Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý thuyết truyền thông mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý thuyết truyền thông mới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Người VN dùng smartphone chủ yếu chụp ảnh

Theo Google, người Việt Nam thường xem video online ở nơi làm việc, chủ yếu để thư giãn hoặc trốn tránh (việc), tỉ lệ sử dụng smartphone vẫn còn thua xa so với máy tính và dùng để chụp ảnh là chính.
Google vừa công bố khảo sát toàn cầu Consumer Barometer 2014 phân tích chi tiết về mức độ sử dụng Internet ở 46 quốc gia năm 2014, trong đó có Việt Nam.
Theo Google, khảo sát này do hãng nghiên cứu thị trường TNS tiến hành dựa trên 150 nghìn phỏng vấn tập trung vào sử dụng thiết bị và truy cập trực tuyến, người dùng mua sắm và xem gì trên mạng, vai trò của kỹ thuật số trong quá trình mua sắm. Kết quả khảo sát cho thấy ngày càng nhiều người châu Á sử dụng smartphone để truy cập Internet hơn là máy tính để bàn.

Google: Người Việt dùng smartphone chủ yếu chụp ảnh

Google: Người Việt dùng smartphone chủ yếu chụp ảnh
Trong một bài đăng trên blog hôm 28/10 vừa qua, Giám đốc tiếp thị của Google châu Á-Thái Bình Dương, ông Simon Kahn viết rằng xu hướng "mobile-first" (di động là trước hết) rất đang thịnh hành ở châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, nơi có tỉ lệ thâm nhập smartphone đã vượt desktop lần đầu tiên trong năm vừa qua. Xu hướng này có ở nhiều quốc gia với trình độ phát triển kinh tế cũng như quy mô khác nhau như Singapore, Malaysia, Indonesia, Hong Kong, Trung Quốc...
Khảo sát cũng phát hiện các quốc gia châu Á có tỉ lệ người dùng Internet truy cập mạng chỉ sử dụng smartphone cao nhất. Không có nước nào ngoài châu Á biểu thị xu hướng này. Malaysia đứng vị trí số 1 trong nhóm này với 35% người tiêu dùng truy cập Internet chỉ từ smartphone.
Đối với Việt Nam, tuy không nằm trong nhóm quốc gia có tỉ lệ người dùng smartphone vượt máy tính hay truy cập Internet từ smartphone cao hơn nhưng cũng có những lĩnh vực được xếp hạng top đầu thế giới (trong số 46 quốc gia được xếp hạng).
Chẳng hạn, tỉ lệ thực hiện nghiên cứu, khảo sát mạng phục vụ cho mua sắm của người Việt Nam đạt đến 75%, đứng thứ nhì chỉ sau Hàn Quốc và vượt Hong Kong, Anh, Mỹ. Việt Nam cũng đứng thứ nhì về tỉ lệ sử dụng smartphone để nghiên cứu thông tin trong quá trình mua sắm, đứng trên Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức... và chỉ sau Hàn Quốc.
Theo Google, hiện tại trung bình mỗi người Việt Nam sử dụng một thiết bị (máy tính/ di động), thấp hơn so với Malaysia là 1,2 và Trung Quốc là 1,9. Máy tính vẫn là thiết bị kết nối phổ biến nhất với tỉ lệ 44%, tiếp đến là smartphone 36% và tablet là 5%.
Khảo sát cho thấy hầu hết người dùng Internet ở Việt Nam online hằng ngày. Điều này xảy ra ở mọi lứa tuổi, với 51% người dùng Internet là ở độ tuổi từ 55 trở lên. Tầm tuổi từ 16-24 online hằng ngày chiếm tỉ lệ cao nhất: 81%.
Về các hoạt động phổ biến trên smartphone, khảo sát phát hiện người dùng smartphone ở Việt Nam chủ yếu để chụp ảnh, chiếm 71%, tiếp đến là nghe nhạc (70%), báo thức (65%). Đọc báo trên smartphone chiếm tỉ lệ thấp nhất, 54%.
Người Việt thường mua sắm gì qua mạng? 63% người Việt được hỏi cho biết lần gần nhất họ mua sắm online là đặt vé máy bay, mua đồ gia dụng và quần áo đều chiếm tỉ lệ 18%; mua bảo hiểm, đặt vé xem phim đều là 17%.
Và như trên đã đề cập, có đến 70% người Việt trong khảo sát cho biết họ đã nghiên cứu cả trên mạng và offline để phục vụ mua sắm - tỉ lệ cao nhất trong khu vực.
Một nội dung đáng chú ý nữa là người dùng Internet ở Việt Nam xem video như thế nào? Chiếm đa số (67%) phản hồi cho hay họ xem video online là để thư giãn hoặc trốn tránh, 65% là cảm hứng, 46% là học hành và 30% là để tìm hiểu sản phẩm.
Và mọi người thường xem video ở đâu? Câu trả lời phổ biến nhất là ở công sở hoặc trường học.
Trên đây là khảo sát Google vừa công bố về thói quen người dùng Internet Việt Nam. Bạn có đồng ý với những phát hiện này không? Hãy chia sẻ với chúng tôi nếu bạn có ý kiến khác./.

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

"Báo in ko diệt vong mà đang trong giai đoạn mới của vòng đời"

Ảnh minh họa. (Nguồn: AP)

Sau một loạt sự phân tách chưa có tiền lệ của các tập đoàn truyền thông lớn của Mỹ, ngành sản xuất báo in giờ đây đang phải đối mặt với tương lai nhiều chông gai, khi không còn được các công ty mẹ "bơm" tài chính.

Làn sóng chia tách ở các tập đoàn truyền thông diễn ra vào thời điểm các tờ báo/tạp chí đang phải vật lộn để chuyển sang công nghệ kỹ thuật số, và cổ đông của các tập đoàn truyền thông ngày càng "ít cảm tình ra mặt" với loại hình báo in.

Gannett - sở hữu tờ USA Today và hàng chục tờ báo khác - là tập đoàn gần đây nhất thông báo kế hoạch tách hoạt động của mảng báo in và truyền hình thành hai đơn vị riêng biệt, nhằm tăng tính chuyên nghiệp của mỗi đơn vị.

Sự kiện trên diễn ra sau khi Tribute Co. cho các tờ báo Los Angeles Times và Chicago Tribute tách ra khỏi tập đoàn này, cũng như Time Warner để tạp chí Time Inc ra "ở riêng."

Tháng trước, hai công ty truyền thông EW Scripps và Journal Communications sau khi tuyên bố hợp nhất cũng quyết định tách mảng báo giấy ra khỏi công ty, để hoàn toàn tập trung vào mảng truyền hình và truyền thông kỹ thuật số.

Xu hướng trên được cho là bắt đầu vào năm ngoái khi "ông trùm" truyền thông Rupert Murdoch phân tách “đế chế” News Corp của mình thành hai mảng truyền thông-giải trí và xuất bản.

Trước làn sóng hàng loạt các tờ báo in Mỹ liên tục bị tách ra khỏi công ty mẹ, ông Mark Jurkowitz, phó Giám đốc Dự án Báo chí của trung tâm nghiên cứu Pew, cho rằng hành động này giống như tình cảnh “những đứa trẻ bị bố mẹ tống ra khỏi nhà.”

Trong thời kỳ báo giấy mang lại lợi nhuận khổng lồ thì các công ty truyền thông đã nhanh chóng “tóm lấy” mảng này.

Nhưng nay, các mảng khác của truyền thông, chẳng hạn như truyền hình, lại giữ vai trò chi phối lợi nhuận của các hãng truyền thông. Ông Jurkowitz còn cho rằng “dường như thị trường không quan tâm nhiều đến tương lai ngành báo in nữa.”

Chuyên gia tư vấn truyền thông Alan Mutter cho biết, mặc dù nhiều tờ báo in vẫn còn đem lại lợi nhuận trung bình khoảng 16% (cao hơn cả mức lợi nhuận của Walmart hay Amazon) song trong những năm gần đây, tin tức trong lĩnh vực kỹ thuật số đã dần thay thế ngôi vị một thời của báo giấy.

Ông Mutter cho rằng báo giấy ngày càng phụ thuộc vào những tên tuổi trong làng công nghệ như Google, Facebook hay Twitter, để tạo ra số lượng truy cập lớn - nguồn sống đối với các tập đoàn truyền thông.

Ông Dan Kennedy, một giáo sư báo chí tại Đại học Northeastern, cho rằng ngành báo giấy đang phục hồi sau ảnh hưởng tiêu cực từ các thỏa thuận phân tách trước đây.

Ông Kennedy nhận định lợi nhuận ngành báo giấy vẫn còn khá ổn, và nếu thuộc sở hữu của các doanh nghiệp tư nhân không bị nợ nần thì sẽ có chắc chắn sẽ có tờ báo "làm ăn" tốt.

Một số nhà phân tích cho rằng sự tan rã của các tập đoàn truyền thông lớn có thể buộc các nhà xuất bản tìm cách kết nối với độc giả qua mạng trực tuyến.

Theo ông Jurkowitz, vấn đề thực sự với ngành báo giấy không phải là việc giải quyết một “cành cây chết” mà đó là sự thất bại trong việc kiếm tiền từ phương tiện kỹ thuật số ngày nay.

Ngành công nghiệp báo chí đang theo dõi sát những nỗ lực của các tờ báo như New York Times - đang thử nghiệm các kế hoạch truy cập kỹ thuật số mới, và Washington Post - dưới thời chủ sở hữu mới Jeff Bezos đã nâng lượng độc giả trực tuyến lên mức cao kỷ lục.

Giáo sư Kennedy cho rằng dù báo in có thể hoạt động sinh lời và là một phần quan trọng của cộng đồng, nhưng vẫn không thể đáp ứng được kỳ vọng của Phố Wall về tốc độ phát triển.

Tuy nhiên, ông Kennedy cũng nhấn mạnh việc các chủ sở hữu tư nhân vẫn có thể tiếp tục phát triển công việc kinh doanh và báo in cần phải đầu tư đáng kể để chuyển đổi sang công nghệ kỹ thuật số trong những năm tới.

Ông Peter Copeland, cựu biên tập viên của Scripps Howard News Service và hiện là một nhà tư vấn truyền thông, nhận định tách báo giấy khỏi các công ty mẹ đa truyền thông là xu hướng hợp lý và nhìn chung là tích cực đối với báo giấy.

Ông nhấn mạnh rằng sẽ tốt hơn khi báo in và truyền hình được tách biệt, vì chúng không bao giờ kết hợp được với nhau và là những mảng kinh doanh rất khác biệt.

Ông nói: "Tôi nghĩ rằng báo in đang bước vào một thời kỳ mới. Đó không phải là sự diệt vong, nó chỉ là một giai đoạn trong vòng đời của báo in"./.

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Sự phát triển của các tổ chức truyền thông đa phương tiện

TTO - Các công ty truyền thông như viễn thông, truyền hình cáp và các khối giải trí đang tranh giành nhau để có chân trong “thị trường” tích hợp các phương tiện truyền thông mới. Một vài ví dụ:
  • Henry Luce đã giành được sự kiểm soát hoàn toàn tạp chí Time (www.time.com). Người kế nghiệp của ông thêm vào đó những tạp chí thành công khác, bao gồm tờ Fortune và tờ Sports Illustrated. Hiện tại mảng tạp chí là một phần nhỏ của công ty khổng lồ AOL Time Warner (www.timewarner.com), chuyên về chương trình giải trí, xuất bản sách, tạp chí và chương trình truyền hình cáp đặc sắc. Nó bao gồm những đơn vị khác nhau như Cable News Network (www.cnn.com), Warner Brothers (www.timewarner.com), và đội bóng chày Atlanta Braves. Gần đây hơn, nó trở thành một bộ phận của American Online (www.aol.com) trong sự liên doanh truyền thông lớn nhất trong lịch sử. Sự liên doanh đó minh họa sinh động cho sự kết hợp các phương tiện truyền thông cũ và mới.
  • Cox Enterprises Inc. (www.coxnews.com) bắt đầu chỉ với một tờ báo vào năm 1898. Cox là một trong những công ty truyền thông lớn nhất quốc gia, và về mặt lịch sử, nó bao gồm cả những phương tiện truyền thông hiện đại: đài phát thanh, đài truyền hình và truyền hình cáp. Vào tháng 4/1996, Cox Interactive Media được thành lập để cho ra đời những tờ báo trực tuyến ở các thành phố mà có sự hiện diện của các phương tiện truyền thông của Cox. Và Access – Atlanta (www.accessatlanta.com) là trang thông tin quan trọng hàng đầu.
  • Knight Ridder (www.kri.com), một trong những công ty truyền thông được chú trọng nhất ở Mỹ, từ lâu đã nhận thấy giá trị của việc truyền tải tin điện tử. Thử nghiệm vào những năm 1940, những bản tin đầu tiên được fax, vào những năm 1970, bản tin được truyền hình và vào những năm 1990 báo được điện toán hóa và phát lên mạng. Bạn có thể tìm tất cả các báo trực tuyến của Knight – Ridder trên mạng Real Cities Network (www.realcities.com) và tờ San Jose Mercury News đi đầu trong việc phát tin qua Internet với trang web Mercury Center (www.mercurycenter.com) của nó.
  • Những công ty phát hành báo lớn khác, bao gồm New York Times Co. (www.nyt.com) và Tribune Co., nhà xuất bản của tờ Chicago Tribune (www.tribune.com), chuyển tin chủ yếu qua mạng Internet.
  • Thậm chí các công ty báo chí nhỏ cũng vào cuộc. Tờ Lawrence Journal - World (www.ljworld.com) mở một công ty truyền hình cáp và một trang web và là người sử dụng đầu tiên công nghệ “đẩy”, đưa thông tin đến cho người dùng dựa vào sự thu hút được xác định trước.
  • Các công ty truyền hình cũng không thoát khỏi sự liên kết. NBC (www.home.nbci.com) có một trong nhiều trang đầy tham vọng trên Internet, và có những dự án chung về truyền hình và Internet với hãng máy tính khổng lồ Microsoft (www.msnbc.com). Các hãng khác như CBS, ESPN, FOX va CNN đều có những trang chính trên Internet.
Việc các hãng như Microsoft nhảy vào địa hạt truyền thông làm những ai xưa nay đang kiếm sống trong ngành này phải lo lắng. Nhiều người đặt câu hỏi liệu một công ty như Microsoft, nổi tiếng đã không từ chuyện gì để cải thiện lợi nhuận, có thể đáp ứng được những tiêu chuẩn cao được đặt ra bởi các nguyên tắc truyền thông cho việc quản lý các hoạt động tin tức hay không. Nhưng kể từ lúc Microsoft trình làng mạng Microsoft chứa đầy tin tức, nó đã tiếp thu rất nhiều từ các báo, các đài truyền hình, báo cáo của các công ty trong việc đảm bảo những tiêu chuẩn khắt khe cho các hoạt động truyền thông từ lâu đã được đề cao.
Những hãng như Microsoft sẽ không đặt chân vào công việc kinh doanh nếu tiềm năng về lợi nhuận không đáng kể. Rõ ràng, Microsoft, AOL Time Warner, và MTI’s Negroponte có chung một tầm nhìn về tương lai – kết hợp các phương tiện truyền thông và giải trí vào một phương thức truyền thông mới có khả năng cung cấp sự lựa chọn tin tức bằng văn bản hay bằng các đoạn phim và những bộ phim mới nhất bất kì khi nào được yêu cầu. Tầm nhìn đó là nền tảng cho sự mua bán ồ ạt tài sản của các hãng truyền thông diễn ra trong suốt những năm 1990 và những sự liên kết các phương tiện truyền thông là có thể vì sự bãi bỏ quy định xảy ra sau khi Luật Viễn Thông được thông qua năm 1996. Bức tranh các phương tiện truyền thông đang thay đổi mạnh mẽ khi các công ty tự đặt cho mình một vai trò trong thương trường truyền thông của tương lai. Và trong khi chưa ai biết chính xác dạng phương tiện truyền thông tương lai sẽ là gì, hay dạng thức đó được phát đi như thế nào, thì mọi người đã muốn chia sẻ lợi nhuận. Thị trường triển vọng trong tương lai vô cùng lớn.
Bởi vì những cấu trúc liên kết đang thay đổi, nên những tòa soạn báo cũng thay đổi. Ví dụ, ở trụ sở chính của NBC tại New York, một thế hệ nhà báo mới đã lấy những bài báo từ mạng lưới các tòa soạn và số hóa chúng để lưu vào máy tính. Những bài báo này tạo cơ sở cho NBC Desktop News, một hệ thống thông tin bằng hình ảnh theo yêu cầu được bán rộng rãi cho các công ty trên toàn quốc. Nó đã được hợp nhất thành MSNBC.
Gộp chung vào các phương tiện truyền thông mới là những tiện ích của dịch vụ thông tin công cộng qua mạng, bao gồm CompuServe, Prodigy, American Online, Microsoft Network và các công ty khác. Càng ngày chúng càng đầy quảng cáo. Thậm chí Internet – trước kia thì những hoạt động bí mật của máy vi tính chỉ có một vài người uyên bác và các chuyên gia máy tính hiểu được – đang ngày càng trở thành phương tiện chuyển tải quảng cáo thương mại nhắm đến những bộ phận công chúng riêng biệt.
Điều đó giúp chúng ta nhận ra cái mà không mấy người làm báo muốn nghe: Chính quảng cáo chứ không phải tin tức đã là động lực phát triển của thị trường truyền thông. Để hiểu những sự thay đổi trong ngành truyền thông, phải theo sau đồng tiền quảng cáo. Có nhiều xu hướng cho thấy ngày càng có nhiều tiền quảng cáo đổ vào các phương tiện truyền thông hiện đại – thư điện tử gửi trực tiếp, truyền hình cáp, các mạng thông tin, và xa dần các phương tiện truyền thông truyền thống như truyền hình và báo chí. Cho đến bây giờ, thay đổi đó còn chậm, các chuyên gia quảng cáo mong muốn nó thay đổi nhanh hơn để tiếp tục tìm kiếm cách tốt nhất nhắm vào những khán giả mà mình mong muốn. Có thể một vài năm tới đây sẽ có những thay đổi nhanh chóng trong sự tích hợp các phương tiện truyền thông.
Vì sự tích hợp các phương tiện truyền thông thay đổi, nên định nghĩa về tin tức cũng thay đổi. Như chúng ta đã đề cập ở chương 1, những định nghĩa tin tức truyền thống nay không còn phù hợp nữa. Và hơn thế, định nghĩa tin tức đang thay đổi theo cách mà nhiều nhà báo chưa hề tưởng tượng được. Sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ thông tin qua mạng và thư điện tử có thể làm cho con người trên khắp thế giới gặp gỡ nhau qua mạng. Ở đó họ chia sẻ cùng nhau kiến thức, thuật lại cho nhau những chuyển biến mới nhất với hàng ngàn chủ đề. Những bộ phận được dùng nhiều nhất trong hệ thống đó là các diễn đàn và những trang tin điện tử. Những người sử dụng chọn thông tin theo những đề tài mà họ thích thú.
Điều đó đặt ra một câu hỏi là liệu chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mà vai trò lập chương trình của các phương tiện truyền thông sẽ thu hẹp lại? Theo truyền thống, các phương tiện truyền thông quyết định cái mà công chúng cần phải biết về một sự kiện nào đó. Hơn thế nữa, các phương tiện truyền thông đặt ra chương trình chung bằng cách sắp xếp sự quan trọng tương đối của các chuyên mục – theo sự trình bày và kích cỡ của chuyên mục hay trình tự trình chiếu trong chương trình truyền hình. Đảm đương nhiệm vụ như người gác cổng thông tin, các phương tiện truyền thông quyết định các sự kiện được bộc lộ đến mức độ nào. Với việc xuất hiện của phương tiện truyền thông qua mạng, tất cả những điều đó đang thay đổi. Càng ngày công chúng càng có khả năng lựa chọn từ núi thông tin khổng lồ và tự quyết định cái nào quan trọng, cái nào không. Không giống như báo, truyền hình, tạp chí, các phương tiện truyền thông qua mạng có không gian gần như vô hạn để truyền tải thông tin. Vì vậy, vai trò của những người làm nghề truyền tải tin tức như người gác cổng đang thu hẹp lại.
Những sự thay đổi đó sẽ yêu cầu một sự điều chỉnh trong vai trò của các nhà báo. Sự điều chỉnh đó tác động đến xã hội chúng ta như thế nào thì còn chưa rõ. Những người theo thuyết vị lai tin rằng các phương tiện truyền thông tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc lên chương trình nếu như chúng không ở trong vai trò người gác cổng thông tin nữa. Các nhà báo sẽ phải giúp công chúng chọn lọc qua lượng thông tin khổng lồ và nói cho họ biết cái nào là quan trọng. Một vài nhà báo phải dành thời gian làm điều đó cho chính bản thân họ.
Sẽ có rất nhiều việc làm cho các nhà báo. Rốt cuộc, vẫn phải có một ai đó thu thập tin tức và tổ chức nó thành một chương trình dễ tiếp thu, hữu dụng. Nhưng những dịch vụ truyền thông mới sẽ đòi hỏi các nhà báo trình độ kỹ năng rộng hơn. Trong khi một số nhà báo có thể tập trung vào viết, như bây giờ, thì họ sẽ phải thể hiện sự đánh giá phong phú hơn qua hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, bản đồ – và thậm chí các thiết bị nghe nhìn – có thể bổ sung cho bài báo của họ. Đó là bởi vì các nhà báo tương lai sẽ phải am hiểu các dạng truyền thông, bằng thị giác cũng như bằng ngôn từ. Nhiều cơ quan báo chí đang ủng hộ thực tế đó vì họ cố gắng làm cho các phóng viên tư duy bằng hình ảnh nhiều hơn và các nhà nhiếp ảnh, nhà quay phim tư duy bằng ngôn từ nhiều hơn. Để cung cấp những kỹ năng này, các trường báo chí truyền thông đang thay đổi chương trình giảng dạy để giúp sinh viên cảm thấy dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận những điểm cần thiết của tất cả các loại hình truyền thông. Bất kể những thay đổi đó, hầu hết các nhà báo trẻ trong một vài năm tới sẽ bước vào nghề ở những vị trí truyền thống.
Do vậy, đây quả là thách thức khi bạn lên kế hoạch cho sự nghiệp báo chí truyền thông của mình. Bạn không chỉ lập kế hoạch cho một nghề nghiệp cụ thể trong mạng lưới truyền thông hiện nay mà còn phải chuẩn bị cho một thời kỳ thay đổi bước ngoặt. Mặc dù sự thay đổi gây ra nhiều phiền toái, nhưng nó cũng đem đến những hi vọng. Đây là cơ hội để bạn tham gia vào giai đoạn chuyển tiếp của truyền thông đại chúng, một giai đoạn chắc chắn mở ra nhiều cánh cửa thành công.
THE MISSOURI GROUP biên soạn

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

UGC - Tiềm năng và thách thức



“NỘI DUNG DO CÔNG CHÚNG TẠO RA”
Tiềm năng và thách thức đối với truyền thông hiện đại
(Bài tham gia Hội thảo quốc tế về báo chí và truyền thông tháng 10/2013)


Nguyễn Bùi Khiêm và Trần Hiền Mai
(Học viện Báo chí và tuyên truyền)
Nội dung do công chúng tạo ra (User generated content - UGC) có thể coi là một thuật ngữ truyền thông mới. Theo nghiên cứu của chúng tôi, sự hình thành thuật ngữ này gắn liền với những thành tựu của khoa học, công nghệ thông tin và trước hết là qua khả năng tương tác giữa công chúng với những giao thức truyền thông trên Internet. Nói cách khác, UGC là sự tham gia của công chúng xã hội trong việc xây dựng nội dung thông tin trên những nền tảng mà công nghệ thông tin đã mở ra. Hoạt động của báo chí truyền thông là hoạt động cung cấp thông tin sự kiện trên phạm vi đại chúng. Với nguồn thông tin vô cùng to lớn do công chúng tạo ra, việc khai thác, sử dụng như thế nào đã và đang là những tiềm năng và thách thức đối với hoạt động báo chí truyền thông trong giai đoạn hiện nay.
Trong những năm gần đây, Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ về lĩnh vực viễn thông và báo chí truyền thông. Tính đến tháng 8/2013, băng thông rộng và 3G (Broadband and 3G subscribers) cả nước đã đạt trên 10 triệu thuê bao [1]; xu hướng cá nhân hóa và di động hóa đã hình thành, công chúng từng bước làm chủ các thiết bị công nghệ thông tin cá nhân (smartphone, PDA, laptop, tablet). Kết quả nghiên cứu của Google cho thấy, đến hết quý I/2013, số người dùng smartphone đã chiếm đến 20% dân số của Việt Nam và có đến 70% số người được hỏi trả lời họ sử dụng smartphone để truy cập Internet, 50% sẽ không bao giờ rời khỏi nhà mà không có smartphone trong tay [2]; tính đến đầu năm 2013, cả nước có 812 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm; 74 báo, tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội, 1.174 trang thông tin điện tử tổng hợp; 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương; 172 kênh chương trình phát thanh và truyền hình quảng bá... [3].
Từ những khả năng và điều kiện mà công nghệ thông tin mở ra, các mối quan hệ truyền thông được thiết lập rất đa dạng cả về hình thức và nội dung, đặc biệt là cơ chế tương tác đa chiều và dường như khó có thể đặt ra những giới hạn nào về không gian, thời gian và các thiết chế quản lý. Cơ chế đó đã hình thành vai trò to lớn của công chúng trong việc cung cấp các nội dung truyền thông. Công chúng hoạt động như những nhà báo không chuyên, với sự đa dạng về thành phần luôn có thể tiếp cận và chứng kiến sự kiện trực tiếp, nhanh và xác thực nhất. Bước phát triển đó chính là điều kiện tốt nhất để công chúng có thể cung cấp nội dung thông tin mọi nơi, mọi lúc, nhanh hơn bất cứ lực lượng chuyên nghiệp nào khác. Với cơ chế hoạt động của UGC, công chúng bằng bất cứ phương tiện cá nhân nào họ có với những điều kiện và cơ chế xử lý rất linh hoạt có thể cung cấp nội dung truyền thông (thỏa mãn nhu cầu nghe - nhìn) trước hết là cho các các trang mạng xã hội, các diễn đàn và các trang cá nhân.  Người Việt Nam có thành ngữ “Trăm nghe không bằng một thấy”, giá trị thông tin được cung cấp chính ở ý nghĩa đó. Xu hướng công chúng cung cấp nội dung truyền thông đã và đang hình thành như một màng lưới rộng khắp và kiểm soát mọi ngóc ngách của đời sống xã hội cho phép các mạng xã hội, các trang blog, Vlog cá nhân đưa thông tin nhanh, rộng và cập nhật liên tục tạo ra sự cạnh tranh trực tiếp với hệ thống các cơ quan báo chí truyền thông chính thức.
 Trong cơ chế hoạt động của báo chí truyền thông truyền thống, nhà báo đã luôn nắm giữ vai trò chủ lực nhất trong việc sáng tạo các sản phẩm nội dung truyền thông. Chất lượng các sản phẩm nội dung của đội ngũ làm báo chuyên nghiệp chắc chắn sẽ được bảo đảm cả về nội dung và kỹ thuật (tất nhiên điều này phụ thuộc vào trình độ của phóng viên và điều kiện kỹ thuật và cơ sở vật chất). Mặt khác, trong xã hội phát triển, các sự kiện luôn có diễn biến nhanh và phong phú, không thể có cơ quan báo chí nào có thể có đủ phóng viên hay cộng tác viên để có thể kiểm soát tình hình thông tin.
Từ tình hình nêu trên, việc tranh thủ, khai thác và sử dụng các nguồn lực do UGC mang lại vừa là thế mạnh vừa là thách thức đối với các cơ quan báo chí trong giai đoạn hiện nay. Trong chuyên đề nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát việc sử dụng UGC tại các kênh thuộc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) xuất phát từ nhận thức vai trò của UGC đối với truyền thông nhất là khai thác thế mạnh của UGC trong việc cung cấp các nội dung nghe nhìn.
Từ năm 2007, VTV1 đã mở chuyên mục Blog giao thông phát sóng với thời lượng 10 phút, phát sóng hàng ngày liên tục trong hai năm. Trong hai năm thực hiện cơ chế khai thác, sử dụng nội dung UGC, chuyên mục đã nhận trung bình mỗi ngày 05 sản phẩm truyền thông từ công chúng và sử dụng đến 50% thời lượng phát sóng từ nội dung do công chúng cung cấp (âm thanh, ảnh, videoclip) Các nội dung truyền thông được công chúng cung cấp khá dồi dào, phong phú, tuy chất lượng các nội dung không đồng đều, còn không ít hạn chế về kỹ thuật, nhưng điều quan trọng là những nội dung đó đáp ứng được yêu cầu căn bản về tính thời sự và đa dạng thông tin, cho phép chương trình khai thác và sử dụng tốt.
Cũng từ năm 2007, VTV6 đã mở chuyên mục My Rec - Nut rec của tôi. Với thời lượng 30 phút, phát sóng 1 số/tuần, chuyên mục này đã sử dụng khoảng 50% sản phẩm UGC. Với phương thức hoạt động được giới thiệu hoàn toàn dành do khán giả đã mở ra cơ chế tương tác hoàn toàn mới theo xu hướng UGC. Công chúng vừa là người tham gia sản xuất, cung cấp nội dung, vừa đóng vai trò là của khán giả - giám khảo. Họ sẽ bình chọn ra clip yêu thích của tháng, clip của năm đối với từng chủ đề khác nhau.
Bên cạnh đó, trên các kênh của mình, VTV đã tổ chức thực hiện một số chương trình sử dụng các nội dung UGC trong một phần thời lượng chương trình như Những kỷ lục Việt Nam, Cà phê sáng với VTV3, Đồ Rê Mí... Nhiều chương trình đã sử dụng một phần thời lượng để phát các hình ảnh, video do công chúng gửi đến, thông qua hình thức mở các cuộc thi và bình chọn với những chủ đề khác nhau; mặt khác, VTV đã sử dụng các nội dung do công chúng cung cấp và khai thác sử dụng các hình ảnh lấy từ Internet, có ghi chú nguồn như chương trình Cà phê sáng với VTV3 sử dụng những clip vui nhộn, hài hước lấy từ Youtube để làm yếu tố giải trí, thư giãn giữa chương trình.
Một biên tập viên trực tiếp tham gia sản xuất một trong các chuyên mục này đã nhận định: hiệu quả của chương trình khá cao; công chúng ngày càng tham gia nhiệt tình, tự giác, có trách nhiệm trong việc ghi lại và phản ánh những sự kiện hiện tượng và thể hiện với tính mục đích rõ ràng. Họ đã tham gia và góp phần nâng cao tính tương tác của chương trình truyền hình.
Tuy nhiên, từ hoạt động của VTV cho thấy việc khai thác các nguồn lực từ UGC còn không ít khó khăn như việc triển khai chưa đồng bộ, nhất là về hạ tầng kỹ thuật để công chúng có thể gửi các sản phẩm nội dung truyền thông được dễ dàng hơn. VTV đã phải khai thác dịch vụ cung cấp nội dung video qua một thành viên thứ ba (www.clip.vn) và cho đến thời điểm hiện tại, VTV vẫn chưa có giải pháp kỹ thuật nào hoàn chỉnh hơn cho vấn đề này. So sánh cho thấy, chuyên mục My Rec - Nut rec của tôi không có nhiều tiếng vang nếu so với Blog Giao thông, phải dừng phát sóng nhiều lần để chỉnh sửa format và sau cùng dừng hẳn. Nguồn sản phẩm gửi đến cho chương trình không dồi dào. Ekip sản xuất đã phải huy động cả các sinh viên báo chí để sản xuất các clip, nhưng cũng không hiệu quả. Một biên tập viên thuộc VTV3 đã cho biết: VTV3 không thành công lắm với những dự định sử dụng nội dung do công chúng gửi đến. Nguồn sản phẩm không đủ phong phú để khai thác sử dụng liên tục. Có thể do việc sử dụng thiết bị để tự sản xuất ra một video chưa phải là phổ biến với công chúng ở Việt Nam. Lý do thứ hai là nhiều chương trình truyền hình chưa thực sự có uy tín để thu hút sự chú ý và tham gia của công chúng [4].
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động của báo chí truyền thông cho thấy, xu hướng công chúng tham gia cung cấp nội dung thông tin đã và đang thúc đẩy sự phát triển của các loại phương tiện truyền thông đại chúng. Xã hội phát triển dẫn đến nhu cầu thông tin của xã hội phát triển theo hướng đa dạng và đa cấp độ. Báo chí truyền thông truyền thống, một mặt phải dịch chuyển theo hướng đáp ứng nhu cầu đó, mặt khác phải chịu sự cạnh tranh của các loại hình phương tiện truyền thông mới như web, forum multimedia. Sự dịch chuyển nào của báo chí truyền thông cũng phải dựa trên các nền tảng của công nghệ thông tin, đó là một xu thế tất yếu. Chính vì thế, vô hình chung, báo chí truyền thông chính thống phải đối mặt và cạnh tranh trực tiếp với các loại hình truyền thông khác có cùng các giao thức truyền tải thông tin. Sự khác biệt tạo nên lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh này chỉ là việc tranh thủ, sử dụng và xử lý nội dung thông tin được công chúng cung cấp. Ai làm chủ được các nguồn tin đó, người đó sẽ chiến thắng.
Sự đa dạng và phong phú về nội dung thông tin được cung cấp bởi công chúng đòi hỏi phải có các phương tiện và công cụ tương ứng. Đó là điều kiện dẫn đến sự hội tụ truyền thông, là cơ sở dịch chuyển của những phương thức truyền thông mang tính chất đặc thù vốn có của một số loại hình báo chí truyền thông truyền thống. Từ lâu nay, những thiết chế quản lý và vận hành báo chí truyền thông luôn đặt ra những chuẩn mực nhất định về thông tin và chất lượng nội dung thông tin. Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật (ví dụ như âm thanh, hình ảnh, cho phát thanh, truyền hình) vẫn áp dụng từ trước đến trở nên rất bất cập khi cơ quan báo chí muốn khai thác và sử dụng các nội dung truyền thông (thường là phi tiêu chuẩn) được công chúng cung cấp. Vấn đề quan trọng là phải xác định được giới hạn của sự lệch chuẩn và trường hợp nào có thể sử dụng những nội dung đó thuần túy chỉ có ý nghĩa cung cấp thông tin thỏa mãn yêu cầu cập nhật, trực tiếp hơn là những yêu cầu khác mang ý nghĩa kỹ thuật.
Xu hướng công chúng tiếp cận và tự xử lý nội dung truyền thông trong điều kiện làm chủ các phương tiện cá nhân và các nền tảng kỹ thuật công nghệ thông tin đã và đang mở đang mở ra xu hướng xã hội hóa thông tin đại chúng. Việc tham gia các diễn đàn xã hội (forums), làm chủ các trang cá nhân (blogs) hay những điều kiện khác như có thể truy xuất (except) và liên kết (links) các nguồn tin để làm giàu nội dung thông tin của cả nhân cho phép công chúng với vai trò cá nhân có thể tạo ra thế cạnh tranh mà các cơ quan báo chí truyền thông chính thống không thể làm được. Như đã phân tích ở phần trên, trong bối cảnh này, báo chí truyền thông muốn tồn tài và phát triển được, không có cách nào hơn là phải tăng nâng cao chất lượng nội dung thông tin, xác lập cho được các mối liên hệ với các cá nhân hoặc các đầu mối cung cấp nội dung thông tin từ công chúng (blogers, forums, blogs, facebook pages). Mặt khác, với vị trí và vai trò của một cơ quan báo chí truyền thông chính thống, thông qua các công cụ như phản biện xã hội hay việc tham gia hoạch định chính sách chung thì cần thiết phải hoạch định chính sách cho chính mình, tạo ra thiết chế phù hợp và thuận lợi cho chính mình đáp ứng xu hướng phát triển của báo chí truyền thông trong tình hình mới. Với những sự lệch chuẩn do sự đa dạng và phong phú các nguồn nội dung truyền thông do công chúng cung cấp, nếu báo chí truyền thông sử dụng và sử dụng hiệu quả có thể sẽ dẫn đến nguy cơ lệch chuẩn ngay đối với cơ quan báo chí chính chính thống. Vấn đề đặt ra là phải tính toán làm thế nào để có thể dung hòa được và khắc phục được những hạn chế từ sự lệch chuẩn đó. Theo chúng tôi, UGC là một xu hướng tất yếu không thể đảo ngược, vấn đề quan trọng là phải điều chỉnh lại những chuẩn mực đã có phù hợp theo từng loại nội dung và từng loại đối tượng thụ hưởng những nội dung truyền thông đó như thế nào. Ví dụ như, đã là một kênh phát thanh, truyền hình hay một trang báo điện tử chuyên về tin tức (pagenews) thì yêu cầu đầu tiên và cao nhất là nội dung (contens) và thời điểm (news time) thông tin. Cùng một sự kiện, ai tiếp cận và phát hành được nhanh nhất; đồng thời, diễn biến và các mối quan hệ khác nhau liên quan đến sự kiện đó phải liên tục được cập nhật, phân tích nhanh nhất thì người đó, cơ quan báo chí truyền thông đó mới tồn tại và phát triển.
Cũng từ sự đa dạng và phong phú của các nguồn nội dung truyền thông, bên cạnh sự lệch chuẩn về kỹ thuật là sự lệch chuẩn về các ngôn ngữ biểu đạt nội dung. Các ngôn ngữ truyền thông truyền thống như báo in, phát thanh, truyền hình bị đe dọa bởi lối mòn “độc canh” từ lâu nay. Trước sức ép của đời sống xã hội hiện đại, công chúng muốn thụ hưởng sự đa dạng thông tin với các ngôn ngữ khác nhau tùy thuộc và điều kiện và tình hình của họ. Do đó, với mỗi cơ quan báo chí truyền thông, nếu chỉ độc diễn một thứ ngôn ngữ thể hiện sẽ làm mất đi thế cạnh tranh và do đó hội tụ truyền thông như một tất yếu. Về tổng thể, người ta đã thiết kế các mô hình tập đoàn truyền thông gắn với việc tổ chức các đơn vị thành viên khai thác các loại ngôn ngữ nhất định và có sự liên kết, chia sẻ nội dung thông tin trong nội bộ tập đoàn đó (Đài Tiếng nói Việt Nam bên cạnh việc sản xuất các chương trình phát thanh còn có báo in, báo hình và báo điện tử…). Đối với từng đơn vị thành viên, hoặc một cơ quan báo chí truyền thông đơn lẻ, sự hội tụ về ngôn ngữ được thể hiện ngay trên ngôn ngữ chính mà họ đang nắm giữ (các báo điện tử Dân trí, Tuổi trẻ, Pháp luật xã hội… đã tích hợp cả bản tin truyền hình online trên trang web của mình).
*
Từ việc nhận thức bước đầu về những tiềm năng và thách thức đặt ra từ xu hướng truyền thống mới, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
Trước hết, trong công tác đào tạo báo chí cần chủ động hơn theo hướng trang bị kỹ năng làm báo tổng hợp, một mặt vẫn tiếp tục đào tạo học viên báo chí chuyên sâu theo các chuyên ngành với một ngôn ngữ cụ thể (báo in, báo điện tử, báo phát thanh, báo truyền hình); mặt khác, cần trang bị theo hướng mở rộng các kỹ năng làm báo theo các ngôn ngữ khác với ngôn ngữ chính. Đặc biệt phải coi trọng việc trang bị tri thức về công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và các xu hướng phát triển của công nghệ thông tin trước mắt và lâu dài.
Hai là, với vai trò của người khai thác, tổng hợp thông tin qua các mối liên hệ với UGC, tiêu chuẩn năng lực của người làm báo chuyên nghiệp phải có sự biến đổi. Việc nâng cao tri thức và kỹ năng tổng hợp, phân tích và biên tập nội dung thông tin là một trong những yêu cầu quan trọng đối với người làm báo trong xu hướng phát triển của báo chí truyền thông hiện nay. Đây cũng là yêu cầu đặt ra với công tác đào tạo báo chí truyền thông trong tình hình mới. Năng lực sản xuất nội dung truyền thông là yêu cầu quan trọng nhất đối với mỗi người làm báo, tuy nhiên, trong xu hướng UGC, năng lực tổ chức, điều hành mạng lưới công chúng tham gia UGC cũng phải được trang bị. Để bảo đảm được tính xác thực và chất lượng nội dung truyền thông qua UGC, cần thiết phải xây dựng mạng lưới cộng tác viên với nhiều cấp độ và lĩnh vực và không gian khác nhau, có như vậy người làm báo mới chủ động được về nguồn nội dung truyền thông cũng như chất lượng nội dung được cung cấp.
Ba là, ở tầm vĩ mô, các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí truyền thông, các nhà hoạch định chính sách phát triển của báo chí truyền thông cần có sự đổi mới về tư duy và hành động, nhất là chủ động dự báo, dự đoán tình hình để có thể có sự điều chỉnh chính sách phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của báo chí truyền thông gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ thông tin.
*
UGC - Công chúng cung cấp nội dung truyền thông là một xu hướng phát triển tất yếu gắn liền với sự phát triển của công nghệ thông tin và các mạng xã hội. Báo chí truyền thông phải nhận thức được hết tiềm năng của xu hướng này để khai thác, sử dụng và phát triển; đồng thời phải thấy được những bất cập và hạn chế do tác động của xã hội đó tạo ra để có bước điều chỉnh trong hoạt động chung và mỗi người làm báo phải thông qua đào tạo, bồi dưỡng nâng cao và  hoạt động thực tiễn để nâng cao năng lực cá nhân, đáp ứng với yêu cầu và đòi hỏi của hoạt động báo chí truyền thông trong gian đoạn hiện nay./.


Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2013
Tài liệu tham khảo:
[1]Nguồn: Bộ Thông tin truyền thông (http://www.thongkeinternet.vn)
[4] Nguồn: Kết quả khảo sát, nghiên cứu của Khoa Phát thanh Truyền hình, Học viện Báo chí và tuyên truyền.


Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Thuật ngữ nghề báo Anh - Việt

(Nguyễn Bùi Khiêm) Để phục vụ việc học tập và nghiên cứu, bất cứ ai cũng phải bắt đầu bằng những khái niệm và thuật ngữ liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của mình. Với Báo chí học cũng vậy. Đây là bảng tổng hợp một số thuật ngữ liên quan trực tiếp đến hoạt động của các nhà báo và của các nhà nghiên cứu về báo chí, truyền thông.

Absolute privilege
Đặc quyền tuyệt đối - quyền của các nhà lập pháp, thẩm phán và người điều hành chính phủ được phát biểu trong khi đang thực thi trách nhiệm mà không sợ phạm vào tội phỉ báng.
Absolutism
Chủ thuyết tuyệt đối - một triết lý đạo đức không chấp nhận bất kỳ sự sai lệch nào đối với một tập hợp các nguyên tắc hay luật lệ đã định sẵn. Đối với một nhà báo theo chủ nghĩa tuyệt đối (absolutist jour­nalist), cứu cánh không bao giờ biện minh cho phương tiện.
Actual malice
Ác ý cố tình - liều lĩnh bất chấp sự thật. Đây là một tình thế trong các vụ kiện tụng về tội phỉ báng.
Actual malice test
Kiểm tra ác ý cố tình - biện pháp bảo vệ để phóng viên có thể viết bất kỳ điều gì về một người cầm quyền đương tại chức hay một ứng cử viên trong trường hợp phóng viên vô tình sử dụng các nguồn tư liệu không xác thật hay liều lĩnh bất chấp sự thật.
Act
Quảng cáo - viết tắt của advertisement.
Add
Trang bổ sung - trang đánh máy bản thảo theo sau trang đầu tiên. “First addsẽ là trang thứ hai của một bản thảo đánh máy.
Advance
Đưa tin trước - một bài tường thuật đề cập đến những vấn đề hay chủ đề sẽ được giải quyết trong một cuộc họp hay sự kiện sắp xảy ra.
Advertisement department
Phòng quảng cáo - một phòng ban của tờ báo chịu ưách nhiệm quảng cáo. Hầu hết các phòng quảng cáo đều có bộ phận riêng cho các mẫu rao vặt và quảng cáo nổi bật.
Anchor
Biên tập viên bản tin truyền hình - một biên tập viên trong trường quay của đài truyền hình chuyên kết nối các tin thời sự bằng cách đọc tin và dẫn dắt từ tin này sang tin khác.
Anecdotal lead
Dẫn nhập bằng câu chuyện - một bài báo được mở đầu bằng cách sử dụng một câu chuyện lý thú hay hài hước.
Anecdote
Mẩu chuyện - một câu chuyện thú vị và chứa đựng nhiều thông tin nằm trong một bài báo.
Angle
Góc nhìn chủ đạo - điểm tập trung hay cách tiếp cận một đề tài. Hướng phát triển mới nhất của một cuộc tranh luận kéo dài, một pha then chốt trong một trận đấu thể thao, hay bi kịch của một cái chết đặc biệt trong một thảm họa đại chúng đều có thể dùng làm góc nhìn chủ đạo.
Antinomianism:
Thuyết phản hệ - một triết lý đạo đức không công nhận bất kỳ nguyên tắc nào. Một nhà báo theo thuyết phản hệ (antinomian jour­nalist) thẩm định từng tình huống đạo đức theo những giá trị riêng biệt; tình yêu đồng loại không phải là giá trị tuyệt đối.
AP
Hãng thông tấn AP - viết tắt của The Asscociated Press, một hãng tin hoạt động khắp thế giới dưới hình thức hợp tác mà chủ sở hữu của hãng tin này chính là các tờ báo đãng ký mua tin dài hạn.
APME
Hiệp hội các chủ bút của hãng thông tấn API viết tắt của Associated Press Managing Editors, một tổ chức của các chủ biên và biên tập viên cùa các tờ báo là thành viên của hãng thông tấn AP.
 Arraignment
Luận tội - một tiến trình tòa án khi bị đơn được thông báo lời buộc tội. Trong tiến trình này, bị đơn được quyền yêu cầu biện hộ và có thể được quyền tại ngoại hậu tra.
Average
Trung bình, bình quân - một thuật ngữ dùng để mô tả các thành phần tiêu biểu hay điển hình của một tập thể. Trong toán học, đây là kết quả của một tổng số chia đều cho các thành phần trong tập hợp.
Background
Cơ sở thông tin - thông tin có thể được gán cho một nguồn tin ch có chức vụ chứ không nêu rõ họ tên; ví dụ a White House aide said(một trợ lý Nhà Trắng đã cho biết).
Backgrounder
Thông tin tư liệu - bài báo giải thích và cập nhật tin tức.  
Beat
Chuyên ngành - lãnh vực trách nhiệm được phân công cho phóng viên. Chuyên ngành có thể là một cơ quan; chẳng hạn như các tòa án; một khu vực địa lý; chẳng hạn như một thị trấn; hay một chủ đề; chẳng hạn như khoa học. Trong báo chí Mỹ, beatcòn dùng để chỉ một bài báo độc quyền.
Blotter
Phiếu câu lưu - một thuật ngữ đã lỗi thời chỉ những phiếu ghi tóm tắt thông tin cơ bản của một vụ bắt giam. Những thông tin này ngày nay luôn được lưu trong máy tính.
Books
Tập giấy nháp - những tờ giấy, thường là giấy in báo, và giấy than, để phóng viên chuẩn bị bài viết. Trong quy trình vi tính hóa hiện đại ngày nay thì người không còn dùng những tập giấy này nữa.
Brightener
Bài thư giãn, thay đổi không khí - một câu chuyện, thường là ngắn, có tính hài hước hay thú vị đối với độc giả. Còn gọi là là bright.
Bureau
Văn phòng chi nhánh, văn phòng đại diện - văn phòng của một cơ quan thông tấn nằm ở những khu vực khác ngoài trụ sở chính. Các tờ báo hay hãng tin có thể có văn phòng chi nhánh nhiều khu vực trong nước hay nước ngoài.
Bureau chief
Trưởng chi nhánh, trưởng văn phòng đại diện - người điều hành hoạt động nghiệp vụ của một tờ báo ở văn phòng chi nhánh.
Business department
Phòng tài vụ - một phòng ban trong một tờ báo chuyên làm công tác hóa đơn, kế toán và những chức năng liên quan.
Byline
Dòng ghi tên tác giả - thường nằm dưới tựa đề hoặc ở cuối một bài báo.
Caption
Chú thích ảnh
Chain
Báo liên hiệp - hai hay nhiều tờ báo có cùng một chủ hay một công ty sở hữu. Còn gọi là group. Tại Mỹ, Gannett là công ty báo liên hiệp lớn nhất.
Change of venue
Đổi quyền tài phán - giao vụ kiện cho một tòa án khác xét xử. Điều này thường xảy ra khi một bên liên quan trong vụ kiện khẳng định rằng việc tường thuật của báo chí địa phương đã tạo sẵn định kiến cho các thành viên ban hội thẩm tương lai
Circulation department
Phòng phát hành - bộ phận của một tờ báo chịu trách nhiệm việc phân phối báo ra thị trường.
City editor
Trưởng ban địa phương - còn gọi là metropolitan editor hay metro editor, chịu trách nhiệm một ban điều phối hoạt động thu thập tin tức địa phương, ở một số tờ báo Mỹ, ban địa phương còn xử lý cả tin khu vực và tin của tiểu bang
Civil law
Dân luật, luật dân sự - một quy chế cho phép một cá nhân hay tập thể có quyền khởi kiện một cá nhân hay tập thể khác.
Clips
Mẩu báo - tin hay bài cắt từ báo.
Close-ended question
Câu hỏi đóng - một câu hỏi trực tiếp, tính trước nhằm rút được một câu trả lời cụ thể. Chẳng hạn Will you be a candidate?” (Ông có ra ứng cử không?).
Conditional privilege
Đặc quyền có điều kiện.
Consumer Price Index
Chỉ số giá tiêu dùng - viết tắt là CPI, một phương tiện được chính phủ Mỹ sử dụng để đo lường tỷ lệ lạm phát. Những số liệu CPI được Cục Thống kê Lao động (Bureau of Labor Statistics) thuộc Bộ Lao động Mỹ báo cáo hàng tháng, đối chiếu sự thay đổi thực trong giá cả giữa thời điểm hiện hành và một thời điểm cụ thể làm cơ sở. Phóng viên Mỹ thường dùng chỉ số CPI để phản ánh chính xác giá thành thực tế của hàng hóa và dịch vụ.
Contributing editor
Cộng tác viên giữ mục - một người người phụ trách một mục thường xuyên trên tạp chí nhưng làm việc theo hợp đồng chứ không phải là nhân viên của tòa soạn.
Copy
Tin bài, bán tháo - những gì phóng viên viết ra và đã giao nộp cho tòa soạn.
Copy desk:
Phòng biên tập - bộ phận biên tập lần cuối củng mọi tin bài viết các tít lớn và thiết kế trang báo.
Copy editor
Biên tập viên, trưởng trang - người kiểm tra, trau chuốt và điều chỉnh các tin bài của phóng viên, ở các báo Mỹ, thường biên tập viên là người viết tít tựa cho các tin bài này, và đôi khi quyết định cả việc bố trí tin bài và hình ảnh như thế nào trên trang báo.
Cover
Bám, theo dõi - luôn đi cùng những hướng phát triển mới nhất của một chuyên ngành hay để tường thuật một sự kiện đặc biệt. Phóng viên theo dõi ngành cảnh sát có thể được phân công tường thuật một vụ giết người.
Criminal law
Hình luật, luật hình sự - một quy chế cho phép hội thẩm đoàn hay một viên chức tòa án có thể truy tố một cá nhân.
Cub
Phóng viên tập sự.
Cutline
Phú thích ảnh - một thuật ngữ đã lỗi thời, bắt nguồn từ khi các hình ảnh đăng báo hay tạp chí phải được khắc trên bản kẽm; một bản kẽm như vậy được gọi là một cut.
Database
Cơ sở dữ liệu - một ngân hàng thông tin được vi tính hóa, thường được các tờ báo hay các cơ quan thuê bao truy cập.
Deadline
Thời hạn chót - thời hạn mà các phóng viên, biên tập viên, hay phụ trách trang mục phải hoàn tất công việc theo kế hoạch ra báo.
Deep background
Cơ sở ẩn danh nguồn thông tin có thể sử dụng nhưng không được nêu rõ danh tính hay chức vụ của người cung cấp thông tin.
Delay-identification lead
Đoạn chủ đạo không tiết lộ ngay nhân vật, mở đầu ẩn danh - đoạn mở đầu của một bài báo mà yếu tố “ai” không được nêu tên mà chỉ được đề cập bằng nghề nghiệp, thành phố, cơ quan hay bất kỳ hình thức nào khác.
Desk
Ban biên tập - một từ thường được các phóng viên báo Mỹ sử dụng để chỉ chức vụ biên tập viên tin thời sự địa phương hay người phụ trách trang mục.
Desk assistant
Trợ lý biên tập - một chức vụ cấp thấp nhất trong phòng tòa soạn của một đài truyền hình. Trợ lý biên tập thường xử những công việc phân công làm tin thường nhật chẳng hạn như theo dõi tin của các hãng thông tấn và lắng nghe máy dò tin của cảnh sát.
Developing story
Câu chuyện đang diễn tiến - một sự kiện đáng đưa tin đang diễn ra trong nhiều ngày hay nhiều tuần.
Dialogue
Đối thoại - cuộc nói chuyện giữa hai hay nhiều người được đưa vào bài viết nhưng thường thì phóng viên không tham gia vào cuộc đối thoại.
Dig
Đào sâu - phỏng vấn và điều tra kỹ hơn.
Documentary
Phim tài liệu - tường thuật sâu rộng một sự kiện hay một vấn đề, từ này thường chỉ dùng cho truyền hình.
Editor
Biên tập viên - từ này dùng để chỉ người biên tập ở mọi cấp độ; đôi khi còn là cách gọi tắt của từ editor in chief tức là tổng biên tập hay chủ bút.
Editorial department
Phòng thư ký tòa soạn, ban biên tập - bộ phận làm tin bài của một tờ báo, chịu trách nhiệm mọi nội dung của tờ báo, ngoại trừ quảng cáo.
Editorialize
Xã luận hóa, nêu quan đỉểm cá nhân khi đưa tin - đưa ý kiến riêng của phóng viên hay của tờ báo vào nội dung bản tin, bài báo hay các dòng tít. Hầu hết các nhật báo Mỹ đều hạn chế chỉ nêu quan điểm trong những bài phân tích, các chuyên mục hay các bài xã luận.
Editorial page editor
Biên tập viên trang xã luận cá nhân chịu trách nhiệm trang xã luận và, ở các tờ báo lớn, trang op-ed tức là trang dành cho chuyên mục, ý kién độc giả và chân dung nhân vật.
Executive producer
Giám đốc sản xuất chương trình - một chức vụ điều hành trong đài truyền hình chịu trách nhiệm chung cho hình thức và nội dung cùa bản tin thời sự truyền hình.
Fair comment and
criticism
Phê phán và nhận định vô tư - những ý kiến như vậy được pháp luật Mỹ bảo vệ nếu như phóng viên không trình bày sai những cứ liệu dùng làm cơ sở cho các nhận định và phê phán, và không có ác ý.
Felony
Trọng tội, trọng án - những tội nặng có thể bị trừng phạt bằng án tử hinh hoặc cấm cố.
Field experiment
Thử nghiệm thực tế - một kỹ thuật nghiên cứu sử dụng khi phóng viên cố tình tạo tác động để quan sát hiệu quả phát sinh. Chẳng hạn, phóng viên có thể đưa một chiếc xe hơi đã được tinh chnh hoàn hảo đến nhiều hiệu sửa xe khác nhau để xem các thợ máy có tạo ra những sự cố buộc phải sửa chữa hay không.
Field producer
Phóng viên khảo sát - một phóng viên truyền hình đứng trong hậu trường, là người thường làm tất cả những chuyện khảo sát thực tế để sẵn sàng cho các phóng viên quay phim và lên hình trực tiếp tại hiện trưng.
Follow
Bài tiếp nối - bài báo cung cấp thêm thông tin về một việc đã được đăng tải trước đó; viết tắt là folo. Còn gọiupdate.
Foreshadowing
Nhử mồi - một kỹ thuật dẫn dụ độc giả đọc tiếp để biết những thông tin sẽ xuất hiện ở phần sau của bài báo.
Freedom of Information Act
Đạo luật Tự do Thông tin - Một đạo luật của Mỹ được thông qua năm 1966 giúp cho việc thu thập thông tin từ các quan công quyền liên quan dê dàng hơn. Luật này được tu chỉnh năm 1974 để nâng cao khả năng tiếp cận các hồ sơ lưu trữ của chính phủ Mỹ.
Futures file
Hồ sơ theo dõi tin tức một tập hợp xếp theo ngày tháng những mẫu cắt từ báo, thư từ, ghi chú và các thông tin khác để nhắc các biên tập viên nhớ phân công phóng viên theo dõi. Còn gọi tickler.
Feneral manager,
Tổng giám đốc, chủ nhiệm - cá nhân chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của một tờ báo. Một số liên hiệp báo chí Mỹ dùng từ này để gọi người lãnh đạo cao cấp nhất của mỗi khu vực.
Graf
Đoạn văn - viết tắt của paragraph.
Graphic designer
Họa sĩ trình bày.
Graphic editor
Biên tập viên mỹ thuật thường là một biên tập viên chịu trách nhiệm với tất cả những hình minh họa không phải là ảnh chụp trong một tờ báo, bao gồm các đồ thị thông tin, bản đồ và hình minh họa.
Handout
Xem news release.
Hard lead
Mở đầu trực tiếp, nhập đề trực khởi - đoạn mở đầu của bản tin hay bài báo nêu ngay những hướng phát triển mới hay những cứ liệu mới khám phá. Xem thêm soft lead,
Hard news
Tin cứng, tin nóng - còn gọi breaking news, những tin bài tường thuật các hoạt động của chính phủ hay doanh nghiệp; hay các sự kiện chẳng hạn như tội ác, tai nạn hoặc bài diễn văn. Yếu tố thời gian thường rất quan trọng đối với loại tin này. Xem thêm soft news,
Human-interest story
Tin bài bạn đọc quan tâm - loại tin bài có giá trị vì gây tác động cảm xúc đối với độc giả hay vì những chuyện kỳ cục chứ không phải do tầm quan trọng của nội dung thông tin.
Hypothesis
Giả thuyết - trong các bài phóng sự điều tra, giả thuyết chính là vấn đề cần được xác minh.
Immediate-identification lead
Đoạn chủ đạo tiết lộ ngay nhân vật, mở đầu đích danh - đoạn mở đầu của một bài báo mà yếu tố “ai” được nêu tên cụ thể.
Indictment
Cáo trạng - vãn bản do bồi thẩm đoàn ban hành xác nhận đã đủ chứng cứ về tội trạng để truy tố người nào đó.
Inflation
Lạm phát - xem thêm Consumer Price Index.
Information graphic
Dữ liệu thể hiện dưới dạng đồ họa, đồ thị.
Invasion of privacy
Xâm phạm quyền riêng tư.
Inverted pyramid
Hình tháp ngược - cấu trúc của một bài báo mà các thông tin được sắp xếp theo thứ tự mức độ quan trọng.
Investigating reporting
Phóng sự điều tra - những bài báo đeo đuổi, truy tìm những thông tin đang bị che giấu, chẳng hạn bằng chứng của những việc làm sai trái.
IRE
Hiệp hội Biên tập viên và Phóng viên Điều tra - viết tắt của Investigat­ing Reporters and Editors, một tổ chức chuyên trao đổi thông tin về các kỹ thuật làm phóng sự điều tra đặt trụ sở chính ở Khoa Báo chí Đại học Missouri (Mỹ).
Layout
Dàn trang, trang báo đã được trình bày hoàn tất.
Lead
1) đoạn dẫn nhập, “sa-pô”;
2) bài đinh của một số báo.
Lead-in
Chuyển mạch, chuyển đoạn - giới thiệu một trích đoạn đã quay phim hay ghi âm từ một nguồn tin hay một phóng viên khác.
Lead story
Bài đinh - bài đăng trên đầu trang nhất của một tờ nhật báo.
Libel
Tội phỉ báng, mạ ly - những lời tuyên bố sai sự thật làm thiệt hại đến uy túi của người khác khiến đối tượng bị căm ghét, khinh bỉ hay chế giễu, làm thiệt hại nghề nghiệp hay công việc kinh doanh của đối tượng ấy.
Maestra
Chủ biên - người đứng đầu một nhóm thu thập tin tức. Các phóng viên, trưởng trang, biên tập viên và các họa sĩ đồ họa cùng làm việc với người chủ biên để thực hiện những tường thuật hay chuyên đề đặc biệt.
Managing editor
Thư ký tòa soạn - cá nhân chịu trách nhiệm chính cho các tác nghiệp hàng ngày của nội dung tờ báo.
Managing of error
Biên độ sai sót - thuật ngữ thường dùng trong các thống kê hay điều tra xã hội học.
Misdemeanors
Tội nhẹ, khinh tội - ở Mỹ, từ này bao gồm hầu hết các tội vi phạm luật giao thông và kết quả là người phạm tội phải nộp tiền phạt hay bị giam ngắn ngày ở trại giam địa phương.
Morgue
“Nhà xác”, thư viện tòa soạn - nơi lưu giữ những số báo cũ, những bài đã đăng, hình ảnh và nhiều nguồn tư liệu để tham khảo.
Multiple-element lead
Đoạn dẫn nhập nhiều thông tin - đoạn dẫn nhập đưa ra ngay hai hay nhiều yếu tố thông tin đáng chú ý khác nhau.
Narration
Dẫn chuyện, tường thuật - cách kể chuyện, thường là theo trình tự thời gian.
Negligence test
Kiểm tra tính cẩu thả - những tiêu chuẩn có tính pháp lý (ở Mỹ) buộc phóng viên phải hết sức cẩn trọng và có trách nhiệm khi thu thập tin tức.
Network correspondent
Phái viên truyền hình - phóng viên truyền hình đưa tin thời sự trước máy quay, người này không nhất thiết phải là ngưỡi trực tiếp thu thập tin tức cho những gì anh ta ghi hình.
New media
Loại hình truyền thông mới, báo trực tuyến, báo điện tử - loại hình tức được chuyển giao qua máy tính.
News conference
Họp báo - còn gọi press conference,
News director
Đạo diễn truyền hình, trưởng ban thời sự - người điều hành cao nhất mảng tin tức của một đài truyền hình địa phương.
News editor
Trưởng ban thời sự - dùng cho nhật báo. nhiều tờ báo Mỹ, chức danh này còn dùng để chỉ người giám sát hoạt động của phòng biên tập. Xem thêm copy editor.
News release
Thông cáo báo chí - còn gọi là handout hay press release. Thông tin từ các tập thể hay cá nhân gửi đến các cơ quan thông tấn để nhờ quảng bá.
News room
Phòng tòa soạn, phòng làm việc chung của phóng viên và biên tập viên - có khi còn gọi là city room,
News story
Bài báo, mẩu tin - một câu chuyện nhấn mạnh và sự việc cụ thể, thường viết theo kiểu hình tháp ngược. Xem thêm inverted pyramid.
News value
giá trị thông tin - mức độ quan trọng hay gây chú ý của một bài báo.
Not for attribution
không trích dẫn nguồn tin - thông tin không được gán cho nguồn cung cấp.
Nut paragraph
Đoạn cốt lõi - một đoạn văn tổng kết các yếu tố then chốt hay nhiều yếu tố của một bài báo, thường thấy trong những tin bài không viết theo lối hình tháp ngược. Còn gọi là nut graf.
Obscenity
Tục tĩu - những từ ngữ gây khó chịu đề cập đến các bộ phận sinh dục hay các chức năng giới tính.
Off-camera reporter
Phóng viên không lên hình - người thu thập tin tức cho truyền hình nhưng không đứng trước máy quay tường thuật trên sóng.
Off the record
Không trích dẫn, không đăng báo - còn gọi là not for attri­bution.
Op-ed page
Trang báo đối diện trang xã luận, trang phản hồi bản đọc, ý kiến công luận - viết tắt của opposite editorial, trang này còn dành cho các mục tiêu điểm thời sự hay nhân vật gây dư luận.
Open-ended question
Câu hỏi mở - loại câu hỏi mở rộng thêm thông tin qua câu trả lời, chẳng hạn How did you get involved In politics?” (ông đã tham gia vào chính trị như thế nào?).
Open-meeting laws
Luật hội nghị công khai - luật của liên bang và các tiểu bang Mỹ bảo đảm quyền tiếp cận của nhà báo với các cuộc họp của quan chức chính quyền, còn gọi sunshine laws.
Open-record laws
Luật công bố hồ sơ - luật của liên bang và các tiểu bang Mỹ bảo đảm quyền tiếp cận của nhà báo với nhiều nhưng không phảỉ là tất cả hồ sơ lưu trữ của chính quyền.
Page designer
Nhân viên dàn trang, kỹ thuật viên trình bày báo - người thiết kế trang báo hay tạp chí.
Paraphrase
Viết lại lời trích dẫn - một đoạn văn tóm lược, cô đúc hay giải thích rõ một lời trích dẫn để chuyển tải ý nghĩa chính xác hơn hay mạch lạc hơn cách diễn đạt nguyên thủy của người nói. Không dùng dấu ngoặc kép khi viết lại lời trích dẫn.
Participant observation
Quan sát từ trong diễn tiến, thâm nhập thực tế - một kỹ thuật nghiên cứu của phóng viên khi phóng viên tham gia vào hoạt động mà họ muốn viết.
Payola
Bôi trơn” nhà báo - tiền hay quà tặng cho nhà báo để mong đổi lại sự ưu ái.
per capita,
Tính trên đầu người - thường dùng trong các thống kê.
Photo editor
Biên tập ảnh, trưởng phòng ảnh - cá nhân cố vấn cho ban biên tập về việc sử dụng ảnh chụp trong tờ báo. Người này cũng có thể quản lý luôn các phóng viên ảnh của tờ báo.
Piece
Bài - dùng như story,
Plagiarism
Đạo văn.
Play
Vị trí đăng bài - viết tắt của display. Bài hay có thể đăng ở đầu trang nhất, bài kém hơn đăng ở các trang trong.
Poll
Trưng cầu ý kiến - phương pháp đo lường dư luận bằng cách hỏi một nhóm người lựa chọn ngẫu nhiên để đại diện cho số đông. Còn gọi là survey hay public opinion poll.
Press
1) Máy in báo;
2) Báo giới, báo chí nói chung - có khi dùng để chỉ riêng báo viết để phân biệt với truyền hình (broadcast).
Press agent
Trợ lý báo chí - người được thuê để tạo ra tiếng tăm cho một khách hàng. Các chiến thuật mà trợ lý báo chí thường dùng - gọi là press agentry - là dàn dựng, sắp đặt những cuộc phỏng vấn hay những trò quảng cáo thu hút sự chú ý của phóng viên.
Press box
Khu vực dành riêng cho báo chí - một khu riêng biệt trong sân vận động hay thao trường dành cho báo chí làm việc khi có sự kiện lớn diễn ra tại những nơi này.
Press conference
Xem news conference.
Press release
Xem news release.
Production department
Phòng sản xuất - bộ phận của một tờ báo chịu trách nhiệm chuyển tất cả tin tức và quảng cáo thành sản phẩm hoàn chỉnh. Đây là nơi tập trung các thiết bị chế bản, bình phim, và máy in.
Profanity
Lời báng bổ - những từ ngữ đề cập một cách bất kính đối với những biểu tượng tôn giáo được cho là thiêng liêng.
Profile
Chân dung - bài báo nhằm mục đích bộc lộ cá tính của một con người hay một nhân vật nổi tiếng.
Public figure
Người của công chúng, nhân vật nổi bật - người có vai trò nổi bật trong các vấn đề thời sự của một đoàn thể, người có quyền lực và ảnh hưởng đầy sức thuyết phục đối với một cộng đồng, hay người trở thành trung tâm chú ý của một vấn đề tranh cãi công khai. Các tòa án Mỹ cho nhà báo quyền hạn rộng rãi khi tường thuật về các nhân vật nổi bật.
Publisher
Nhà xuất bản, chủ báo, chủ nhiệm - chức vụ điều hành cao nhất của một tờ báo, thường thuộc về chủ sở hữu của tờ báo mặc dù các liên hiệp báo chí ở Mỹ cũng có thể dùng chức danh này cho người điều hành cao nhất ở từng khu vực.
Pulitzer Prize
Giải thưởng Pulitzer - giải báo chí uy tín nhất do Joseph Pulitzer sáng lập ra và do Đại học Colombia quản trị.
Qualified privilege
Đặc quyền hạn chế, có điều kiện - quyền tường thuật những gì các quan chức chính phủ đã nói hay làm trong thẩm quyền chức vụ của họ nếu như tường thuật đầy đủ, công bằng và chính xác. Còn gọi là conditional privilege,
Quote
Câu trích dẫn, trích dẫn lời của người khác - ghi lại chính xác từng lời của nguồn tin.
Randomization
Lấy kết quả ngẫu nhiên. Xem thêm poll.
Rate
Tỷ lệ - một thuật ngữ thống kê thường dùng trong báo chí Mỹ để đo lường mức độ của số vụ tự tử hay giết người (tính trên đơn vị 100.000 người), hay mức độ lạm phát hoặc tăng giảm ngân sách hàng năm. Xem thêm per capita.
Records column
Mục linh tinh hàng ngày, mục sinh hoạt địa phương - một phần của tờ báo đăng thải thường xuyên những thông tin chẳng hạn như tin hỏa hoạn và cảnh sát thường nhật, cũng như các tin hôn nhân, ly dị, từ trần, chào đời liên quan đến những nhân vật trong cộng đồng.
Reporter
Phóng viên.
Rewrite
Chấp bút, nhuận sắc - viết lại một bài báo cho hay hơn. Từ này còn chỉ việc tòa soạn lấy thông tin qua điện thoại từ các phóng viên ở hiện trường và tổng hợp thành bài báo.
Roundup
Bài tổng quan - một bài báo bao gồm nhiều sự kiện có liên quan. Ví dụ, sau một cơn bão, phóng viên có thể làm một bài tổng quan các tai nạn, mất điện và các hậu quả của cơn bão.
Sample
Mẫu, điển hình - một phần của một nhóm hay một số đông người được chọn ra để nghiên cứu như là đại diện cho toàn bộ tập thế.
Scenic lead
Dẫn nhập cảnh quan - đoạn mở đầu bài báo tập trung vào mô tả một môi trường.
Second-cycle story
Bài báo được cập nhật thêm, bài bổ sung - phiên bản thứ hai của một bài báo đã xuất bản, còn gọi là second-day story. Bài báo này thường có thêm thông tin mới hay tiếp cận theo góc nhìn mới.
Senior editor
Trưởng ban biên tập - người biên tập nhiều phần, nhiều chuyên mục của các tạp chí lớn.
Senior writer
Cây bút gạo cội, nhà báo lỗi lạc - một chức danh của các tạp chí Mỹ chỉ dành cho những phóng viên giỏi nhất và kinh nghiệm nhất.
Series
Bài đăng nhiều kỳ - hai hay nhiều bài về cùng một chủ đề hay nhiều chủ đề có liên quan được xuất bản theo lịch trình định sẵn.
Service journalism
Báo chí hữu ích - một khuynh hướng làm báo lấy sự hữu ích đối với độc giả làm một tiêu chí đo lường tin tức. Cân nhắc kỹ nội dung và cách thể hiện, báo chí hữu ích trình bày các thông tin cần thiết cho độc giả theo cách tiện dụng nhất; chẳng hạn, bố trí những thông tin then chốt theo một danh mục hay trong một khung đồ họa.
Set-up
Câu mồi - trong phát thanh và truyền hình, đó là một câu nhập đề gây chú ý cho khán thính giả để họ theo dõi tiếp.
Shield laws
Luật bảo vệ nguồn tin - các nhà lập pháp Mỹ cho nhà báo quyền bảo vệ tông tích hay nhân thân của nguồn tin.
Show producer
Biên tập viên chương trình - chuyên gia về thời sự truyền hình đảm trách sản xuất các bản tin riêng lẻ của chương trình, chịu trách nhiệm trực tiếp với giám đốc sản xuất chương trinh. Xem thêm execu­tive producer.
Sidebar
Thông tin phụ trợ - thường được đóng khung (nên còn gọi là “box”) và in bên cạnh bài báo chính. Nội dung của các box thường là cung cấp thêm chi tiết về một nhân vật hay một vấn đề đã được nhắc đến trong bài viết chính.
Situation ethics
Đạo đức tùy tình huống - một chủ thuyết đạo đức cho rằng có thể phá vỡ một số nguyên tắc nếu như hoàn cảnh cho thấy việc phá vỡ nguyên tắc sê phục vụ cộng đồng tốt hơn. Ví dụ, một nhà báo tin rằng việc đánh lứa nguồn tín để lấy được thông tin là trái với đạo đức nhưng chính nhà báo ấy củng sẵn sàng che giấu tông tích, nhân thân cùa mình để thâm nhập vào các tổ chức phi pháp.
Sniff
Đánh hơi" - giai đoạn đầu tiên của một cuộc điều tra.
Soft lead
Mở đầu gián tiếp, nhập đề lung khởi - đoạn mở đầu dùng một câu trích dẫn,một mẩu chuyện hay các thủ pháp văn học để thu hút độc giả. Xem thêm hard lead,
Soft news
Tin mềm, tin không có thời gian tính - những tin bài về xu hướng, nhân vật hay lối sống. Yếu tố thời gian không quan trọng, đăng sớm hay muộn cũng được. Xem thêm hard news
Source
Nguồn - người hay hồ sơ mà phóng viên lấy thông tin. Từ này thường dùng cho người nhiều hơn.
Spot news
Tin đnh, tin tường thuật tại chỗ tường thuật sự kiện đúng lúc ngay khi đang din ra.
Story
Bài báo - còn gọi là piece. Một bài dài còn có thể gọi là một takeout hay một blockbuster,
Stylebook
Cẩm nang viết báo - một cuốn sách về những tiêu chuẩn quy ước khi viết báo, bao gồm các quy tắc về văn phạm, chấm câu, cách viết hoa hay viết tắt. Các hãng thông tấn uy tín như AP và UPI đã xuất bản những cuốn cẩm nang như vậy và được nhiều báo chí Mỹ sử dụng.
Substantial truth
Sự thật trọng yếu - tính chính xác trong các yếu tố cơ bản của bài báo.
Summary lead
Mở đầu tóm tắt, nhập đề toát yếu - đoạn mở đầu của một bài báo mà người viết tóm lược hai hay nhiều hành động thay vì tập trung vào bất kỳ hành động nào.
Sunshine laws
Xem open-meeting laws.
Tickler
Xem futures file.
Tie-back
Móc ngược, nhắc lại - một hay nhiều câu liên quan đến câu chuyện hay sự kiện đã tường thuật ở bài báo trước. Thường dùng trong những bài tiếp nối hay bài đăng nhiều kỳ. Đây còn là kỹ thuật để nhắc lại đoạn đầu trong đoạn kết của một bài báo.
Tip
Đầu mối thông tin - một thông tin nhỏ có thể dẫn tới một bài báo, còn gọi là lead.
Transition
Chuyển mạch - từ ngữ hay đoạn văn đưa độc giả từ đoạn này sang đoạn khác và cho thấy mối quan hệ của các đoạn văn.
Undercover reporting
Tường thuật bí mật - một kỹ thuật phóng sự điều tra khi phóng viên dấu kín nhân thân để thâm nhập lấy thông tin.
Universal desk:
Phòng biên tập sơ bộ - bộ phận biên tập chuẩn bị tin bài cho tất cả các bộ phận biên tập.
Update
Xem follow.
UPL
Hãng thông tấn UPI - viết tắt của United Press Agency.
Videographer
Người quay phim truyền hình.
Videoprompter
Máy nhắc tin - một thiết bị điện tử hay cơ khí thể hiện nội dung của bản tin đáng đọc để phát sóng. Thiết bị này đặt bên cạnh máy quay để phát thanh viên nhìn và đọc theo mà mặt vẫn cứ như là đang nhìn thẳng vào ống kính máy quay.
Vulgarity
Từ ngữ thô lỗ.
Wrap-up
Lời đúc kết - nhận định, bình luận hoàn tất ngay cuối một bản tin phát thanh hay truyền hình, một kết thúc mạnh của một bài tường thuật.