Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Tập đoàn truyền thông hàng đầu nước Mỹ The New York Times: Bán tống bán tháo để tồn tại


“Chúng ta cần phải thừa nhận rằng, thời của báo in đã thật sự qua rồi”. Đương kim Tổng thống Mỹ Barack Obama đích thực là chính khách thực sự thấu hiểu tình cảnh của truyền thông hiện nay khi đưa ra lời tuyên bố này trong chuyến thăm trung tâm hoàn thiện đơn hàng (Fulfillment Center) của công ty thương mại điện tử Amazon ở TP Chattanooga, bang Tennessee hôm 31/7/2013.

8 giải Pulitzer cũng bán
Sau rất nhiều đồn đoán, rốt cuộc đến ngày 3/8/2013, The New York Times Co- công ty sở hữu nhật báo danh tiếng The New York Times- cũng chính thức tuyên bố với thiên hạ rằng họ đã bán tờ báo The Boston Globe cho ông trùm thể thao John W. Henry lấy 70 triệu USD tiền mặt, chấm dứt 20 năm sở hữu tờ nhật báo này. Thật chua chát, tình cảnh tài chính khốn khó đã buộc New York Times Co phải nhắm mắt bán đi một tờ báo danh tiếng, có tuổi đời 120 năm và sở hữu tới 8 giải Pulitzer danh giá (trong đó có Pulitzer 2013) như The Boston Globe. Từ thương vụ mua bán rẻ như bèo này, The Boston Globe từ tầm vóc một tờ nhật báo quốc gia danh tiếng, trở thành một tờ báo địa phương không hơn. Chưa kể, việc The Boston Globe “ngã vào vòng tay” của ông chủ đội bóng chày Red Sox và đội bóng nổi tiếng Liverpool đang khiến dư luận lo ngại tờ báo sẽ đánh mất tính bình luận sắc bén và khách quan vốn có và trở thành “cái loa” phục vụ cho những lợi ích chủ quan của ông trùm John W. Henry, không hơn.

The Boston Globe từ tầm vóc một tờ nhật báo quốc gia danh tiếng, trở thành tờ báo địa phương sau khi bị bán.
Cùng với việc chia tay The Boston Globe, The New York Times Co cũng nói lời giã biệt với hàng loạt tài sản khác, gồm trang web BostonGlobe.com, Boston.com, The Worcester Telegram & Gazette, Telegram.com - sản phẩm số hóa đi kèm của hai tờ báo mà New York Times đã tốn không dưới 300 triệu USD để mua hồi năm 2000, GlobeDirect - công ty tiếp thị qua thư điện tử, và 49% cổ phần ở Metro Boston - tờ nhật báo miễn phí cho hành khách. Theo Reuters, sau 20 năm New York Times thâu tóm Boston Globe với cái giá “khủng” 1,1 tỷ USD hồi năm 1993 thì đến nay, John W. Henry – ông chủ của Red Sox – chỉ mất khoảng 70 triệu USD để sở hữu tờ báo. Điều chua chát với The New York Times Co, theo Reuters, số tiền 70 triệu USD nghe qua có vẻ to nhưng thực ra chưa bằng một phần mười so với khoản tiền mà New York Times Co bỏ ra khi mua Boston Globe năm 1993, với 1,1 tỷ USD.
Tương lai ảm đạm của New York Times Co
Lý giải cho thương vụ mua bán đình đám này, Mark Thompson, Giám đốc điều hành của New York Times Co cho biết: “Với kết quả của thương vụ này, chúng tôi có thể tập trung hơn vào trọng tâm hoạt động của công ty và đầu tư cho thương hiệu The New York Times và chất lượng báo chí”. Nhưng có lẽ, chẳng mấy ai tin nổi lời CEO người Anh này. Việc bán tống bán tháo mọi thứ, từ truyền hình đến đài phát thanh, hàng chục tờ báo địa phương, các công ty kỹ thuật số... là bằng chứng cho thấy một đế chế truyền thông hùng mạnh như New York Times Co cũng đã phải gục ngã trước những vùng xoáy khủng khiếp của cơn bão truyền thông toàn cầu. “Tập trung đầu tư cho The New York Times” thực ra chỉ là điệp khúc biện minh cho sự gục ngã không gì cưỡng lại nổi của New York Times Co trong cơn khủng hoảng truyền thông. Bởi cách đây hơn một năm, năm 2012, lãnh đạo New York Times Co cũng đưa ra điệp khúc ấy để lý giải cho quyết định bán tháo tới 16 tờ báo thuộc sở hữu của tập đoàn. Hay mới đây là bán About Group cho IAC/InterActiveCorp lấy 300 triệu USD.
Mark Thompson, đầy danh tiếng và kinh nghiệm, từ BBC Anh quốc tới đã không thể làm nên luồng sinh khí mới nào. Dư luận tự hỏi, không biết sắp tới đây, New York Times Co sẽ bán tiếp cái gì trong số gần 30 tờ báo, 20 tạp chí, 5 kênh truyền hình, hai đài phát thanh của mình. Và hơn thế nữa, những người yêu mến tập đoàn truyền thông danh tiếng này lo lắng không biết sau thương vụ này, New York Times Co có đứng vững hay lại giẫm lên vết xe đổ của những đại gia truyền thông Mỹ. Trước đó không lâu, các hãng tin lớn của Mỹ như Chicago Tribune, Los Angeles Times, Philadelphia Inquirer, Minneapolis Star Tribune... đều đã kết thúc số phận trong phá sản. Giữa tháng 7/2013 vừa qua, PC World, tờ tạp chí duy nhất về máy tính còn duy trì được ấn bản giấy cũng buộc phải thông báo sẽ đình bản kể từ tháng 8.
Hà Trang

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Hội tụ truyền thông là gì?



TRUYỀN THÔNG HỘI TỤ


Nguyễn Bùi Khiêm

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã dẫn đến sự thay đổi vai trò cho các nhà báo và những điều kiện cần thiết cho các nhà báo đa kỹ năng hoạt động tạo ra sự đột phá mang tính cách mạng về cách làm tin và đưa tin. Hình thức hoạt động mới của báo chí đặt ra yêu cầu mới về kỹ năng và quy trình sáng tạo các sản phẩm báo chí.
Ngoài nhiệm vụ truyền thống của họ, các phóng viên trở thành phải sử dụng máy camera, ghi âm; vừa là phóng viên, biên tập viên, vừa làm chủ nhiệm, trợ lý sản xuất, sản xuất và có thể phải trực tiếp sử dụng các chương trình biên tập.
Một xu hướng phát triển trong các nhà truyền thông là nhiều nhà báo có thể làm việc cho nhiều hơn một phần quy trình của truyền thông truyền thống. Các nhà báo phát thanh truyền thống hàng ngày phải nộp cả bản tin phát thanh (đương nhiên), bản tin video cho truyền hình và bản text cho báo in và cho các phiên bản trực tuyến của tờ báo của họ. Đó chính là sự hội tụ.
Từ thực tiễn hoạt động đó, khoa học báo chí đang đi theo một đường hướng rõ ràng. Hầu hết các khóa học báo chí ở các cơ sở đào tạo đã và đang phải có bước dịch chuyển về chương trình đào tạo với những nội dung và kỹ năng phù hợp để đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp truyền thông cho các nhà báo đa kỹ năng. Sinh viên được đào tạo để học các kỹ năng không chỉ trong phương tiện truyền thông truyền thống mà còn trên nhiều nền tảng phương tiện truyền thông.
1. Lý thuyết về truyền thông hội tụ 
Hội tụ công nghệ là xu hướng tích hợp vào một hệ thống nhiều công nghệ khác nhau để phát triển theo hướng thực hiện nhiệm vụ tương tự. Hội tụ có thể tham khảo công nghệ riêng biệt đã có từ lâu nay như giọng nói (voice), dữ liệu (data, text, graphic), và hình ảnh (video) thành một nguồn tài nguyên có thể chia sẻ và tương tác với nhau.
Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông kỹ thuật số vào cuối thế kỷ 20 đã làm cho nó có thể cho các tổ chức phương tiện truyền thông có thể phát hành, cung cấp văn bản, âm thanh và tài liệu video qua các phương thức truyền tin có dây, kết nối không dây, hoặc cáp quang cùng. Đồng thời, nó lấy cảm hứng từ một số tổ chức phương tiện truyền thông để khám phá giao thức đa phương tiện thông tin (Multimedia). Thuật ngữ hội tụ kỹ thuật số của phương tiện truyền thông (Mediamorphosis) của nhà nghiên cứu Roger Fidler đưa ra trong một cuốn sách của ông từ năm 1997. 
Ngày nay, chúng ta được bao quanh bởi một phương tiện truyền thông hội tụ đa cấp mà tất cả các phương thức truyền thông và thông tin liên tục để thích ứng với nhu cầu lâu dài của công nghệ: “thay đổi cách chúng ta tạo ra, tiêu thụ, tìm hiểu và tương tác với nhau”.
Hội tụ trong trường hợp này được định nghĩa là sự nối kết với nhau các máy tính và công nghệ thông tin khác, nội dung truyền thông, và các mạng lưới thông tin liên lạc đã phát sinh như là kết quả của sự phát triển và phổ biến của Internet cũng như các hoạt động, các sản phẩm và dịch vụ đã xuất hiện trong các không gian phương tiện truyền thông kỹ thuật số. 
2. Hội tụ truyền thông
Hội tụ truyền thông là giao điểm giữa phương tiện truyền thông cũ và mới. Jenkins nói rằng hội tụ truyền thông: “Là dòng chảy của nội dung thông tin trên nhiều nền tảng phương tiện truyền thông, sự hợp tác giữa các ngành công nghiệp truyền thông và hành vi dịch chuyển (moblie) của công chúng sử dụng  phương tiện truyền thông”.
Phương tiện truyền thông hội tụ không chỉ là một sự thay đổi công nghệ, quy trình công nghệ, nó cũng bao gồm những thay đổi trong mô hình công nghiệp, văn hóa và xã hội khuyến khích người tiêu dùng để tìm kiếm thông tin mới. Hội tụ, chỉ cần đặt, là cách người tiêu dùng cá nhân tương tác với những người khác trên phương diện xã hội và sử dụng nền tảng phương tiện truyền thông khác nhau để tạo ra những trải nghiệm mới, hình thức mới của phương tiện truyền thông và nội dung kết nối xã hội, và không chỉ cho người tiêu dùng khác, nhưng các nhà sản xuất của công ty của phương tiện truyền thông trong những cách mà đã không được như dễ dàng tiếp cận trong quá khứ.
Những tiến bộ trong công nghệ mang lại khả năng hội tụ công nghệ mà Rheingold tin rằng có thể thay đổi “hiệu ứng xã hội” mà bên trong đó “thế giới ảo, xã hội và thể chất được va chạm, kết hợp và phối hợp”.
Nó đã được dự đoán trong những năm 1990 rằng một cuộc cách mạng kỹ thuật số sẽ diễn ra, những phương tiện truyền thông cũ sẽ được đẩy sang một bên bởi phương tiện truyền thông mới. Báo chí nói chung, trong đó có phát thanh, truyền hình ngày càng được thay thế bằng Internet, cho phép người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới được tự do truy cập nội dung phương tiện truyền thông ưa thích của họ dễ dàng hơn và với tốc độ ngày càng hơn.
Trong xã hội ngày nay, ý tưởng của phương tiện truyền thông hội tụ đã một lần nữa nổi lên mang tính cách mạng với mô hình phương tiện truyền thông cũ ngày càng được thay thế bằng phương tiện truyền thông mới. Mô hình hội tụ cho thấy rằng phương tiện truyền thông mới và cũ sẽ tương tác theo những cách phức tạp hơn so với dự đoán trước đây. Sự thay đổi mô hình theo sau cuộc cách mạng kỹ thuật số cho rằng phương tiện truyền thông mới đã được thay đổi ở tất cả mọi khía cạnh khác nhau. 
Phương tiện truyền thông hội tụ, trong thực tế, không chỉ là một sự thay đổi trong công nghệ. Nó làm thay đổi mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp, công nghệ, khán giả, thể loại và thị trường. Phương tiện truyền thông hội tụ về cơ bản là một quá trình chứ không phải là kết quả, vì vậy không có hộp đen kiểm soát dòng chảy của phương tiện truyền thông. Với sự phát triển của các kênh truyền thông khác nhau và tính di động ngày càng tăng của viễn thông mới và các công nghệ máy tính, chúng ta đã bước vào một thời đại mà phương tiện truyền thông liên tục bao quanh chúng ta.
Phương tiện truyền thông hội tụ yêu cầu công ty truyền thông xem xét lại những giả định hiện tại về phương tiện truyền thông từ quan điểm của người tiêu dùng, như những ảnh hưởng tiếp thị và quyết định lập trình. Các nhà sản xuất phương tiện truyền thông phải trả lời cho người tiêu dùng mới được trao quyền.
Ngược lại, có vẻ như phần cứng đó là thay vì phân kỳ trong khi nội dung phương tiện truyền thông đang hội tụ. Phương tiện truyền thông đã phát triển thành thương hiệu có thể cung cấp nội dung trong một số hình thức. Hai ví dụ về điều này là Star Wars  The Matrix. Cả hai đều là những bộ phim, nhưng cũng là những cuốn sách, trò chơi video, phim hoạt hình, và con số hành động. Xây dựng thương hiệu khuyến khích mở rộng của một khái niệm, chứ không phải là việc tạo ra các ý tưởng mới. Trong khi đó, phần cứng đã đa dạng hóa để thích ứng hội tụ truyền thông. Phần cứng phải được cụ thể cho từng chức năng.
3. Sức mạnh và điểm yếu của truyền thông hội tụ
Một tác động tích cực của hội tụ là hiệu quả trong việc tạo ra nội dung và sản phẩm cho phép để thỏa mãn nhu cầu thông tin của người tiêu dùng. Đài truyền hình được phép có sâu hơn báo cáo vì quan hệ đối tác với báo. Báo chí và các đài truyền hình được phép cung cấp các báo cáo đa phương tiện đầy đủ các sự kiện thông qua Internet.
Tuy nhiên, một trong những tác động tiêu cực của báo chí hội tụ là lợi ích ít hơn là kiểm soát các thông tin cung cấp cho khán giả đại chúng. Dường như không có ai đặc biệt quan tâm trong rà soát thông tin trên Web, trên thực tế là không thể kiểm soát được.
Ý tưởng “dân chủ hóa thông tin” là tuyệt vời, tuy nhiên, có vẻ như chúng ta vẫn cần một cái gì đó hoạt động như một người gác cổng.  Cơ cấu báo chí truyền thống với người gác cổng của nó - biên tập viên và nhà xuất bản - chắc chắn là không hoàn hảo, nhưng nó đã cố gắng để sản xuất tin rằng có phần khách quan. Khách quan dường như là một giá trị bị loại bỏ trong xã hội hiện tại của chúng ta.
Tóm lại, sự xuất hiện của hội tụ truyền thông đáp ứng nhu cầu công nghệ kỹ thuật số đã được nâng lên trong vài năm qua. Và điều quan trọng là phải hiểu rằng hội tụ làm sáng tỏ về tương lai của các phương tiện truyền thông và những biến đổi đó sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta.
Với các chuyên gia và sinh viên báo chí trong sự nghiệp báo chí tương lai của họ, những chuyển biến mới mang tính thời đại đã đặt ra những yêu cầu rất quan trọng để tìm hiểu những gì hội tụ truyền thông nói chung, báo chí nói riêng với những thách thức mà công nghệ đã mang lại.
Trong tương lai, phương tiện truyền thông truyền thống phải nắm lấy phương tiện truyền thông mới. Các nhà báo phải được trang bị kiến ​​thức, kỹ năng nhiều hơn. Và họ sẽ cần phải tham gia với một loạt các công nghệ và phong cách làm việc, cả trong và ngoài kỹ năng nghiệp vụ báo chí truyền thống.


Nguyenbuikhiem@gmail.com

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

Đối tượng nghiên cứu của Báo chí học (phần 1)




ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA BÁO CHÍ HỌC

(Phần 1)

Những năm gần đây, nhiều người cho rằng khái niệm truyền thông và khái niệm báo chí dường như là đồng nghĩa. Trước đây, khi chúng ta nóì báo chí, cũng có nghĩa là nói đến các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, các hãng thông tấn. Nhưng ngày nay, khi mở cửa giao lưu với thế giới, khái niệm truyền thông được sử dụng tương đối phổ biến, nhiều người vẫn nghĩ rằng nói truyền thông chỉ là một cách nói khác đi của báo chí. Đã có một số văn bản viết là truyền thông đại chúng (gọi tắt là báo chỉ). Thực ra cách nói này không thật chính xác, vì khái niệm truyền thông đại chúng có nghĩa rộng hơn khái niệm báo chí rất nhiều. Nói đến truyền thông tức là nói đến tất cả mọi hình thức trao đổi thông tin giữa con người với con người, trong đó có cả báo chí, thậm chí báo chí là một kênh rất quan trọng của truyền thông đại chúng. Nhưng ngoài báo chí ra, truyền thông đại chúng còn bao gồm cả các phương tiện và hình thức khác như điện ảnh, nhà xuất bản, các dịch vụ tin tức, intơnét và vệ tinh, các cuộc hội thảo, các hình thức vận động quần chúng v.v.. Có những hình thức truyền thông như báo cáo viên nói chuyện trực tiếp với công chúng không thông qua một phương tiện hỗ trợ nào. Chúng ta có thể hình dung lĩnh vực truyền thông đại chúng như một cái hình tròn, trong hình tròn đó chứa đựng một hình tròn bé hơn. Hình tròn bé hơn đó chính là báo chí.
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nêu một ví dụ đơn giản nhất ví truyền thông là một cuộc hội thoại thường ngày. Một người phụ nữ khi gặp một người đàn ông đã nói: Chào anh! Cô ta là nguồn; mục đích của cô ta là tạo mối liên hệ. Thông điệp là Chào anh!, kênh truyền phải là lời nói, và người đàn ông mà thông điệp gửi đến là người nhận. Khi người đàn ông nghe thấy lời chào và đáp lại, truyền thông đã xẩy ra. Hiệu quả là một sự thân tình được đón nhận, anh ta mỉm cười và đáp Chào em! Em cố khoẻ không?”. Đây là phản ứng cùa anh ta; nó trở thành yếu tố phản hồi với người phụ nữ và quá trình truyổn thông đơn giản đã hoàn thiện.
Đây dường như ỉà một sự phức tạp hoá một tình huống giao tiếp đơn giản, nhưng nếu chúng ta hiểu được các thành phẩn trong quá trình truyền thông đơn giản này thì sẽ hiểu quá trình truyẻn thông đại chúng một cách dễ dàng hơn.
n báo chí ỉà những phương tiện thông tin đại chúng có đặc điểm trước hết là một quá trình truyền thông phi cá nhân, nghĩa là không thể phát hành một tờ báo hay một chương trinh phát thanh, truyền hình bằng kết quả lao động của chỉ một người. Đã từ lâu, các nhà báo cách mạng Việt Nam xác định báo chí là người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể và người tổ chức tập thể. Về đối tượng tiếp nhận thông tin báo chí cũng mang tính chất đại chúng, nghĩa là số luợng người cùng tiếp nhận một nguồn tin thường là đông đảo. Nhưng số lượng độc giả, khán giả, thính giả thường thay đi và ít có hội để có thông tin phản hi. Đẽ thực hiện một quá trình truyền thông bằng báo chí, nhất định phải cần đến các công cụ như máy móc, mực, giấy để in ấn, phương tiện đ ghi hình, ghi âm và phát sóng ...
Khi đã xác định được rằng báo chí là một kênh quan trọng của truyn thông đại chúng, muốn cho báo chí hoạt động có hiệu quả, chúng ta nhất thiết phải quan tâm đến báo chí học - một ngành khoa học dù còn non trẻ ờ nước ta nhưng có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến hệ thổng báo chí thực tiên (nghể làm báo), đc biệt là trong công tác đào tạo người làm báo tương lai các trường đại học.
Kết quả hoạt động thực tin của báo chí có thể đạt đến sự đồng nhất trong việc cung cấp những thành quả nhất định trong một xã hội nhất định. Chúng ta có thể trình bày quan niệm này một cách rõ ràng hơn: Những thành quả mà báo chí đem lại cho xã hội hiện nay thể hiện ở chỗ báo chí phản ánh hiện thực khách quan mà trong đố chứa đựng những giá trị mới mẻ. Những giá trị này một mặt tác động trực tiếp đến công chúng, mặt khác, những nhân viên làm công tác truyền thông vận dụng chúng để kết hợp với những hiểu biết của mình như vấn đề nhân chủng học, dân số học, đặc điểm tâm lý từng vùng, min... tạo ra những thông tin mới phù hợp với từng đối tượng phục vụ cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác truyền thông. Có thể coi đó là giá trị thực tin của thông tin báo chí đối với giới truyền thông. Ví dụ như giới truyn thông khai thác thông tin báo chí để vận dụng vào công việc cụ thể trong tiếp thị, vận động quần chúng, nghiên cứu thị trường... Nói cách khác là giới truyền thông sẽ căn cứ vào những mô hình hiện thực của xã hội để khai thác thông tin báo chí và vận dụng một cách hợp lý.
Trong quá trình tái tạo hiện thực, h thống ứng dụng của báo chí (tức nghề làm báo) thường chú trọng phản ánh những ch đề có thể thu hút sự chú ý của công chúng. Đó chính là sự biểu hiện của tính thường xuyên trong hoạt động báo chí. Vn đ này đặt ra cho hệ thống báo chí học nhiệm vụ tìm hiểu xem tính thường xuyên nào là cơ bản trong việc tìm kiếm những yếu tố có thể tạo nên sự chú ý. Đây cũng chính là mối quan tâm của khoa học truyền thông. Vì thế khoa học truyền thông luôn luôn liên quan đến thực tin nghề làm báo.
Qua việc báo chí học nghiên cứu để tạo lập lý thuyết và định hướng cho hoạt động thc tin của nghề báo, tính thường xuyên sẽ được phát hiện và lý giải. Sự lý giải này gắn bó với nghề làm báo như là một hoạt động tái tạo nằm trong tính thường xuyên của khoa học xã hội. Tuy nhiên hiện tượng này không thể hiện đều nhau trong các ỉoaị hình báo ciúv Quan niệm trên đây không có nghĩa là có sự đồng nhất giữa thực hành báo chí và báo chí học mặc dù cả hai lĩnh vực này đều có nhiệm vụ nghiẻn cứu về khả năng tái tạo hiện thực. Bởi vì báo chí học quan tâm trước hết đến những yếu tố có khả năng quyết định đến sự xuất hiện cùa nội dung. Còn điều kiện để tạo nên một cơ cấu hợp lý ca các cơ quan báo chí. Và kết quả của quá trình gây ảnh hưng tới hành vi ca các phương tiện thông tin đại chúng chỉ có thể nói tới trong từng trường hợp cụ thể.
Từ đó chúng ta sẽ thấy rằng giữa khoa học truyền thông và báo chí học có sự khác nhau. Trong khi khoa học truyền thông tập trung sự chú ý vào điểm đầu, nơi luôn luôn có sự biểu hiện hành vi của cơ quan hoặc của người chủ có vai trò làm xuất hiện nội dung. Điều này tạo nên ranh giới giữa công tác nghiên cứu về người làm truyền thông và các lĩnh vực khác của khoa học truyền thông, ví dụ như nghiên cứu về tác động cùa truyền thông.
Nguợc lại, báo chí học với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu thường hướng tới các quy tắc, cơ cấu, chức năng và địa vị ca các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình. Điểu đó có nghĩa là báo chí học giống như cầu nối giữa khoa học truyền thông và báo chí thc tiễn.
Để làm sáng rõ hơn về đối tượng của báo chí học, chúng ta hãy tìm một ví dụ trong thực tiễn có tính phức tạp, như báo chí viết về các lĩnh vực khoa học chẳng hạn. Đây là một lĩnh vực tương đối khó đối với nhà báo. Sự ngăn cách về sự hiểu biết các chuyên ngành sâu thường cản trở công việc của nhà báo, trong khi đó nhiệm vụ của báo chí là phải đơn giản hoá các công thức, bảng biểu và các thuật ngữ chuyên môn của các nhà khoa học thành ngôn ngữ đại chúng để độc giả có thể hiểu được. Vì thế nghiên cứu về lĩnh vực này là điều cần thiết cho công tác giảng dạy.
Việc nghiên cứu về báo khoa học, trước hết phải tìm hiểu và nắm chắc phạm vi đề tài, soi sáng cấu trong mối liên hệ giữa nhà khoa học và nhà báo, phân tích có hệ thống phạm vi tìm kiếm thông tin của nhà báo trong hoạt động cùa các nhà khoa học. Bằng cách đó ta có thể nhận biết được những gì đã làm trở ngại đến việc tìm kiếm thông tin và loại bỏ nó.
Nhiệm vụ của báo chí học trong lĩnh vực này còn phải chỉ rõ xem ở khâu nào sự lựa chọn tin tức thường bị thất bại, nhằm giúp các phóng viên trong việc phát triển cách chọn lựa thông tin phù hợp. Khi nghiên cứu về báo chí khoa học phải nắm bắt và hệ thống hoá các phương pháp thu thập, xử lý và chuyển tải thông tin cùa người làm báo khoa học. Bởi vì báo chí khoa học có những đặc thù mà không thể ứng dụng phương pháp phổ thông như trong các lĩnh vực khác.
Những nội dung mang tính quy phạm như trên vẫn chưa thể gọi là đầy đủ vì còn thiếu một phần kết về lý thuyết, tương tự như phần quan trọng mang tính thực tiễn. Bởi vì yêu cầu cùa công tác đào tạo là chí ít thì khi ra trường, người làm báo cũng phải có đủ khả năng để diễn đạt ý tưởng của mình thành văn bản. Đó chính là những khuôn mẫu mang tính chế định mà trong thực tiễn báo chí gọi là phương thức diễn đạt bao gồm nội dung và các hình thc thể hiện qua phương tiện thông tin. Những vấn đề này vô cùng quan trọng đối với người làm báo, nhưng là vấn đề quyết định ca công tác đào tạo.
(còn nữa)

Nguyenbuikhiem@gmail.com

Đối tượng nghiên cứu của Báo chí học (phần 2)

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA BÁO CHÍ HỌC

(Phần 2)

Qua hơn mười năm làm đào tạo người làm báo ở Tờng Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) có thể rút ra nhận định như sau:
-         Sinh viên được đào tạo trường, khi mới tốt nghiệp tỏ ra rất lúng túng trong việc thu thập và xử lý thông tin.
-         Sn phẩm báo chí của họ mang tính sáng tác nhiều hơn là dựa vào sự kiện có thật do họ khai thác được.
-         Khi có đủ tư liệu cần thiết họ có thể hoàn thành văn bản tác phẩm báo chí rẩt nhanh.
Từ đây chứng ta có thể thấy được những khiếm khuyết của công tác đào tạo hiện nay. Trừ phần lý thuyết xây dựng văn bản tác phẩm, ngành báo chí học còn để lại quá nhiều lỗ hổng trong tri thức của học viên. Vậy thì việc san lấp các lỗ hổng đó cần được thục hiện ra sao? Đây là công việc cần làm ca công tác đào tạo.
Mực đích của báo chí học là gây ảnh hương, tác động tới công tác thực hành báo chí để làm cho nó phát triển nhanh hơn, chắc chắn hơn và ngày càng sâu sắc hơn. Hiệu quà của sự tác động này là rất khác nhau, tùy thuộc vào chỗ nó được vận dụng vào lĩnh vực nào. Nếu không thì sẽ có nguy cơ là đặt hy vọng phi thực tế vào tầm quan trọng mang tính thực tiễn của báo chí học. Do đó, chúng ta phải tìm hiểu k hơn công việc của báo chí học, phải trả lời được các câu hi sau đây:
- Hệ thống các phương tiện thông tin tạo ra các điều kiện gì cho nghề báo? (các nguyên tắc).
- Những áp lực nào mà thể chế truyền đặt ra cho nghề báo (cơ cu).
-         Những nội dung được sản xuất trong hệ thống báo chí thực tiễn tạo nên kết quả gì và tác động như thế nào? (chức năng).
- Những kỳ vọng gì được đặt ra cho những người làm trong hệ thống báo chí? (vai trò, địa vị).
Cần phải nghiên cứu các nguyên tắc, cơ cấu, chc năng và vai trò của hệ thống các phương tiện thông tin để xác định xem cái gì là biểu hiện đặc trưng của nghề báo, tc là cái gì là yếu tố cần thiết nhất để có thể cung cấp những bức tranh hiện thực của đời sống xà hội theo những điều kiện và nguyên tắc trên đây.
Hiện nay ở nước ta rõ ràng là báo chí học còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu v những vấn đề này, cho nên trong công tác đào tạo phóng viên và cả công tác đào tạo trình độ sau đại học còn để một mảng trống về báo chí học.
Chúng ta thử mô hình hoá những điu vừa bàn luận trên đây:
Mô hình này được biếu thị bằng những hình tròn (hay vuông) xung quanh người phóng viên. Người phóng viên giữa với tư cách là người tạo ra những thông tin thời sự. Đế rõ hơn, ta có thể dùng phép ẩn dụ để so sánh hệ thống báo chí với một củ hành tây. Mô hình củ hành tây dn chúng ta đến một cách sắp xếp có h thống - nó là nn tng cho một bảng liệt kê những đóng góp có tính khoa học đối với ngành Báo chí học.
Vòng tròn ngoài cùng những quy tắc hệ thống các phương tiện thông tin chịu ảnh hưởng trực tiếp như điều kiện khung có tính xã hội, nn tảng lịch sử và pháp lý, các biện pháp của chính sách truyền thông và cả các tiêu chuẩn đạo đức và tiêu chuẩn nghề nghiệp đối vớỉ hoạt động báo chí.
Vòng tròn thứ hai thể hiện cơ cấu của nghề báo mà trước hết là những yếu tố tạo nên sức ép đối với các cơ quan báo chí, sc ép này có s tác động khác nhau đối với các bộ phận riêng rẽ. Đó là nhng sức ép v kinh tế, chính trị, tổ chc và kỹ thuật. Sức ép chính trị thường tác động gián tiếp thông qua các mối liên quan về kinh tế và tổ chức.
Vòng tròn thứ ba thể hiện chức năng, nhiệm vụ của nghề báo. Điều này nói v những thành tựu và khả năng tác động của hệ thống báo chí: các phóng viên dựa vào nguổn tư liệu nào, họ bắt đầu với nguồn thông tin nào và lệ thuộc vào chúng mức độ nào? Bài báo dựa theo khuôn mu nào, có hình thức diễn đạt nào và được tác giả vận dụng như thế nào? Theo nguyên tắc nào để phóng viên có thể viết bản tin về các sự kiện? Thực tế được tái tạo trong tác phẩm báo chí mang đặc điểm gì? Các sàn phẩm báo chí mang lại kết quả gì? Một câu hỏi trung tâm trong mối liên hệ với hiệu quả của báo chí là ảnh hưởng của báo chí đối với suy nghĩ, quan điểm và hành vi của công chúng và tác động ngược trở lạỉ đốỉ với sự xuất hin ca bài báo như thế nào?
Vòng tròn trong cùng nói v cá nhân nguời làm báo. Rt cuộc, trong việc tái tạo hiện thực, người làm báo bị bao bọc trong các mối quan hệ với nguyên tc, cơ cấu và trách nhiệm, mỗi thứ ấn định hành vi của họ là một cấp độ nào đó. Hành vi của người làm báo luôn luôn giao động trong khuôn khổ nhất định của những điều kiện truyền thông hiện đại. Khuôn khổ đó dựa trên những điu kiện lịch sử luôn luôn đổi mới. Đẻ tài và chù đề trong công việc của người làm báo là các kiểu vai trò lập thể (stereo) và các khuôn mẫu liên quan, những đặc điểm của chúng và các quan điểm, thái độ, và cuối cùng là việc chuyên môn hoá và xã hội hoá của những người làm báo.
Những yếu tố xác định hành vi của nghề báo có thể tách ra để phân tích một cách có h thống và để chỉ ra cho các cơ quan đào tạo người làm báo thấy được rằng cần trang bị cho học viên những loại kiến thức gì. Công việc này đặt ra cho báo chí học một loạt vấn đề. Trước hết phải xác định được những môn học cơ bản và những môn học bổ trợ mà tính hệ thống đặt ra. Bởi vì cùng với những quy tắc, cơ cấu, vai trò và nhiệm vụ của báo chí là những lĩnh vực khoa học khác được vận dụng trong hoạt động thực hành báo chí. Ví dụ như khi giải quyết những công việc mang tính quy phạm, nhà báo phải sử dụng đến những kiến thức pháp luật, lịch sử và triết học, đối với những vấn đề thuộc cơ cấu là kinh tế học, khoa học truyền thông, xã hội học và cả tin học nữa; đối với phạm trù chc năng là xã hội học trong một phạm vi đặc biệt, khoa học truyền thông và tâm lý học xã hội; đối với vai trò, vị trí là xã hội học và khoa học truyền thông. Chúng ta hiểu bộ môn hỗ trợ như những phần tri thức trung gian, có nghĩa là luôn luôn có sự bổ sung và rơi rụng do những giới hạn về năng lực và thẩm quyển của các nhà nghiên cứu riêng rẽ.
Thực tiễn ngành Báo chí học cũng có giới hạn. Có thể nói tới sự khác biệt giữa hệ thống khoa học và hệ thống ứng dụng. Vấn đề là báo chí học tạo ra sự kích thích cho báo chí thực tiễn. Nhưng thực tiễn báo chí lại ch có thể là một phần của báo chí học trong tư cách là lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu khi về cơ bản nó có thể nm bt (nhận thức) và giới thiệu được. Cho nên ở đây có thể nói đang tổn tại một thực tin ca thực tiễn: thành phn nhạy cảm ca hành vi báo chí trong các cơ quan thông tin đại chúng được giới thiệu qua việc xã hội hoá. Trong khuôn khổ của báo chí học, nó có thể đì tượng của những phân tích khoa học, nhưng rất hạn chế./.


Nguyenbuikhiem@gmail.com