Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Đánh cờ

Nhân buôn chuyện với một member ở nơi xa tít về những nỗi lăng nhăng của câu chữ trong tính hiện thực của nó, có sư thật rằng, giữa văn chương và cuộc đời, giữa ảo và thực luôn có những khoảng cách vừa hư vừa thực. Nó vừa là bản chất của cuộc sống, vừa là những ám ảnh hay kỳ vọng về một nỗi mong muốn. Có điều nói ra hoặc dám nói ra hay không mà thôi. Nữ sỹ họ Hồ xem ám ảnh đó được thể hiện thế nào trong bài Đánh cờ:

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc, 
Đốt đèn lên đánh  cuộc cờ người. 
Hẹn rằng đấu trí mà chơi, 
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết. 
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết, 
Để đôi ta quyết liệt một phen. 
Quân thiếp trắng, quân chàng đen, 
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa. 
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa, 
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên. 
Hai xe hà, chàng gác hai bên, 
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ. 
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý, 
Đem tốt đầu dú dí vô cung, 
Thiếp đang mắc nước xe lồng, 
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu. 
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu 
Thua thì thua quyết níu lấy con. 
Khi vui nước nước non non, 
                                                    Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.
 

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Chúc mừng nhân ngày Nhà giáo Việt Nam


Nhân ngày Lễ trọng của nhà giáo Việt Nam, xin cho phép tôi được gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến các thầy giáo, cô giáo của tôi, chúc các thầy cô luôn luôn mạnh khoẻ, may mắn, hạnh phúc và thành công. Cũng xin gửi đến các anh, chị đã và đang theo nghiệp giáo dục, đứng trên bục giảng... những lời chúc mừng chân thành nhất, chúc cho sức khoẻ, hạnh phúc, thành công và may mắn.
Nhân đây, cũng cho phép tôi gửi đến các bạn lời cảm ơn vì những lời chúc mừng đã dành cho tôi - không biết là tôi có xứng được nhận hay ko nữa.



Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Những điều hôm nay mới biết về Bác của tôi



Chuyện tình thời chiến
Ông Nguyễn Như Bích, em trai liệt sĩ, kể: "Anh Trang chết trẻ quá, chưa kịp có gia đình. Anh có hứa hôn với một chị. Anh mất, chị đến ở với cha mẹ tôi từ năm 1948 đến tận 1957, cùng cha mẹ nuôi dạy các em, 10 năm sau mới chịu về đi lấy chồng. Cả nhà tôi vẫn coi chị như dâu cả".

Nơi biên cương xa lắc xa lơ - mây vấn vương trời mơ - gió quyện sương núi - suối reo thác gào... Bao anh hùng vì non sông không màng chi thân thể - Thề chết giữ gìn biên cương - thề quét hết loài xâm lăng - dù xác có phơi chiến trường biên cương oai hùng. 
Có một người trai Hà Nội nơi biên ải

65 năm trước, có một người trai Hà Nội mới 20 tuổi xuân, chỉ huy một đơn vị trong đoàn quân Tây Tiến ngược sông Mã lên bảo vệ biên cương miền tây Tổ quốc đã viết nên những giai điệu mênh mang, hào sảng, oai hùng ấy. Anh là Nguyễn Như Trang, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 150, trung đoàn 52 - trung đoàn Tây Tiến. Cùng với bài ca viết từ trái tim và cuộc sống của mình, cuộc đời Nguyễn Như Trang, cho đến khi nằm xuống, tròn 21 mùa xuân, đẹp một cách bi tráng và khốc liệt như những vần thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng - đồng đội của anh
Là anh cả trong một gia đình có chín anh em, Nguyễn Như Trang nổi tiếng đàn hay học giỏi ở Trường tư thục Thăng Long. Năm 1945, cách mạng về, chàng trai vừa qua tuổi 18 (anh sinh ngày 27-7-1927) Nguyễn Như Trang đã xung phong vào Vệ quốc đoàn, trở thành đại đội trưởng của đại đội 212, trung đoàn Thủ Đô khi mới 19 tuổi. Trung đoàn đã chiến đấu bảo vệ Hà Nội suốt thời kỳ giặc Pháp gây hấn, trên từng hè phố, từng ngôi nhà, từng chiến lũy. Chàng trai cũng đã được kết nạp Đảng ngay trên chiến lũy thủ đô.
Ông Nguyễn Như Bích - nguyên phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao, em thứ chín của Nguyễn Như Trang - nói: "Anh đi bộ đội nhưng thỉnh thoảng tạt về qua nhà vẫn bế tôi. Anh đẹp lắm, mặt sáng ngời, cao 1,83m, các em đứa nào cũng mê anh và tự hào về anh. Tôi bé quá, chưa biết, nhưng nghe mẹ và các anh chị kể lại: anh cưỡi ngựa, đeo súng ngắn, đội mũ calô, đúng là hình mẫu một người chiến sĩ Vệ quốc đoàn mà các nhà thơ, các nhạc sĩ hay viết".
Đầu năm 1947, đơn vị Tây Tiến được thành lập, với nhiệm vụ hành quân lên biên giới phối hợp với các đơn vị của quân đội Lào chống Pháp ở miền tây. Nguyễn Như Trang cũng xung phong gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Anh là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 150, trung đoàn 52 Tây Tiến. Năm ấy anh mới 20 tuổi, chỉ huy một đơn vị hàng trăm chàng trai trong "đoàn quân không mọc tóc - quân xanh màu lá dữ oai hùm - mắt trừng gửi mộng qua biên giới - đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm".
Những trận chiến đấu ác liệt diễn ra suốt thời kỳ đầu kháng chiến đã khiến lính Tây Tiến thương vong và hi sinh rất nhiều.Bản thân Nguyễn Như Trang cũng bị thương nhiều lần trong địa bàn tác chiến là tỉnh Hòa Bình.
Bác sĩ Hùng Lâm, một cựu binh Tây Tiến, hồi tưởng trong tập sách Tây Tiến - Một thời để nhớ: "Sau trận Mường Lồ cuối 1947, Như Trang bị thương nằm ở quân y xá trung đoàn, trên một nhà sàn, được bác sĩ Phạm Ngọc Khuê cứu chữa. Nằm cạnh anh là Quang Dũng ốm sốt rét. Hết cơn sốt là Quang Dũng lại vẽ cảnh sông Mã, Như Trang ngồi thưởng thức. Khi Như Trang nghêu ngao hát hoặc sáng tác thì Quang Dũng lại hòa theo...". Trưa 21-11-1948, tại làng Mu, thôn Ngọc Châu Lâu, Lạc Sơn, Hòa Bình, anh và đồng đội đã bị phục kích. Trong một trận chiến không cân sức, hai người lính đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và ngã xuống. Tiểu đoàn phó Như Trang lúc ấy vừa qua 21 tuổi. Anh ngã xuống, trùng hợp với hình ảnh của người đồng đội Quang Dũng đã khắc họa trong bài thơ bất hủ: Rải rác biên cương mồ viễn xứ - Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh - Áo bào thay chiếu anh về đất - Sông Mã gầm lên khúc độc hành...




Trấn biên cương
"Mong thế hệ trẻ nghe và biết đến Trấn biên cương, để biết đã có những con người đẹp đẽ như vậy, hi sinh cuộc đời khi còn thanh xuân như vậy cho từng tấc đất biên cương"
Đại diện gia đình liệt sĩ Nguyễn Như Trang




Không chỉ là một chỉ huy trẻ có tài, Như Trang còn là một người lính am hiểu văn thơ nhạc họa, thích làm thơ, viết văn, có nhạc lý cơ bản vững vàng như rất nhiều người lính - trí thức thời kỳ đầu cách mạng. Anh đã viết bút ký Vượt biên thùy đăng báo Vệ Quốc Quân để động viên tinh thần chiến sĩ trong cuộc hành quân phối hợp với bộ đội Lào đánh Chiềng Cồng. Anh cũng đã viết Hành khúc đoàn quân miền tây - bài hát đã trở thành ca khúc truyền thống của trung đoàn 52 Tây Tiến. Những người lính Tây Tiến mỗi khi có dịp về chiến trường xưa vẫn cùng nhau nghẹn ngào hát bài ca này.
Một bài hát khác có sức lan tỏa rộng hơn, vượt khỏi chiến trường miền tây để đến tất cả các đơn vị bộ đội thời ấy là bài Tiếng cồng quân y. Những ngày bị thương nặng gãy xương chân nằm điều trị tại Quân y viện Châu Trang, chứng kiến bao nhiêu sự ra đi của đồng đội, thấm thía sự khốc liệt của cuộc chiến đã khiến anh viết nên bản nhạc bi thiết đó. Nữ y tá Kiều Thanh Thôn kể lại: "Khi có người chết, nghe đánh cồng, anh em tự vệ và dân bản Châu Trang đến cùng cán bộ quân y lo liệu chôn cất. Anh Như Trang làm bài Tiếng cồng quân y rất thương cảm. Bà con ở Vụ Bản đã tặng hàng trăm chiếc chiếu để có cái mà... bó gần 200 đồng chí đã nằm xuống, kín quả đồi trọc". Côồng... Đưa một chiến sĩ qua đời tới nơi ngàn thu - Chàng đâu muốn chết... Nước non chưa yên - Nhưng bệnh tình trầm trọng đã mang chàng đi - mà nước non đang chờ - và chí trai còn say... - nghệ sĩ ưu tú, đại tá Kim Ngọc nói rằng bà đã hát bài này hàng trăm lần, và lần nào cũng khóc.
Trấn biên cương cũng được Như Trang viết năm 1947, khi chàng tiểu đoàn phó của trung đoàn Thủ Đô 20 tuổi. Tác phẩm này cùng âm hưởng bi tráng với những Ngày về của Lương Ngọc Trác, Tây Tiến của Quang Dũng và là tiền đề cho những Sông Lô, Du kích sông Thao sau này - tất nhiên đơn giản, mộc mạc và thô sơ hơn. Năm 1988, nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc - giảng viên Nhạc viện Hà Nội, một người trong gia tộc họ ngoại của liệt sĩ Như Trang - đã dựng lại bài ca này cho hai giọng ca tuyệt vời là NSND Lê Dung và NSND Quang Thọ. NSND Lê Dung đã đi xa hơn mười năm, nhưng nghe lại giọng ca của bà, người ta vẫn thấy hết cái tình của một người lính với một bài hát về lính, và cái tình của một nghệ sĩ đích thực với một tâm hồn nghệ sĩ đã khuất núi. Tiếc là vì nhiều lý do, bài hát đã chưa được phổ biến.
65 năm sau khi bài hát ra đời, năm 2012, cũng với bản phối khí của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc, lần đầu tiên Trấn biên cương vang lên trên sân khấu lớn, với sự trình bày của dàn hợp xướng Trường cao đẳng Nghệ thuật Tây Bắc trong lễ khánh thành tượng đài kỷ niệm Tây Tiến ở Châu Trang. Những người lính Tây Tiến đều xúc động mãnh liệt khi nghe lại âm hưởng hào hùng và lời nhắn gửi từ người đồng đội đã khuất: Rồi đây khi quân thù tan - biên cương vững vàng - đoàn quân lên trấn biên cương - hào hùng một mùa xuân mới...
Nhân rộng giá trị tinh thần của tác phẩm
Thiếu tướng Vũ Hiệp Bình - phó chính ủy Bộ đội biên phòng - đã phát biểu bên mộ liệt sĩ Nguyễn Như Trang: "Tác phẩm Trấn biên cương là tác phẩm âm nhạc bài bản đầu tiên viết về sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Với ý nghĩa giá trị tinh thần của tác phẩm và trên thực tế khi nghe tác phẩm chúng tôi thấy tấm lòng, trách nhiệm cũng như hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm đối với sự nghiệp biên phòng toàn dân của cả nước. Chúng tôi xin hứa với hương hồn liệt sĩ Như Trang cũng như gia đình bạn bè của liệt sĩ là sẽ cố gắng bằng các biện pháp và hình thức khác nhau để nhân rộng giá trị tinh thần của tác phẩm".

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

Nỗi lòng

Tôi bước vào yêu sợ một ngày đau thương tới
Khi ấy là khi người đã hết thương tôi rồi
Hình bóng của tôi mờ đi hẳn trong tim người
Để lại bao nhiêu cơn sầu héo trong lòng tôi

Tôi vẫn thường lo một ngày buồn xa xôi ấy
Khi thấy người yêu mình ôm gối qua tay người
Tôi sẽ hỏi tôi mình nên khóc hay nên cười
Cười để quên đau hay là khóc xa người yêu
 
 Khi yêu biết ra sao mà ngờ
Thương đau vẫn vây quanh từng giờ
Để rồi tim tôi âm thầm nức nở
Một mình cô đơn đêm dài xót thương

Khi thói đời hay ở đèo này trông núi khác
Ai biết được đâu mà lấy thước đo lòng người
Nhìn thấy người ta còn duyên dáng hơn tôi nhiều
Bởi vậy tôi lo cho người ấy mau đổi thay.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Im lặng!



Người ta thường hay sợ cảm giác im lặng, đặc biệt là khi chia tay. Bỗng dưng một ngày không còn nhận được những cuộc điện thoại, những tin nhắn, những lời hỏi thăm...
Im lặng có lẽ là thứ cảm giác đáng sợ nhất.
Bạn phải vật lộn tìm cho mình những cách khác để níu kéo lấy những thứ trước đây thường thuộc về những cuộc trò chuyện. Bạn phải học cách chấp nhận sự im lặng và thu cuộc sống của mình lại. Có những người chóng vượt qua những đổ vỡ trong tình yêu nhưng cũng có những người để tang cuộc chia tay rất lâu, có thể là cho đến bạc đầu. Và họ dằn vặt mình bởi những cảm giác bực bội, gắt gỏng hay thậm chí là tuyệt vọng khi cuộc tình tan vỡ.
Nhưng
Im lặng không có nghĩa là ngừng yêu thương. Khi người kia không còn nói gì với bạn nữa không có nghĩa là họ bỏ rơi bạn, cũng không có nghĩa là tình yêu đã chấm dứt. Có quá dễ dàng không nếu như tình yêu tan vỡ đồng nghĩa với việc quên hết về nhau? Vậy thì đó có gọi là tình yêu không?
Họ im lặng. Đó là cách họ chọn để vượt qua những đổ vỡ, không phải là cách họ bỏ rơi bạn. Vì họ vẫn luôn quan tâm đến bạn, theo cách này hay cách khác, những cách thầm lặng hơn, ít ồn ào hơn, nhưng tình cảm họ dành cho bạn vẫn luôn đặc biệt hơn những người khác.
Nếu bạn sợ hãi, bạn lo lắng, bạn hốt hoảng khi người ấy im lặng. Vậy thì có phải chăng bạn nên hỏi lại chính mình rằng bạn có tin vào tình yêu trước kia hay không? Hay bạn có thực sự yêu người ấy hay không?
Cuộc đời này là vô thường. Gặp nhau, yêu nhau rồi rời xa nhau, đó cũng là lẽ thường tình.
Quan trọng là ta đã là gì của nhau trong cuộc đời này ./.icon smile Im lặng


Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Chúng ta đang đối mặt với sự cô đơn sâu thẳm!


Mọi người đều cố gắng làm những việc họ cho là vĩ đại, là quan trọng, là cần thiết, sáng sớm vội vã thức dậy, vội vã đi học, đi làm, trưa vội vã ăn trưa, chiều lại vội vã đi học đi làm, tối lại vội vã về nhà làm tròn vai trò của một thành viên trong gia đình, khuya vội vã ngủ, và ngày hôm sau lại vội vã tất bật.
Họ quên mất những nhu cầu đơn giản của bản thân, nhu cầu được nói, được giải tỏa, được nghỉ ngơi, được dừng lại. Những cái quay đầu, những câu trò chuyện, những cái cười vu vơ trao nhau không mục đích, những buổi gặp thân tình trở thành thứ của lạ khan hiếm và quá mất thời gian.
Những người thực hiện được những nhu cầu đó lại hóa ra thành những kẻ rảnh rỗi, nhưng kẻ rỗi hơi trong guồng máy của cuộc đời, những kẻ được những phút thảnh thơi bên ngoài vòng xoay như vũ bão. Họ lạc lõng, rồi họ sợ hãi, rồi họ lại vội vã trở nên vội vã, vội vã bước vào tấp nập cuộc đời, vội vã trở thành ai đó mà ngay cả họ cũng không định hình nổi nữa, vội vã đến mức giả có thảnh thơi ra, họ cũng đã quên mất thảnh thơi thì để làm gì.
Con người, sống không hẳn quay lưng với nhau, nhưng họ dần quên mất cách chủ động nhìn nhau, trao vội cho nhau một ánh mắt hoặc một cái cười mỉm chi rất nhẹ, quên mất cách chủ động vui vẻ với nhau, quên mất cách chủ động thuần khiết đến với nhau, để rồi thấy mọi thứ tình cảm thân tình cũng trở nên lệch lạc.
Chúng ta, thực ra đều đang sống trong một xã hội rất cô đơn./.



Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

Tản mạn Hoa






Tôi biết hoa phượng vĩ
Nở trước hoa bằng lăng
Nhưng bằng lăng rụng trước
Màu tím thường khó khăn
Tôi đưa vùng kỷ niệm về tim
Giữ lại đó những bồn chồn, day dứt
Hãy đi đi, đừng bao giờ đánh thức
Đôi mắt của một thời đã nức nở ngủ yên!



Thời gian như bánh xe, sự quay tròn tạo ra chu kỳ lặp lại, nên mỗi năm đến hè lòng lại như man mác buồn như một điều đương nhiên, sự đương nhiên mang tính chu kỳ. Một năm về trước, hình như hắn đã viết một entry về hoa phượng, hình như cũng khoảng này gần 10 năm về trước hắn cũng đã viết về loài hoa ấy.
Bài thơ tím hắn được người ta gửi kèm trên tờ nhắc việc để đâu mãi tìm không thấy, để hôm nay mò mẫm trên mạng mới được đọc nguyên văn cả bài thơ của người ta đã chép tặng hắn, như “đôi mắt của một thời đã nức nở ngủ yên”. 

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Làm gì?


(2009 chép lại)
Hồi còn đi học và sau này đã đi làm, câu hỏi hay tự hỏi nhau và đưa ra trong các câu chuyện bàn trà là câu hỏi “làm gì?”. Đó là câu hỏi của VI Lênin. Từ hơn 100 năm trước Lenin đã đặt ra câu hỏi đó để cho hậu thế luôn trăn trỏ và day dứt tìm câu trả lời.
Làm gì? tại sao phải hỏi vậy. Đơn giản nhiều khi chúng ta chẳng biết làm gì cả. Chúng ta bất lực với chính những gì mình có. Một ngày mới, một tuần mới với đầy những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra phía trước nhưng phải bắt đầu từ đâu, bắt đầu làm cái gì, làm như thế nào?... bao câu hỏi được đặt ra nhưng khó quá để mà tìm cho mình một câu trả lời phù hợp hoặc khả thi.
Cách đây mấy năm, một ông anh đi Pháp về cho rằng, chẳng phải riêng ở mình, cả Pháp cũng vậy, đời sống công chức cũng quanh quẩn và buồn lắm. Bệnh văn phòng công sở không phải chỉ có đất nước đang phát triển như mình mà là căn bệnh chung của dân Văn phòng. Hình như đã có ai đó cho rằng tồn tại xã hội và ý thức xã hội luôn luôn bất cập với nhau, giả như có sự thống nhất với nhau cũng chỉ là tạm thời, còn cơ bản là bất cập. Bất cập khác với mâu thuẫn, có thể bất cập quá mà không cập được sẽ phát triển thành mâu thuẫn. Bất cập ở được hiểu như sự chậm hơn ở những quyết sách của công quyền so với sự phát triển ngoài xã hội. Bất cập liên quan đến từng con người, từng mối quan hệ trong công việc và bất cập trong chính mỗi người.
Năm năm trước, có người tốt nghiệp loại giỏi ở một trường đại học, được tuyển dụng vào cơ quan để làm công nghệ thông tin. Phải giỏi mới về được, phải giỏi mới làm được những việc mà lâu dài sẽ mang tầm vĩ mô chi phối hoạt động của cả một hệ thống công nghệ. Dĩ nhiên tầm vóc của nó phải cao hơn mấy đứa cũng học trường đấy ra, nhảy việc hết công ty này đến công ty khác mà công việc chủ yếu là đi lắp đặt, cài đặt, giao hàng, bảo trì máy tính. Tuy nhiên bất cập ở chỗ, cái đứa ở ngoài cứ chỗ nào lương cao là nó nhảy đến, thấp hơn thì nó bỏ, bị o ép hoặc khó chịu nó cũng bỏ. Còn anh vào cơ quan oách này thì chẳng có cửa nào, thu nhập thì đã có quy định cụ thể, anh có giỏi đến mấy cũng phải đắt đầu từ khởi điểm, ba năm một lần lên lương với level cho một lần chỉ đủ dăm lần ăn sáng. Lâu nay người ta hay lảng tránh chuyện thu nhập, cho rằng hãy xem lại mày đã làm được cái gì, cống hiến được cái gì rồi mới nghĩ đến chuyện thu được cái gì nhé. Mà cũng chỉ nên nghĩ đến thôi, khoan hãy nói chuyện đòi hỏi hay đề xuất. Quanh đi quanh lại, năm năm trôi qua, sự trì trệ của thu nhập làm hèn đi cái thằng con người lúc nào không biết. Cái đứa làm ngoài nhảy như con cóc hết công ty này đến công ty khác lương đã kha khá, vốn sống đã kha khá, trình độ năng lực cũng được update thường xuyên. Trái lại, cái thằng cơ quan loanh quanh hết đề án này đến đề án khác, toàn đề án trên giấy với biết bao nhiêu tri thức ở tầm bán vĩ mô nhưng thu nhập cũng mới chỉ tăng thêm dăm bát phở bình dân nữa so với mức khởi điểm, đồng hành với điều đó là gần như quên mặt luôn với những trình độ phát triển của công nghệ. Hèn đi từ trình độ đến cả nhân cách. Nhân cách ở đây không bàn nặng về vấn đề đạo đức mà chỉ thuẩn về lối sống. Ông đi đâu, làm gì thì cũng phải gặp anh em chiến hữu, chuyện  chuyên môn làm ăn đã đứng ra một bên rồi, chuyện cốc bia con mực gì thì gì cũng phải bữa anh bữa chú, không lẽ ăn không của chúng nó mãi, mà đem mấy bát phở ra để đãi chúng nó hoặc là thiếu, hoặc là ngày mai mình nhịn…
Bất cập là vậy, nhưng làm gì để giải quyết vấn đề thật là khó. Ai đó nói rằng mày cảm thấy bất cập, cảm thấy không có gì cho mày thì mày nhảy đi, ra ngoài đi. Ôi thôi, sự trì trệ, sự dốt nát đã phủ kín suy nghĩ và chèn kín bước chân của kẻ thut khoa ngày nào rồi. Chưa nói đến mộng khanh hầu, mũ áo đã đè nặng lên hắn. Đi đâu, làm gì? Ai trả lời được nhỉ.

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Tắt đèn, Bước đường cùng hay Tắt lửa lòng...



Sắp kỷ niệm lần thứ 14 năm hắn về cống hiến ở đây, cũng là dịp kỷ niệm lần thứ 14 hắn chẳng làm việc gì. Mười bốn năm trong một cuộc đời làm việc gần như một con số tuyệt đối đối với một sự nghiệp, bởi thời gian còn lại quá ngắn để mà hy vọng hay chờ đợi điều gì nữa. Từ lâu nay, hắn cũng nhiều kẻ khác luôn chờ đợi điều gì đó ở phía trước, điều mà chẳng ai có thể nói thực sự nó là cái gì và là thế nào, nhưng vẫn cứ hy vọng, vẫn cứ chờ đợi, tất cả đang dần trở nên vô vọng. Mười bốn năm đèn sách là chính, đèn sách vừa là đam mê và cũng là điều bắt buộc, bởi hắn đã đọc được ở đâu đó rằng loại người chẳng làm được việc gì là loại bị đẩy đi học, học nữa, học mãi… và chẳng để làm gì.
Hắn cũng như bao nhiêu người khác, mong muốn lớn nhất không phải là chuyện ăn không ngồi rồi, không hẳn đã là ngại khó ngại khổ, mà là mong muốn có việc mà làm, nhưng chẳng có việc gì cho hắn cả. Người ta nói lỗi tại hệ thống, một hệ thống chạy không trơn chu thì đương nhiên từng mắt xích, từng con ốc hoặc là gỉ nát hoặc là lỏng lẻo. Khi thói đời đầy rẫy những đố kỵ, ganh ghét, vun vén cá nhân… thằng nào đứng ngoài vòng xoáy đểu giả ấy là thằng khốn nạn. Giữa những kẻ khỏa thân, đứa mặc quần áo là đứa khiêu dâm nhất. Nghĩ lại mà thấy thấm thía và cay đắng.
Ông cụ có kể lể rằng, bao năm qua ông cụ chẳng được giao một việc gì hữu ích, rằng luôn đứng bên lề và bên ngoài tất cả cuộc chơi. Vận vào thân, hắn thấy đúng như vậy. Cả buổi trưa lục tung internet để tìm lại câu sấm của cụ và đã tìm thấy… Ai bảo nhiều chữ nhiều nghĩa mà vận vào thân cho mệt người. Biết thế mà chẳng làm gì được. Đau đớn và bất lực. Muốn chửi ai đó mà cũng chịu, chẳng biết đổ lỗi cho ai, cuối cùng là tự chửi mình, chửi số mình chẳng ra làm sao cả.
Ngoài kia trời đang nổi gió, nắng không ra nắng, mưa không ra mưa, sự trắc trở của trời và đất như đang đồng cảm với hắn. Mưa thì sao và nẵng thì sao… thế nào cũng tốt, còn hơn tất cả cứ lửng lơ lơ lửng như bây giờ.
Khi lửa lòng đã nguội, cảm giác chán đã là vô cùng rồi, nhưng khi bị người ta dội thêm cho một gáo nước lạnh nữa, cảm giác ấy không chỉ là chán nữa mà thực sự nó đã là một cảm giác khác, cảm giác của sự vô vọng và bất hạnh.
Lâu nay hắn vẫn cho rằng, nỗi thống khổ của người nghèo không phải là chuyện hôm nay ăn gì mặc gì mà đau khổ nhất là không có gì chờ đợi họ ở phía trước, ở ngày mai ngày kia. Hắn đúng là một người nghèo khổ thật rồi.

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Học Tiến sỹ để làm gì? (phần 1)


Những năm gần đây có khá nhiều sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ và nhiều nước khác, bằng nhiều con đường khác nhau. Người có học bổng, chức trợ giảng (teaching assistant - TA), hoặc trợ nghiên cứu (research assistant - RA), người thì du học tự túc. Tôi không nhớ chính xác là đã đọc ở đâu đó rằng có hơn nghìn du học sinh mỗi năm sang Mỹ. Nhiều người trong số họ theo học tiến sĩ (Ph.D).
Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết dự định cá nhân (personal statement), vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet.
Thế nhưng, một số câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: "Tại sao lại học Ph.D?", "có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?", "làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?", "tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?", "học Ph.D xong rồi làm gì?"…
Có lẽ ta cần một luận án ... Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “cái giá của giáo dục” (returns to education).
Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tác giả chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và "hành nghề" Ph.D ở Mỹ.
Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.
Ðiều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.
1. Ph.D là gì ?
 Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Ðức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19 (ở Ý cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)
Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là "thầy" (teacher), và "chuyên gia", "chức trách" (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Âu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học (theology), luật học (law), y học (medicine), và triết học (philosophy). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó như người của nhà thờ, luật sư, và bác sĩ.
Ðến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù lấy theo nghĩa bóng nhất của từ này. Tuy nhiên chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor. Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Ða số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.
Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường. Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi "hành nghề" một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc làm quản lý... Ta sẽ quay lại đề tài này sau.
Cái nhìn hiện đại của Ph.D như sau. Ðể hoàn tất Ph.D, sinh viên phải đạt được hai mục tiêu chính:
(a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó;
(b) góp phần mở rộng khối kiến thức của nhân loại về ngành đó.
Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng "nhai lại": đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).
Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?
2. "Nghề" Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai
 Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề (tôi không dùng từ "nghiên cứu sinh" vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao. Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường thì các gradudate students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mai mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.
Kể chuyện cuộc sống gradudate students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Ðiều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi "có đáng không?" Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và ... philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.
Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lã cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).
Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi ... gàn gàn. Công bằng mà nói, gradudate students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, ...), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.
Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các gradudate students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời "ở mãi kinh kỳ với bút nghiên", ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30. Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: "về hay ở", "về thì đâm đầu vào đâu?". Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành dụm được gì, chưa nói đến việc nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Ðầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.
Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. "Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng".
Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.
Bây giờ hãy giả dụ cụ hay mợ Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và tích lũy kinh nghiệm để  sau này, cách này hay cách khác, (về) giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học.
(Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa . Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương gradudate students).
Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man về đề tài "định trị Ph.D" sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại "giỏi, khá, trung bình" (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi "định trị Ph.D" của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, ...
Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành. Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.
Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của graduate students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danh tiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.
Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng ... "bổ củi". (Bổ củi là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong).
Ðối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá. Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.
Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là "dỏm" hay "xịn". Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D. Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm "lọt lưới" cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ hiếm hoi.
Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào khối kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng hoàn vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một vài hội nghị và journal danh tiếng nào đó.
Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.
Tóm lại, công việc "định trị Ph.D" hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo đè rất nặng lên vai các gradudate students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời!
Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa.
(Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu "cạnh tranh khắc nghiệt" khác.)
Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

Học tiến sỹ để làm gì? (phần 2)


3. Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?
Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:
a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.
b) Ðược xã hội nể trọng, oách ra phết.
c) Ðể học được kiến thức tiên tiến.
d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.
e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.
f) Ðể mở tầm mắt ra những chân trời mới.
g) Ðể sau này về làm giáo sư đại học.
h) Ðể được làm nghiên cứu khoa học.
i) Ðể thay đổi thế giới quan.
......
z) Tất cả các lý do trên.
Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?
Ðối với đa số gradudate students và graduate-students-tương-lai thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.
Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất.
Làm Ph.D để mở mang kiến thức. Ðây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: "Đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn" (Don't let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ  ba như Việt Nam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.
Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.
Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân.
Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định "giảng đạo" về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ "hám bằng cấp" hay "oai oách" là sai trái. Ðó là chọn lựa của từng cá nhân. Ðiểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích "tiếng tăm" cũng vậy. "Học giỏi", theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và "nhai lại" những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo - khả năng sống còn của Ph.D.
Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là đam mê". Ðam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì "xã hội cần nó", hay "nó kiếm ra tiền".
Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm.
Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.
Ðấy là nói về "động lực" học Ph.D. Thế còn "khả năng" thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi "ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ?"
Ðam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi, và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân. Có lẽ không ai trả lời thay ta được.
4. Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý
Không ít các bậc phụ huynh mà tôi được dịp quan sát đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một "trạng nguyên" vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì graduate students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.
Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Ðó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là "thành nhân"? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có "đóng góp" nhiều hơn cho xã hội, hay ai "hạnh phúc" hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa "tôn trọng tri thức" và "hám bằng cấp".
Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.
Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Ðiều tôi muốn nói là niềm "hy vọng" của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!
5. Ðạt được Ph.D chỉ là bước đầu
Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp, cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. "Nghề" Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.
Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi "con đường đau khổ" này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Ðầu tư như vậy không có lãi!
Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Văn hóa thời tạp kỹ



“Variety show” là tên gọi một loại chương trình có tổng hợp đủ mọi loại hình biểu diễn trong cùng một show, tiếng Việt dịch là chương trình “tạp kỹ”. Dạng này đang hot ở ta đến mức có chương trình tạp kỹ đã từng được coi là đỉnh cao nghệ thuật. Cái sự tạp kỹ này sang tiếng Việt nó mang nhiều ý nghĩa hơn cả “variety”. Show diễn dạng này chẳng những chỉ tồn tại trên sân khấu nhà hát mà đã lan rộng ra cả sân khấu cuộc đời. Một sân khấu giải trí khổng lồ có khi tạp khi kỹ, cũng có khi trộn lẫn cả hai.
1. Chuyện “bia hơi kèm lạc”:
Nhớ thời bao cấp ở Hà Nội, bia hơi ngon nhưng hiếm, những quả bom bia lạnh toát được chở thẳng từ nhà máy đến quán bia vỉa hè, chảy qua những ống hút nhựa vào từng vại, sóng sánh, mát lạnh mà chẳng cần đá đó người ta chưa biết đến thị trường, bia cũng sản xuất theo chất lượng và chỉ tiêu nên rất khan, không đủ cầu. Vậy nên mới phải có trò bán bia bắt buộc kèm lạc (đậu phộng) và những đồ nhắm khác. Một vại bia kèm một suất mồi. Thế nên đôi khi mua lạc mà chẳng ăn hết vì nhiều quá, nhưng vì muốn uống bia nên vẫn phải mua, người ta gọi là “bia kèm lạc”. Bây giờ thời “khuyến mãi”, bia chai, bia lon, bia tươi các loại, nhiều hơn nước lã, cả nước vừa uống vừa được khuyến mãi đủ thứ vẫn không hết, khuyến mãi quà tặng, tiền bạc, xe hơi…, lại còn có mấy em xinh tươi váy ngắn chân dài liên tục khui chai dùm và tiếp đá.  Hà Nội bây giờ uống bia cần đồng thanh: “1,2,3 dzô!” còn xôm hơn cả Sài Gòn, bất kể dzô bằng cách nào và dzô cái gì. Những ngón tay mất vệ sinh cứ ngoáy tròn cho đá nhanh tan, người ta nốc thật nhiều nước đá pha bia mà chẳng quan tâm đến cái sự nhạt nhẽo. Kệ, thời nay người ta chỉ cần vui và cần số lượng. Gu ẩm thực tỷ lệ nghịch với số đo vòng bụng. Thời của ăn và uống tạp!
Nhưng vẫn còn số ít những thực khách vẫn trung thành với bia hơi từ bom, hoặc rủng rỉnh và cầu kỳ hơn thì ướp sẵn ly và bia trong tủ lạnh, rồi điệu nghệ nghiêng cả chai và ly cùng lúc thật khéo léo để có được lớp bọt phồng căng khi vừa chờm tới mép ly mà không bị trào ra ngoài. Ly chạm miệng cũng là lúc bọt bia tan nhẹ trên môi cùng vị bia nguyên chất mát lành chạm, tràn vào lưỡi. Ai tạp thì cứ tạp, ai kỹ thì vẫn kỹ!
2. Chuyện chiếc piano để… làm sang nội thất
Có lẽ khi Hayden, Bach và các sư tổ âm nhạc phương Tây lúc cải biến chiếc đàn klavise thành đàn piano như ngày nay cũng không thể tưởng tượng được có một ngày, piano lại bị một đối thủ vốn là con cháu sinh sau cạnh tranh và lấn át dữ dội đến thế. Bậc hậu sinh đó là chiếc đàn piano điện hay còn gọi là organ. Chiếc đàn thấp bé, nhẹ cân, thậm chí còn rẻ tiền hơn mà lại lắm chức năng, nhiều trong một. Nó thay thế cho cả dàn nhạc, tiện lợi và hoàng tráng, nhưng không thay thế được cảm giác của những ngón tay trên bàn phím, không thay được tiếng gõ của búa vào dây, bởi vậy tiếng nó khô khốc, dễ đánh nhưng vô cảm. Vậy mà người ta vẫn thích và quen nghe dần đàn điện, nhạc công organ ngày một nhiều, ít ai nghe piano nữa. Nhưng ngành sản xuất đàn thì không chết, piano nhập về Việt nam ngày càng nhiều, bán rất chạy vì người ta đã phát hiện ra nó có một tác dụng vô cùng hữu hiệu: tác dụng làm sang nội thất. Bây giờ phòng khách sang phải có piano, ai đánh? Trẻ con! Đánh thế nào? Tính sau! Càng giàu càng mua đàn đắt, đàn to. Những chiếc ắc cơ ba chân nhập không kịp để bán. Nhạc cổ điển đã từ bỏ nhà hát để đi sâu vào từng gia đình. Những buổi hòa nhạc vẫn  ngày càng thưa thớt người xem…
Văn hóa nghe đã thay đổi chóng mặt, khi cái tai đã không cảm thụ được độ tinh tế của cây đàn, của giọng hát thì nó rất cần sự hỗ trợ, cần hàng bán kèm cho những giác quan khác. Đi nghe nhạc bây giờ được khuyến mãi ngày càng nhiều phần nhìn. Ca sĩ đua nhau đi học nhảy thay vì học hát, sân khấu tràn ngập vũ công thay thế cho nhạc công. Chỉ cần một chiếc mini disc, một vũ đoàn, một bộ đồ lấp lánh là có thể hành nghề. Giọng ca ư? Có cần thiết không khi mà có hát khán giả cũng chẳng hiểu, chẳng nghe thấy nổi một ca từ. Sân khấu thực sự là tạp kỹ với những mớ chiêu trò ngồn ngộn, bất chấp mọi phong cách hay ngôn ngữ biểu hiện. Muốn trừu tượng, hiện đại đã có màn hình LED, muốn cụ thể hay dân tộc có cảnh  tả thực, muốn kỹ xảo thì có đủ dây đu, bàn nâng, mưa gió, pháo nổ, muốn triết lý cao siêu thì đưa tôn giáo, chữ nghĩa vào múa và muốn sexy thì cởi đồ. Hát tới đâu chưa biết mà ai cũng thành “quý ông”, “nữ hoàng”, diva, divo toán loạn. Khi ca sĩ nam ngày càng nữ tính thì ca sĩ nữ ngày càng táo bạo hơn cả đàn ông. Những chiếc cổ áo ngày càng trễ xuống, những cạp quần gấu váy ngày càng co lên đến độ có cảm giác chúng sắp gặp nhau tại một điểm “chết”. Khoe càng lắm hàng giả càng nhiều. Silicon lên cùng với giá xăng dầu, điện nước. Người ta gọi là thảm họa nhưng vẫn hàng ngày trả tiền cho nó. Càng tạp càng bán được hàng.
Trong đám hỗn tạp đó, muốn làm nhạc sang, nhạc cao cấp lại có vẻ như dễ dàng. Đẳng cấp là sự khác người. Muốn sang thì cứ làm ngược lại: người ta làm đông thì mình làm ít, làm to thì mình làm nhỏ, người ta có múa thì mình có ban nhạc, người ta hát nhạc dance thì mình chơi tiền chiến, nhạc xưa, người ta điện tử thì mình giao hưởng hoặc acoustic, chẳng cần màn hình mới là sang. Càng tối giản càng đẳng cấp. Nhưng điều quan trọng nhất là âm nhạc, là tác phẩm thì lại vô cùng thiếu thốn. Nhạc sĩ thì nhiều, tác phẩm thì ít. Bài hát mới sống non. Chẳng đủ bài mới, bài hay nên dù đằng cấp và tối giản vẫn phải chiêu trò, vẫn phải ghép trẻ với già, nam với nữ, hải ngoại với trong nước, điện tử với dân gian, piano với… lên đồng. Cái mới thực ra vẫn cũ mèm, luẩn quẩn mà chưa thấy lối thoát lâu dài. Làm tạp cũng chán mà làm kỹ cũng chưa xong!
3. Chuyện về sự khai tử vô duyên của chiếc máy ảnh cơ:
Còn hẩm hiu hơn số phận chiếc piano, chiếc máy chụp ảnh bằng phim, niềm mơ ước và tự hào một thời của bao nhiêu người, nguồn cảm hứng và công cụ sáng tác của bao nhiêu tác phẩm nhiếp ảnh lừng danh đã bị khai tử lặng lẽ bởi những chiếc máy ảnh số, khai tử luôn một khái niệm, một nghề: Nghề buồng tối và hóa ảnh. Chẳng còn thú vui chơi với độ lộ sáng của lớp nhũ tương phim âm bản, ngẫu hứng với bàn tay che chắn trên giấy ảnh hay tận hưởng sự sung sướng khi tấm hình từ từ hiện lên trong chậu thuốc hiện của buồng tối. Sát thủ kỹ thời kỹ thuật số hiện nguyên hình: Photoshop. Lĩnh vực phim ảnh cũng chung số phận, chiếc máy quay phim nhựa cũng từ từ hô biến theo và thay bằng máy số. Quay phim chụp ảnh quá dễ dàng! Cứ chụp thật nhiều và nhanh, có gì đã có photoshop. Ai cũng làm phim được và đóng phim được mà chẳng cần đào tạo gì nhiều. Photoshop làm đẹp nhưng ảo đi cuộc sống, làm giả và tạp cả văn hóa nhìn.

Chưa bao giờ ngành giải trí lại tưng bừng và tạp như bây giờ. Các loại hình ngày càng cởi mở, các đề tài cũng cởi mở và các em thì càng cởi mở hơn. Một thiếu nữ quê có chút chiều cao và nhan sắc, phần lớn sẽ nghĩ đến việc đổi đời bằng ngành giải trí. Dù nàng có muốn đóng phim, làm ca sĩ, làm người mẫu hay thi hoa hậu cũng cần cởi và mở để phát triển cái danh cho mình và nuôi béo truyền thông. Không cởi đồ thì cũng “cởi lòng”. Các nàng cởi khéo thì gọi là khoe hàng, cởi vụng thì gọi là lộ hàng, mà có cởi kiểu gì thì cũng nên khoác cho nó một lý do tốt đẹp và đầy ý nghĩa. Khi em khoe trên sân khấu, có hàng chục chiếc máy ảnh số không cần phim kia bấm cò tới tấp với tốc độ của máy quay phim nên các tư thế nhạy cảm của các em đừng hòng trốn thoát. Ai không đi xem trực tiếp các em được sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng qua báo mạng. Ai cận thị thì báo sẽ zoom gần và khoanh vòng đỏ lại vùng sốc cho dễ coi. Những vòng tròn hình quả trứng khoanh vùng cơ thể các em ngày càng nhiều trên báo mạng. Tròn như số không của khái niệm đạo đức. Nhạc nhẹ có “nữ hoàng” đã ghê, đồ lót mà có “nữ hoàng” mới thực sự choáng. Cố lên các em! Chỉ cởi thêm một chút nữa thôi là nghệ thuật sẽ trở lại thời phục hưng của kỷ nguyên ánh sáng, ở thời đó, hội họa hay điêu khắc gì cũng nude hết mà chẳng cần phải vì môi trường.
Trong những thứ các em đang “cố” thì dễ nhất trên đời để thành danh là đi thi hoa hậu. Một thứ thi thố với kịch bản nhàm chán nhất trên đời mà  xứ ta ai cũng thích xem! Quán triệt tinh thần “tiên tiến, hòa nhập” thì đã có màn mặc dạ hội kiểu Tây, “đậm đà bản sắc” thì có áo dài ta, để rồi sau đó cởi sạch những thứ ấy đi còn lại mảnh vải để khoe và che món chính. Mảnh vải càng nhỏ, những con mắt mở càng to để rồi cười khoái trá với màn tấu hài “thi ứng xử”. Và vì người các em đẹp, chân thì dài  mà đầu đều thấp như nhau nên người ta phải xác định một kẻ cao hơn bằng cái thứ gọi là vương miện, thứ trang sức giả, phù phiếm khiến em nào cũng mơ ước mà không biết đằng sau đó là đại họa. Chiếc vương miện sau đó sẽ trở thành tấm bia để người ta ném đá, ném tới tấp cho đến khi có ai đó đội chiếc vương miện khác. Trên đời làm gì có ai hoàn hảo, kể cả trong cái sự mua vui. Nhưng tai họa tiếp theo cho các hoa hậu, á hậu mới thực là nghiêm trọng và thiệt đơn thiệt kép: Đời các em sẽ phải gặp trai già thay vì trai trẻ, sẽ phải gặp trai Tây thay vì trai ta và gặp trai cổ (nước hai nước ba) thay vì trai tân. Tất cả chỉ vì cái sự sung sướng mà không phải làm gì. Tất cả vì cái danh tạp cho những “người của công chúng”.
Và vì cái danh kỹ cho những “người ưu tú của nhân dân” người ta đấu nhau cũng chẳng kém. Các bô lão nghệ sĩ nhớn cũng hăng hái kiện cáo nhau vì danh, vì hiệu đến nỗi không còn tình bạn bè, đồng nghiệp, chẳng còn sự cao quí của nghề. Cái danh bây giờ hóa ra không chỉ là “danh tiếng” mà còn là “danh dự” và “danh lợi”.
Tạp, kỹ lẫn lộn cả!
Chẳng kỹ được thì đành tạp vậy, ít nhất cũng được một chuyện…
Hoài cổ nhiều quá cũng không nên vì cuộc sống luôn cần chuyển động về phía trước.  Nhưng dù sao vẫn thèm một cốc bia hơi thời bao cấp!
 Nguồn: tccl.info