8 giải Pulitzer cũng bán
Sau rất nhiều đồn đoán, rốt cuộc đến ngày 3/8/2013, The New York Times Co- công ty sở hữu nhật báo danh tiếng The New York Times- cũng chính thức tuyên bố với thiên hạ rằng họ đã bán tờ báo The Boston Globe cho ông trùm thể thao John W. Henry lấy 70 triệu USD tiền mặt, chấm dứt 20 năm sở hữu tờ nhật báo này. Thật chua chát, tình cảnh tài chính khốn khó đã buộc New York Times Co phải nhắm mắt bán đi một tờ báo danh tiếng, có tuổi đời 120 năm và sở hữu tới 8 giải Pulitzer danh giá (trong đó có Pulitzer 2013) như The Boston Globe. Từ thương vụ mua bán rẻ như bèo này, The Boston Globe từ tầm vóc một tờ nhật báo quốc gia danh tiếng, trở thành một tờ báo địa phương không hơn. Chưa kể, việc The Boston Globe “ngã vào vòng tay” của ông chủ đội bóng chày Red Sox và đội bóng nổi tiếng Liverpool đang khiến dư luận lo ngại tờ báo sẽ đánh mất tính bình luận sắc bén và khách quan vốn có và trở thành “cái loa” phục vụ cho những lợi ích chủ quan của ông trùm John W. Henry, không hơn.
The Boston Globe từ tầm vóc một tờ nhật báo quốc gia danh tiếng, trở thành tờ báo địa phương sau khi bị bán.
Cùng với việc chia tay The Boston Globe, The New York Times Co cũng nói lời giã biệt với hàng loạt tài sản khác, gồm trang web BostonGlobe.com, Boston.com, The Worcester Telegram & Gazette, Telegram.com - sản phẩm số hóa đi kèm của hai tờ báo mà New York Times đã tốn không dưới 300 triệu USD để mua hồi năm 2000, GlobeDirect - công ty tiếp thị qua thư điện tử, và 49% cổ phần ở Metro Boston - tờ nhật báo miễn phí cho hành khách. Theo Reuters, sau 20 năm New York Times thâu tóm Boston Globe với cái giá “khủng” 1,1 tỷ USD hồi năm 1993 thì đến nay, John W. Henry – ông chủ của Red Sox – chỉ mất khoảng 70 triệu USD để sở hữu tờ báo. Điều chua chát với The New York Times Co, theo Reuters, số tiền 70 triệu USD nghe qua có vẻ to nhưng thực ra chưa bằng một phần mười so với khoản tiền mà New York Times Co bỏ ra khi mua Boston Globe năm 1993, với 1,1 tỷ USD.
Tương lai ảm đạm của New York Times Co
Lý giải cho thương vụ mua bán đình đám này, Mark Thompson, Giám đốc điều hành của New York Times Co cho biết: “Với kết quả của thương vụ này, chúng tôi có thể tập trung hơn vào trọng tâm hoạt động của công ty và đầu tư cho thương hiệu The New York Times và chất lượng báo chí”. Nhưng có lẽ, chẳng mấy ai tin nổi lời CEO người Anh này. Việc bán tống bán tháo mọi thứ, từ truyền hình đến đài phát thanh, hàng chục tờ báo địa phương, các công ty kỹ thuật số... là bằng chứng cho thấy một đế chế truyền thông hùng mạnh như New York Times Co cũng đã phải gục ngã trước những vùng xoáy khủng khiếp của cơn bão truyền thông toàn cầu. “Tập trung đầu tư cho The New York Times” thực ra chỉ là điệp khúc biện minh cho sự gục ngã không gì cưỡng lại nổi của New York Times Co trong cơn khủng hoảng truyền thông. Bởi cách đây hơn một năm, năm 2012, lãnh đạo New York Times Co cũng đưa ra điệp khúc ấy để lý giải cho quyết định bán tháo tới 16 tờ báo thuộc sở hữu của tập đoàn. Hay mới đây là bán About Group cho IAC/InterActiveCorp lấy 300 triệu USD.
Mark Thompson, đầy danh tiếng và kinh nghiệm, từ BBC Anh quốc tới đã không thể làm nên luồng sinh khí mới nào. Dư luận tự hỏi, không biết sắp tới đây, New York Times Co sẽ bán tiếp cái gì trong số gần 30 tờ báo, 20 tạp chí, 5 kênh truyền hình, hai đài phát thanh của mình. Và hơn thế nữa, những người yêu mến tập đoàn truyền thông danh tiếng này lo lắng không biết sau thương vụ này, New York Times Co có đứng vững hay lại giẫm lên vết xe đổ của những đại gia truyền thông Mỹ. Trước đó không lâu, các hãng tin lớn của Mỹ như Chicago Tribune, Los Angeles Times, Philadelphia Inquirer, Minneapolis Star Tribune... đều đã kết thúc số phận trong phá sản. Giữa tháng 7/2013 vừa qua, PC World, tờ tạp chí duy nhất về máy tính còn duy trì được ấn bản giấy cũng buộc phải thông báo sẽ đình bản kể từ tháng 8.
Hà Trang
|
Khiemnguyen
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thông học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013
Tập đoàn truyền thông hàng đầu nước Mỹ The New York Times: Bán tống bán tháo để tồn tại
Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013
Hội tụ truyền thông là gì?
TRUYỀN THÔNG HỘI TỤ
Nguyễn Bùi Khiêm
|
Sự phát triển của
công nghệ thông tin đã dẫn đến sự thay đổi vai trò cho các nhà báo và những
điều kiện cần thiết cho các nhà báo đa kỹ năng hoạt động tạo ra sự đột phá
mang tính cách mạng về cách làm tin và đưa tin. Hình thức hoạt động mới của báo
chí đặt ra yêu cầu mới về kỹ năng và quy trình sáng tạo các sản phẩm báo chí.
Ngoài nhiệm vụ truyền thống của họ, các phóng
viên trở thành phải sử dụng máy camera, ghi âm; vừa là phóng viên, biên tập
viên, vừa làm chủ nhiệm, trợ lý sản xuất, sản xuất và có thể phải trực tiếp sử
dụng các chương trình biên tập.
Một xu hướng
phát triển trong các nhà truyền thông là nhiều nhà báo có thể làm việc cho
nhiều hơn một phần quy trình của truyền thông truyền thống. Các
nhà báo phát thanh truyền thống hàng ngày phải nộp cả bản tin phát thanh (đương
nhiên), bản tin video cho truyền hình và bản text cho báo in và cho các phiên
bản trực tuyến của tờ báo của họ. Đó chính là sự hội tụ.
Từ thực tiễn
hoạt động đó, khoa học báo chí đang đi theo một đường hướng rõ ràng. Hầu hết các khóa học báo chí ở các cơ
sở đào tạo đã và đang phải có bước dịch chuyển về chương trình đào tạo với
những nội dung và kỹ năng phù hợp để đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp
truyền thông cho các nhà báo đa kỹ năng. Sinh viên được đào tạo để học các kỹ
năng không chỉ trong phương tiện truyền thông truyền thống mà còn trên nhiều
nền tảng phương tiện truyền thông.
1. Lý thuyết về truyền thông hội tụ
Hội tụ công nghệ là xu hướng tích hợp vào một hệ thống nhiều
công nghệ khác nhau để phát triển theo hướng thực hiện nhiệm vụ tương tự. Hội tụ có thể tham khảo công nghệ
riêng biệt đã có từ lâu nay như giọng nói (voice), dữ liệu (data, text, graphic),
và hình ảnh (video) thành một nguồn tài nguyên có thể chia sẻ và tương tác với
nhau.
Sự phát triển
mạnh mẽ của truyền thông kỹ thuật số vào cuối thế kỷ 20 đã làm cho nó có thể
cho các tổ chức phương tiện truyền thông có thể phát hành, cung cấp văn bản, âm thanh và tài liệu video qua
các phương thức truyền tin có dây, kết nối không dây, hoặc cáp quang cùng. Đồng thời, nó lấy cảm hứng từ một số
tổ chức phương tiện truyền thông để khám phá giao thức đa phương tiện thông tin
(Multimedia). Thuật ngữ hội tụ kỹ
thuật số của phương tiện truyền thông (Mediamorphosis) của nhà nghiên cứu Roger
Fidler đưa ra trong một cuốn sách của ông từ năm 1997.
Ngày nay,
chúng ta được bao quanh bởi một phương tiện truyền thông hội tụ đa cấp mà tất
cả các phương thức truyền thông và thông tin liên tục để thích ứng với nhu cầu
lâu dài của công nghệ: “thay đổi cách chúng ta tạo ra, tiêu thụ, tìm hiểu và tương
tác với nhau”.
Hội tụ trong trường
hợp này được định nghĩa là sự nối kết với nhau các máy tính và công nghệ thông
tin khác, nội dung truyền thông, và các mạng lưới thông tin liên lạc đã phát
sinh như là kết quả của sự phát triển và phổ biến của Internet cũng như các
hoạt động, các sản phẩm và dịch vụ đã xuất hiện trong các không gian phương
tiện truyền thông kỹ thuật số.
2. Hội tụ truyền thông
Hội tụ truyền
thông là giao điểm giữa phương tiện truyền thông cũ và mới. Jenkins nói rằng hội tụ truyền thông:
“Là dòng chảy của nội dung thông tin trên nhiều nền tảng phương tiện truyền
thông, sự hợp tác giữa các ngành công nghiệp truyền thông và hành vi dịch
chuyển (moblie) của công chúng sử dụng phương tiện truyền thông”.
Phương tiện
truyền thông hội tụ không chỉ là một sự thay đổi công nghệ, quy trình công
nghệ, nó cũng bao gồm những thay đổi trong mô hình công nghiệp, văn hóa và xã
hội khuyến khích người tiêu dùng để tìm kiếm thông tin mới. Hội tụ, chỉ cần đặt, là cách người
tiêu dùng cá nhân tương tác với những người khác trên phương diện xã hội và sử
dụng nền tảng phương tiện truyền thông khác nhau để tạo ra những trải nghiệm
mới, hình thức mới của phương tiện truyền thông và nội dung kết nối xã hội, và
không chỉ cho người tiêu dùng khác, nhưng các nhà sản xuất của công ty của
phương tiện truyền thông trong những cách mà đã không được như dễ dàng tiếp cận
trong quá khứ.
Những tiến bộ
trong công nghệ mang lại khả năng hội tụ công nghệ mà Rheingold tin rằng có thể
thay đổi “hiệu ứng xã hội” mà bên trong đó “thế giới ảo, xã hội và thể chất
được va chạm, kết hợp và phối hợp”.
Nó đã được dự
đoán trong những năm 1990 rằng một cuộc cách mạng kỹ thuật số sẽ diễn ra, những phương tiện truyền
thông cũ sẽ được đẩy sang một bên bởi phương tiện truyền thông mới. Báo chí nói chung, trong đó có phát thanh, truyền hình ngày
càng được thay thế bằng Internet, cho phép người tiêu dùng khắp nơi trên thế
giới được tự do truy cập nội dung phương tiện truyền thông ưa thích của họ dễ
dàng hơn và với tốc độ ngày càng hơn.
Trong xã hội
ngày nay, ý tưởng của phương tiện truyền thông hội tụ đã một lần nữa nổi lên mang
tính cách mạng với mô hình phương tiện truyền thông cũ ngày càng được thay thế
bằng phương tiện truyền thông mới. Mô hình hội tụ cho thấy rằng phương tiện
truyền thông mới và cũ sẽ tương tác theo những cách phức tạp hơn so với dự đoán
trước đây. Sự thay đổi mô hình
theo sau cuộc cách mạng kỹ thuật số cho rằng phương tiện truyền thông mới đã
được thay đổi ở tất cả mọi khía cạnh khác nhau.
Phương tiện truyền
thông hội tụ, trong thực tế, không chỉ là một sự thay đổi trong công nghệ. Nó làm thay đổi mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp, công
nghệ, khán giả, thể loại và thị trường. Phương tiện truyền thông hội tụ về cơ
bản là một quá trình chứ không phải là kết quả, vì vậy không có hộp đen kiểm soát dòng chảy của phương
tiện truyền thông. Với sự phát
triển của các kênh truyền thông khác nhau và tính di động ngày càng tăng của
viễn thông mới và các công nghệ máy tính, chúng ta đã bước vào một thời đại mà
phương tiện truyền thông liên tục bao quanh chúng ta.
Phương tiện
truyền thông hội tụ yêu cầu công ty truyền thông xem xét lại những giả định
hiện tại về phương tiện truyền thông từ quan điểm của người tiêu dùng, như
những ảnh hưởng tiếp thị và quyết định lập trình. Các nhà sản xuất phương tiện truyền
thông phải trả lời cho người tiêu dùng mới được trao quyền.
Ngược lại, có
vẻ như phần cứng đó là thay vì phân kỳ trong khi nội dung phương tiện truyền
thông đang hội tụ. Phương tiện
truyền thông đã phát triển thành thương hiệu có thể cung cấp nội dung trong một
số hình thức. Hai ví dụ về điều
này là Star Wars và The Matrix. Cả
hai đều là những bộ phim, nhưng cũng là những cuốn sách, trò chơi video, phim
hoạt hình, và con số hành động. Xây
dựng thương hiệu khuyến khích mở rộng của một khái niệm, chứ không phải là việc
tạo ra các ý tưởng mới. Trong khi đó,
phần cứng đã đa dạng hóa để thích ứng hội tụ truyền thông. Phần cứng phải được cụ thể cho từng
chức năng.
3. Sức mạnh và điểm yếu của truyền thông
hội tụ
Một tác động
tích cực của hội tụ là hiệu quả trong việc tạo ra nội dung và sản phẩm cho phép
để thỏa mãn nhu cầu thông tin của người tiêu dùng. Đài truyền hình được phép có sâu hơn
báo cáo vì quan hệ đối tác với báo. Báo
chí và các đài truyền hình được phép cung cấp các báo cáo đa phương tiện đầy đủ
các sự kiện thông qua Internet.
Tuy nhiên, một
trong những tác động tiêu cực của báo chí hội tụ là lợi ích ít hơn là kiểm soát
các thông tin cung cấp cho khán giả đại chúng. Dường như không có ai đặc biệt quan
tâm trong rà soát thông tin trên Web, trên thực tế là không thể kiểm soát được.
Ý tưởng “dân
chủ hóa thông tin” là tuyệt vời, tuy nhiên, có vẻ như chúng ta vẫn cần một cái
gì đó hoạt động như một người gác cổng.
Cơ cấu báo chí truyền thống với người gác cổng của nó - biên tập viên và nhà
xuất bản - chắc chắn là không hoàn hảo, nhưng nó đã cố gắng để sản xuất tin
rằng có phần khách quan. Khách
quan dường như là một giá trị bị loại bỏ trong xã hội hiện tại của chúng ta.
Tóm lại, sự
xuất hiện của hội tụ truyền thông đáp ứng nhu cầu công nghệ kỹ thuật số đã được
nâng lên trong vài năm qua. Và
điều quan trọng là phải hiểu rằng hội tụ làm sáng tỏ về tương lai của các
phương tiện truyền thông và những biến đổi đó sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta.
Với các chuyên
gia và sinh viên báo chí trong sự nghiệp báo chí tương lai của họ, những chuyển
biến mới mang tính thời đại đã đặt ra những yêu cầu rất quan trọng để tìm hiểu
những gì hội tụ truyền thông nói chung, báo chí nói riêng với những thách thức
mà công nghệ đã mang lại.
Trong tương
lai, phương tiện truyền thông truyền thống phải nắm lấy phương tiện truyền
thông mới. Các nhà báo phải được
trang bị kiến thức,
kỹ năng nhiều hơn. Và họ sẽ cần
phải tham gia với một loạt các công nghệ và phong cách làm việc, cả trong và
ngoài kỹ năng nghiệp vụ báo chí truyền thống.
Nguyenbuikhiem@gmail.com
|
Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013
Đối tượng nghiên cứu của Báo chí học (phần 1)
ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU CỦA BÁO CHÍ HỌC
(Phần 1)
|
Những năm gần đây, nhiều người cho rằng khái niệm truyền
thông và khái niệm báo chí dường như là đồng nghĩa. Trước đây, khi chúng ta nóì báo chí, cũng có
nghĩa là nói đến các phương
tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, các hãng thông
tấn. Nhưng ngày nay, khi mở cửa giao lưu với thế giới, khái niệm truyền thông
được sử dụng tương đối phổ biến, nhiều người vẫn nghĩ rằng nói truyền thông chỉ
là một cách nói khác đi của báo chí. Đã có một số văn bản viết là truyền thông đại chúng (gọi tắt là báo chỉ). Thực ra cách
nói này không thật chính xác, vì khái niệm truyền thông đại chúng có nghĩa rộng hơn khái
niệm báo chí rất nhiều. Nói đến truyền thông tức là nói đến tất cả mọi hình
thức trao đổi thông tin giữa con người với con người, trong đó có cả báo chí,
thậm chí báo chí là một kênh rất quan trọng của truyền thông đại chúng. Nhưng
ngoài báo chí ra, truyền thông đại chúng còn bao gồm cả các phương tiện và hình
thức khác như điện ảnh, nhà xuất bản, các dịch vụ tin tức, intơnét và
vệ tinh, các cuộc hội thảo, các hình thức vận động quần chúng v.v.. Có những hình thức truyền thông như báo cáo viên
nói chuyện trực tiếp với công chúng không thông qua một phương tiện hỗ trợ nào.
Chúng ta có thể hình dung lĩnh vực
truyền thông đại chúng như một cái hình tròn, trong hình tròn đó chứa đựng một
hình tròn bé hơn. Hình tròn bé hơn đó chính là báo chí.
Các nhà nghiên
cứu Hoa Kỳ đã nêu một ví dụ đơn giản nhất ví truyền thông là một cuộc hội thoại
thường ngày. Một người phụ nữ khi gặp một người đàn ông đã nói: “Chào anh!” Cô ta là nguồn; mục đích của cô ta là tạo mối liên
hệ. Thông điệp là “Chào
anh!”, kênh
truyền phải là lời nói, và người đàn ông mà thông điệp gửi đến là người nhận.
Khi người đàn ông nghe thấy lời chào và đáp lại, truyền thông đã xẩy ra. Hiệu
quả là một
sự thân tình được đón
nhận, anh ta mỉm cười và đáp “Chào
em! Em cố khoẻ không?”. Đây
là phản ứng cùa anh ta; nó trở thành yếu tố phản hồi với người phụ nữ và quá trình
truyổn thông đơn giản đã hoàn thiện.
Đây dường như
ỉà một sự phức tạp hoá một tình huống giao tiếp đơn giản, nhưng nếu chúng ta
hiểu được các thành phẩn trong quá trình truyền thông đơn giản này thì sẽ hiểu quá trình
truyẻn thông đại chúng một cách dễ dàng hơn.
Còn báo chí ỉà
những phương tiện thông tin đại chúng có đặc điểm trước hết là một quá
trình truyền thông phi cá nhân, nghĩa là không thể phát hành một tờ báo hay một chương trinh
phát thanh, truyền hình bằng kết quả lao động của chỉ một người. Đã từ lâu, các nhà báo
cách mạng Việt Nam xác định báo chí là
người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể và người tổ chức tập thể.
Về đối tượng tiếp nhận thông tin báo chí cũng mang tính chất đại chúng, nghĩa là số luợng người
cùng tiếp nhận một nguồn tin thường là đông đảo. Nhưng số lượng độc giả, khán giả, thính giả thường thay đổi và ít có cơ hội để có thông tin phản hồi. Đẽ thực
hiện một quá trình truyền thông bằng báo chí, nhất định phải cần đến các công
cụ như máy móc, mực, giấy để in ấn, phương tiện để ghi hình, ghi âm và phát sóng ...
Khi đã
xác định được rằng báo chí là một “kênh” quan trọng của truyền
thông đại chúng, muốn cho báo chí hoạt động có hiệu
quả, chúng ta nhất thiết phải quan tâm đến báo chí học - một ngành khoa học dù
còn non trẻ ờ nước ta nhưng có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến
hệ thổng báo chí thực tiên (nghể làm báo), đặc biệt là trong công tác đào tạo người làm báo
tương lai ờ các trường đại học.
Kết quả hoạt
động thực tiễn của
báo chí có thể
đạt đến sự đồng nhất trong việc cung cấp những thành quả nhất định trong một xã
hội nhất định. Chúng ta có thể trình bày quan niệm này một cách rõ ràng hơn:
Những thành quả mà báo chí đem lại cho xã hội hiện nay thể hiện ở chỗ báo chí
phản ánh hiện thực khách quan mà trong đố chứa đựng những giá trị mới mẻ. Những
giá trị này một mặt tác động trực tiếp đến công chúng, mặt khác, những nhân
viên làm công tác
truyền thông vận dụng chúng để kết hợp với những hiểu biết của mình như vấn đề nhân chủng học,
dân số học, đặc điểm tâm lý từng vùng, miền... tạo ra những thông tin mới phù hợp với từng đối tượng phục
vụ cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
truyền thông. Có thể
coi đó là
giá trị thực tiễn của
thông tin báo chí đối với giới truyền thông. Ví dụ như giới truyền thông khai
thác thông tin báo chí để vận dụng vào công việc cụ thể trong tiếp thị, vận
động quần chúng, nghiên cứu thị trường... Nói cách khác là giới truyền thông sẽ
căn cứ vào những mô hình hiện thực của xã hội để khai thác thông tin báo chí và
vận dụng một cách hợp lý.
Trong quá
trình tái tạo hiện thực, hề thống ứng dụng của báo chí (tức nghề làm báo) thường chú trọng phản ánh
những chủ đề có
thể thu hút sự chú ý của công chúng. Đó
chính là sự
biểu hiện của tính thường xuyên trong hoạt động báo chí. Vấn đề này đặt ra
cho hệ thống báo chí học nhiệm vụ tìm hiểu xem tính thường xuyên nào là cơ bản
trong việc tìm
kiếm những yếu tố có thể tạo nên sự chú ý. Đây cũng chính là mối quan tâm của
khoa học truyền thông. Vì thế khoa học truyền thông luôn luôn liên quan đến
thực tiễn nghề
làm báo.
Qua việc báo
chí học nghiên cứu để tạo lập lý thuyết và định hướng cho hoạt động thực tiễn của nghề báo, tính thường xuyên sẽ được phát hiện và lý giải. Sự lý giải này gắn bó với nghề làm báo như là một hoạt động tái tạo nằm trong tính
thường xuyên của khoa học xã hội. Tuy nhiên hiện tượng này không thể hiện đều
nhau trong các ỉoaị hình báo ciúv Quan niệm trên đây không có nghĩa là có sự
đồng nhất giữa thực hành báo chí và báo chí học mặc dù cả hai lĩnh vực này đều
có nhiệm vụ nghiẻn cứu về khả năng tái tạo hiện thực. Bởi vì báo chí học quan tâm trước hết đến những yếu
tố có khả năng quyết định đến sự xuất hiện cùa nội dung. Còn điều kiện để tạo
nên một cơ cấu hợp lý của các cơ quan báo chí. Và kết quả của quá trình gây ảnh hưởng tới hành vi của các phương tiện thông tin đại chúng chỉ có thể
nói tới trong từng trường hợp cụ thể.
Từ đó chúng ta
sẽ thấy rằng giữa khoa học truyền thông và báo chí học có sự khác nhau. Trong
khi khoa học truyền thông tập trung sự chú ý vào điểm đầu, nơi luôn luôn có sự biểu hiện hành vi của cơ quan hoặc
của người chủ có vai
trò làm
xuất hiện nội dung. Điều này tạo nên ranh giới giữa công tác nghiên cứu về
người làm truyền
thông và các lĩnh vực khác
của khoa học
truyền thông, ví dụ như nghiên cứu về tác động cùa truyền thông.
Nguợc lại, báo
chí học với tư cách là một lĩnh vực nghiên
cứu thường hướng tới các quy tắc, cơ cấu, chức năng và địa vị của các phương tiện
thông tin đại chúng như báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình. Điểu đó có nghĩa
là báo chí học
giống như cầu nối giữa khoa học truyền thông và báo chí thực tiễn.
Để làm sáng rõ hơn về đối tượng của báo chí học,
chúng ta hãy tìm một ví dụ trong thực tiễn có tính phức tạp, như báo chí viết
về các lĩnh vực khoa học chẳng hạn. Đây là một lĩnh vực tương đối khó đối với
nhà báo. Sự ngăn cách về sự hiểu biết các chuyên ngành sâu thường cản trở công
việc của nhà báo, trong khi đó nhiệm vụ của báo chí là phải đơn giản hoá các
công thức, bảng biểu và các thuật ngữ chuyên môn của các nhà khoa học thành “ngôn ngữ” đại chúng để độc giả có
thể hiểu được. Vì thế nghiên cứu về lĩnh vực này là điều cần thiết
cho công tác giảng dạy.
Việc nghiên cứu về báo khoa học, trước hết phải
tìm hiểu và nắm chắc phạm vi đề tài, soi sáng cơ cấu
trong mối liên hệ giữa nhà khoa học và nhà báo, phân tích có hệ thống phạm vi
tìm kiếm thông tin của nhà báo trong hoạt động cùa các nhà khoa học. Bằng cách
đó ta có thể nhận biết được những gì đã làm trở ngại đến việc tìm kiếm thông
tin và loại bỏ nó.
Nhiệm vụ của báo chí học trong lĩnh vực này còn
phải chỉ rõ xem ở khâu nào sự lựa chọn tin tức thường bị thất bại, nhằm giúp
các phóng viên trong việc phát triển cách chọn lựa thông tin phù hợp. Khi
nghiên cứu về báo chí khoa học phải nắm bắt và hệ thống hoá các phương pháp thu
thập, xử lý và chuyển tải thông tin cùa người làm báo khoa học.
Bởi vì báo chí
khoa học có những đặc thù mà không thể ứng dụng phương pháp phổ thông
như trong các lĩnh vực khác.
Những nội dung mang tính quy phạm như trên vẫn
chưa thể gọi là đầy đủ vì còn thiếu một phần kết về lý thuyết, tương tự như
phần quan trọng mang tính thực tiễn. Bởi vì yêu cầu cùa công tác đào tạo là chí
ít thì khi ra trường, người làm báo cũng phải có đủ khả năng để diễn đạt ý
tưởng của mình thành văn bản. Đó chính là những khuôn mẫu mang tính chế định mà
trong thực tiễn báo chí gọi là phương thức diễn đạt bao gồm nội dung và các hình thức thể hiện qua phương
tiện thông tin. Những vấn đề này vô cùng quan
trọng đối với người làm báo, nhưng là vấn đề quyết định của công tác đào
tạo.
(còn nữa)
Nguyenbuikhiem@gmail.com
|
Đối tượng nghiên cứu của Báo chí học (phần 2)
ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU CỦA BÁO CHÍ HỌC
|
|
(Phần 2)
|
Qua hơn mười năm làm đào tạo người làm
báo ở Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường
Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn) có thể rút ra nhận định như sau:
-
Sinh
viên được đào tạo ở trường, khi mới tốt nghiệp tỏ ra rất lúng túng
trong việc thu thập và xử lý thông tin.
-
Sản phẩm báo chí
của họ mang tính sáng tác nhiều hơn là dựa vào sự kiện có thật do họ khai thác được.
-
Khi có đủ tư liệu cần thiết họ có thể hoàn
thành văn bản tác phẩm
báo chí rẩt
nhanh.
Từ đây chứng ta có thể thấy được những khiếm khuyết của công tác đào tạo hiện nay. Trừ phần lý thuyết xây
dựng văn bản tác phẩm, ngành báo chí học còn để lại quá
nhiều lỗ hổng
trong tri thức của học
viên. Vậy thì việc san lấp các lỗ hổng đó cần được thục hiện ra sao? Đây là công việc cần làm của công tác đào tạo.
Mực đích của
báo chí học là gây ảnh hương, tác động tới công tác thực hành báo chí để làm cho nó phát triển
nhanh hơn, chắc chắn
hơn và ngày càng sâu sắc
hơn. Hiệu quà của sự tác động
này là rất khác nhau, tùy thuộc vào chỗ nó được vận dụng vào lĩnh
vực nào. Nếu không thì sẽ có nguy cơ là đặt hy vọng phi
thực tế vào tầm quan trọng mang tính thực tiễn của báo chí học. Do đó, chúng ta phải tìm
hiểu kỹ hơn công việc của báo chí học,
phải trả lời được các câu hỏi sau đây:
- Hệ thống các
phương tiện thông tin tạo ra các điều kiện gì cho
nghề báo? (các nguyên tắc).
- Những áp lực
nào mà thể chế truyền đặt ra cho nghề báo (cơ cấu).
-
Những
nội dung được sản xuất trong hệ thống báo chí thực tiễn tạo nên kết
quả gì và
tác động như thế nào? (chức năng).
- Những kỳ vọng gì được đặt ra cho những
người làm trong hệ thống báo chí? (vai trò, địa vị).
Cần phải nghiên cứu các
nguyên tắc, cơ cấu, chức năng và vai trò của hệ thống các phương tiện thông tin để xác định xem cái gì là
biểu hiện đặc trưng
của nghề báo, tức là cái gì là yếu tố cần thiết nhất để có thể cung cấp những bức tranh
hiện thực của đời sống xà hội theo những điều kiện và nguyên tắc trên đây.
Hiện nay ở
nước ta rõ ràng là báo chí học còn thiếu
vắng các công trình nghiên cứu về những vấn đề này, cho nên trong công tác đào tạo phóng viên và cả công tác đào tạo ờ trình độ sau đại học còn để một
mảng trống về báo chí học.
Chúng ta thử mô
hình hoá những điều vừa
bàn luận trên đây:
Mô hình này được biếu thị
bằng những hình tròn
(hay vuông) xung quanh người phóng viên. Người phóng viên ở giữa với tư cách là người tạo ra những thông tin thời sự. Đế
rõ hơn, ta có thể dùng phép ẩn dụ
để so sánh hệ thống báo
chí với một củ hành tây. Mô hình củ hành tây dẫn chúng ta đến một cách sắp xếp có hệ thống - nó là nền tảng cho một bảng liệt kê những đóng góp có tính
khoa học đối với ngành Báo chí học.
Vòng tròn ngoài cùng là những quy
tắc mà hệ thống các phương tiện thông tin chịu ảnh hưởng trực tiếp như điều kiện khung có tính
xã hội,
nền tảng
lịch sử và pháp lý, các biện pháp của chính sách truyền thông và cả các tiêu chuẩn đạo
đức và tiêu chuẩn nghề nghiệp đối vớỉ hoạt động báo chí.
Vòng tròn thứ hai thể
hiện cơ cấu của nghề báo mà trước hết là những yếu tố tạo nên sức ép đối với
các cơ quan báo chí, sức ép này có sự tác
động khác nhau đối với các bộ phận riêng rẽ. Đó là những sức ép về kinh tế,
chính trị, tổ chức và
kỹ thuật. Sức ép chính trị thường tác động gián tiếp thông qua các mối liên quan
về kinh tế và tổ chức.
Vòng tròn thứ ba thể
hiện chức năng, nhiệm vụ của nghề báo. Điều này nói về những thành tựu và khả năng tác
động của hệ thống báo chí: các phóng viên dựa vào nguổn tư liệu nào, họ bắt đầu với nguồn thông tin nào và lệ thuộc vào
chúng ở mức độ nào? Bài báo dựa
theo khuôn mẫu nào,
có hình
thức diễn đạt
nào và được tác giả vận dụng như thế nào? Theo nguyên tắc nào để
phóng viên có thể viết bản tin về các sự kiện? Thực tế được tái tạo trong
tác phẩm báo chí mang đặc điểm gì? Các sàn phẩm báo chí mang lại kết quả gì?
Một câu hỏi trung tâm trong mối liên hệ với hiệu quả của báo chí là ảnh hưởng
của báo chí đối với
suy nghĩ, quan điểm và hành vi của công chúng và tác động ngược trở lạỉ đốỉ với sự
xuất hiện của bài báo như thế nào?
Vòng tròn trong cùng nói về cá nhân nguời
làm báo. Rốt
cuộc, trong
việc tái tạo hiện thực, người làm báo bị bao bọc trong các mối quan hệ với
nguyên tắc, cơ
cấu và trách nhiệm, mỗi thứ ấn định hành vi của họ là một cấp độ nào đó. Hành vi của người làm báo luôn
luôn giao động trong khuôn khổ nhất định của những điều kiện truyền thông hiện đại.
Khuôn khổ đó dựa
trên
những điều kiện
lịch sử luôn luôn
đổi mới. Đẻ tài và chù đề trong công việc của người làm báo là các kiểu vai trò lập thể (stereo) và các khuôn mẫu liên
quan, những đặc điểm của chúng và các quan điểm, thái độ, và cuối cùng là việc chuyên môn hoá và xã hội
hoá của những người làm báo.
Những yếu tố
xác định hành vi của nghề báo có thể tách ra để phân tích một cách có hệ thống và để chỉ ra cho các cơ quan đào tạo người
làm báo thấy được rằng cần trang bị cho học viên những loại kiến thức gì. Công
việc này đặt ra cho báo chí học một loạt vấn đề. Trước hết phải xác định được
những môn học cơ bản và những môn học bổ trợ mà tính hệ thống đặt ra. Bởi vì
cùng với những quy tắc, cơ cấu, vai trò và nhiệm vụ của báo chí là những lĩnh
vực khoa học khác được vận dụng trong hoạt động thực hành báo chí. Ví dụ như
khi giải quyết những công việc mang tính quy phạm, nhà báo phải sử dụng đến
những kiến thức pháp luật, lịch sử và triết học, đối với những vấn đề thuộc cơ
cấu là kinh tế học,
khoa học truyền thông, xã hội học và cả tin học nữa; đối với phạm trù chức năng là xã hội
học trong một phạm vi đặc biệt, khoa học truyền thông và tâm lý học xã hội; đối
với vai trò, vị
trí là xã hội học và khoa học truyền thông. Chúng ta hiểu bộ môn hỗ trợ như
những phần tri thức trung gian, có nghĩa là luôn luôn có sự bổ sung và rơi rụng
do những giới hạn về năng lực và thẩm quyển của các nhà nghiên cứu riêng rẽ.
Thực tiễn
ngành Báo chí học cũng có giới hạn. Có thể nói tới sự khác biệt giữa hệ thống khoa học và hệ thống ứng dụng. Vấn đề là
báo chí học tạo ra
sự kích thích cho báo chí thực tiễn. Nhưng thực tiễn báo chí lại chỉ có thể là một phần của báo
chí học trong tư cách là lĩnh vực giảng dạy và nghiên cứu khi về cơ bản nó có thể nắm bắt (nhận thức) và giới thiệu được.
Cho nên ở đây có thể nói là đang tổn tại một thực tiễn của thực tiễn: thành phần nhạy cảm của hành vi báo chí trong các cơ quan thông tin đại chúng được giới thiệu qua việc
xã hội hoá. Trong khuôn khổ của báo chí học, nó có thể là đốì tượng của những phân
tích khoa học, nhưng rất
hạn chế./.
|
|
Nguyenbuikhiem@gmail.com
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


