đỗ Hữu Phương, ông Trần Bá Lộc và một số thông ngôn, ký lục, giáo tập ký dưi các bài trong phần tạp vụ. Chúng tôi không tìm thấy tên ông Paulus Của[1].
Nghị định ký ngày 16/9/1869 nhưng vì không có các s Gia Định báo 3 tháng cuối năm 1869, cho nên chúng ta không rõ ông Trương Vĩnh ký nhậm chức vào ngày nào. Tuy nhiên dựa vào tập báo 1870, báo ra đều đặn 4 kỳ vào các ngày 1, 8, 16 và 24 mỗi tháng. Vậy ta có th suy luận số báo do ông Trương Vĩnh Ký làm Chủ bút, phát hành ngày 24/9/1869.
Trong tập tài liệu hồ sơ Trương Vĩnh Ký có một thơ nét chữ nguệch ngoạc, giy đã vàng thâm kim nên khó đọc. Chúng tôi ch đọc được câu đầu: Tôi hân hạnh gởi đến Quan Thng soáí một ấn bản theo lịnh của Ngài giao phó cho chúng tôi biên tập tờ Gia Đnh báo. Những dòng sau quá lu m, ngày tháng cũng không được rõ. Có th đây là bức thơ ông Trương Vĩnh Ký gởi kèm theo tờ Gia Định báo số ấn hành khi ông bắt đầu làm Chủ bút.
Gia Định báo, tấm gương sinh hoạt của người dân trong Nam, thời k đầu bị tr
Như nghị định ngày 16/9/1869 đã ghi: Gia Định báo gồm hai phần: phần công vụ dành đ đăng các nghị định, thông tư, lời rao, biên bản các phiên tòa xử ca nhà cầm quyền thực dân, và phần th hai là phần tạp vụ. Chính phần th hai này mới đáng cho chúng ta nghiên cứu và định được giá trị của tờ báo trong tiến trình phát triển chữ quốc ngữ. Phần này tr nên phong phú với tài điều khiển ca ông Trương Vĩnh Ký.
Trong thời kỳ 1865-1869, Gia Định báo đúng là một tờ báo hoàn toàn thuộc loại công báo tc ch có phần công vụ. Nói cách khác nó ấn bn quốc ngữ của tờ Courries de Saigon, t công báo củạ Soái ph Nam kỳ ấnnh t năm 1864 hiện còn lưu trữ tại Thư viện quốc gia Sàigòn.
Đem so sánh ni dung Gia Định báo 1865-1869 với tờ Courries de Saigon, chúng ta thấy không chi khác biệt. Chúng ch khác về chữ viết và kh báo. Ch trương của hai tờ là ph biến các công văn của chánh quyền thuộc địa, một đằng cho Pháp kiều, một đằng cho dân bản xứ. Nhờ đó ta có th suy luận thêm v tờ Gia Định báo là ấn bn quốc ngữ của tờ Courries de Saigon, việc điều hành cả hai tờ đều thuộc Soái phủ Nam kỳ cho nên nhà cm quyền thời ấy chỉ cần cp một giấy phép cho tờ Gia Định báo mà không phải một nghị định. Giấy phép không có tính cách hệ trọng như nghị định cho nên giấy phép của tờ Gia Định báo không đăng vào tờ công báo tiếng Pháp. Trái lại nghị định ủy thác ông Trương Vĩnh Ký làm chú bút có đăng trong Courries de Saigon
Ngoài ra, trong s 7 Courrier đe Saigon ra ngày 5/4/1865 có đăng tin rất hệ trọng báo hiệu sự ra đời của tờ Gia Định báo:
Trong tháng này sẽ ra s thứ nhất một tờ báo in bằng tiếng Annam thông thường. Dưới một hình thức thu hẹp, n bn s gồm các tin tức ở thuộc địa, giá cả nhiều loại hàng và một vài ý niệm hữu ích cho người bn xứ. Tờ báo sẽ ra hàng tháng và sẽ phát không trong các trường học đ học sinh khá trong các làng mạc có th đọc được”.
Đến nặm 1869, tờ Gia Định báo mới được độc lập phần nào khi giao cho ông Trương Vĩnh Ký. Do đó Soái phủ Nam kỳ mới ký nghị định ngoài muc đích đề thanh toán bng cấp cho Ch bút của Gia Định báo mà còn nói lên n ý chánh tr là một người tài gii như ông Trương chắc hẳn được sự sủng ái ca nhà nước bảo hộ.
Với chủ bút Trương Vĩnh Ký, phần tạp vụ gồm tin tức các tnh, các bài sử ký, địa lý, các mu chuyện vui, các câu chuyện đí xưa. Chính phần tạp vụ này làm tăng giá trị tờ báo và đánh dấu sự chuyn mình của một tờ báo được khai sanh từ chủ đích chính trị thâm độc của chế độ thuộc địa.
Nhằm kêu gọi các thầy thông, thầy , giáo tập góp sức làm phong phú tờ báo bằng cách năng gởi bài và tin tức về, trong sỗ 6 Gia Định báo ra ngày 24/2/1870 phần tạp vụ có lời rao sau đây:
Từ nay sp ti ta trông cậy sẽ có nhiều chuyện cho người ta coi: vì nhờ có tờ chạy cho các thy giáo tập quốc ngữ (1) và các thầy thông ngôn các nơi trong cả sáu tnh mỗi tuần hay là nửa tháng thì chạy tờ vhọc lại những chuyện các nơi các tnh đ làm vô Gia Định báo cho thiên hạ hay.
Những chuyện làm hay, nói xuôi, đủ đều có ý chỉ nhằm cách nhằm thức thì ta s đ tên người làm kí (2), còn những bài nào khác hoặc nói không được xuôi lời nói, hay là nói lặp đi lặp lại khó nghe thi sẽ doản (3) lại cho dễ nghe. Lại cũng có khi chiều chuyện quá, nêu đề y theo tờ các thầy về, thì kẻ đọc nhựt trình coi không xiết, mà lại sinh nhàm ln thì ta sẽ gộp lại làm một chuyện dài ni đuôi cho d coi.
Đến khi mỗi tỉnh đều có tờ về làm vậy thì sẽ phân riêng ra từ tnh k chuyện cho rõ, d coi dễ kiếm. Xin các thy chớ quên đề ngày đ chỗ cho hẳn hoi.
Phép làm chuyện phải kĩ, tại chỗ nào? ngày nào? Tháng nào? Nhơn cớ làm sao? Ban đầu làm sao? Khúc gia thế nào? Sau hết ra việc gì? Lợi hay hại? May hay là rủi vân vân...
Như thầy nào có ý đem nhựt trình mà đề tên mình ki lấy thi xin nói trong tờ chạy về cho rõ. Vì chuyện nào có người kí tên vô thì là của người ấy, sau điều gì hay dở, người ta bắt lý hay là sinh đều cãi ly kiện cáo thì phải chịu ly.
Nói rng có chuyện chẳng được xuôi lời nói cho hai, hay lặp đi lặp lại, chẳng phải có ý chê các thầy không biết nói cho hay cho rõ, song vn là bồi có nhiều khi hoặc viết lật đật hoặc chẳng có giờ đ mà coi đ coi lại mà sửa, nên trong cả chuyện có ch có tiếng bất ý khó nghe, cái trước đề ra sau, còn cái sau đem ra trườc hóa ra chng rõ mấy mà thôi(Chép nguyên văn).
Với Gia Định báo là báo đầu tiên viết bằng quốc ngữ, bài báo trên đây là bài dậy làm báo đầu tiên ta nưc. Nó đặt nền tảng cho cách ly tin, viết phóng sự, nói chung là tạo dựng một tờ báo với đy đ sắc thái của nếp sống sinh hoạt của người dân. Phần tạp vụ đã gp cho tờ Gia Định báo bước thêm bước nữa trên tiến trình phát triển chữ quốc ngữ và ci tiến nghề là tờ báo ở nước ta trong giai đoạn đầu Nam kỳ thuộc Pháp./.



[1] Xem Những phát giác mới về Huỳnh Tịnh Paulus Của, cùng tác giả, sắp đăng, trên Bách Khoa