Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong cách là gì?. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong cách là gì?. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại của dân tộc, Người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam và dắt dẫn báo chí nước ta phát triển và trưởng thành.

Các phẩm chất tuyệt vời “đại nhân, đại trí, đại dũng” của Bác đều dành cho cách mạng-vì dân tộc và nhân loại cần lao. Là nhà cách mạng lỗi lạc, lại được xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn hóa uyên thâm, bản thân lại có năng khiếu bẩm sinh về báo chí và văn chương, Người đã sử dụng báo chí (và văn chương) làm một thứ vũ khí sắc bén trong hoạt động cách mạng. Các tác phẩm của Người có giá trị to lớn về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Riêng về báo chí, kể từ năm 1919 cho đến năm 1969, Bác Hồ đã viết hơn 2000 bài báo, thuộc nhiều thể loại, với nhiều bút danh, tạo nên một phong cách đặc sắc-phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là sự tổng hòa những đặc điểm độc đáo, sinh động và giàu tính thẩm mỹ về tư tưởng, đạo đức, về đề tài, thể loại, kết cấu và văn phong, cũng như các hình thức thể hiện trong các tác phẩm báo chí của Bác. Cơ sở tư tưởng của phong cách báo chí Hồ Chí Minh là: Vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, kết hợp với đạo đức cao cả và trong sáng của Người là: “Cần-kiệm-liêm-chính, chí công vô tư”. Đấy cũng là mục đích, là nội dung khái quát các tác phẩm báo chí của Bác Hồ.

Đề tài các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh rất đa dạng. Bác không viết chuyên sâu về một đề tài, như nhiều nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp. Bác không bỏ qua một đề tài nào, một vấn đề nào, một sự việc nào liên quan đến đời sống của nhân dân ta và cách mạng quốc tế. Bác viết về mọi đối tượng: Về ta, về bạn, về địch. Đề tài quan trọng, tập trung nhất của Bác là viết về ta. Bác viết về mọi tầng lớp nhân dân: Nam, phụ, lão, ấu, về công-nông-binh-trí thức, những người buôn bán, những người theo các loại tôn giáo và các nhà tư sản dân tộc có lòng yêu nước thương nòi-để kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”! Bác đi vào những đề tài thiết thực nhất đối với nhân dân và đất nước.

Viết về “Đời sống mới”, Bác chỉ ra những nội dung cụ thể, là: “Sốt sắng yêu Tổ quốc”, “Sẵn lòng công ích”, cho đến cách ăn mặc, làm việc, biết cư xử và “biết ham học”, v.v.. Bác viết về Tết Trung thu, sức khỏe và thể dục, bình dân học vụ, “Đạo đức công dân”; “Tìm người tài đức” phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc, cho đến các vấn đề của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, v.v..

Thể loại báo chí của Bác rất phong phú. Bác vận dụng mọi hình thức thể loại để biểu đạt nội dung, nhằm mục đích: “Giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” (Lời Bác trong bài “Cách viết”, 8-1953). Từ các bài nói, bài viết, bài thơ, các bức thư (đăng báo) cho đến các thể tài tin, bài, phóng sự, ký sự, bút ký hay tùy bút (chủ yếu Bác viết vào những năm 20 của thế kỷ XX) được Bác dùng xen kẽ, kết hợp với nhau, tuy Bác không ghi là “phóng sự”, “ký sự”, “bút ký” hay “tùy bút” dưới nhan đề bài viết của mình.

Nếu chỉ căn cứ vào lý luận về thể loại theo cách hiểu cũ, rập khuôn, máy móc, sẽ không thể hiểu hết được các vấn đề hình thức thể loại của các tác phẩm báo chí Hồ Chí Minh. Nói cách khác, là một nhà báo vĩ đại, kỳ tài, Bác Hồ không lệ thuộc vào hình thức thể loại của bài viết, chỉ cốt trình bày tốt nhất nội dung, thể hiện rõ nhất chính kiến của mình. Vì vậy, Người đã sáng tạo, bổ sung, đem lại nhiều vấn đề mới mẻ, độc đáo và khoáng đạt cho lý luận về thể loại của tác phẩm báo chí ngày nay và trong tương lai-kể cả ở Việt Nam và thế giới. Thường là Bác kết hợp một vài thể loại trong bài viết của mình, tạo nên một sắc diện tươi tắn, sinh động và biến hóa cho tác phẩm, nhằm làm cho quần chúng “nhớ được”, “hiểu được” và “làm được” (chữ Bác dùng). Bác nói: “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần làm cho mọi người thấy được nhiều loài hoa đẹp” (trích bài “Cách viết”).

Kết cấu bài viết của Bác chặt chẽ, gọn gàng. Bác thường vào đề bằng lời trực tiếp. Nhiều bài viết của Bác không phải cứ theo khuôn mẫu: Mở bài, thân bài và kết luận, mà chỉ có hai phần: Đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Ngay trong phần đặt vấn đề, cũng đã có ý giải quyết vấn đề, nhưng ý tứ rất rõ ràng, mạch lạc. Mỗi phần trong một bài, Bác chỉ nêu một, hai ý lớn; mỗi ý được diễn đạt bằng một, hai câu hoặc đoạn văn ngắn gọn.

Văn phong của Bác đa dạng, thể hiện bộ óc thông minh trác tuyệt, tâm hồn lộng gió thời đại và sự am hiểu văn hóa Đông-Tây, kim-cổ của Người vô cùng sâu rộng. Viết về kẻ địch, Bác thường dùng lối văn châm biếm ý nhị nhưng ý tứ rất sâu xa, sắc sảo, thông minh đến kỳ lạ; văn phong vừa có tính chất báo chí, vừa có tính chất nghệ thuật văn chương. Viết về ta, viết cho quần chúng nhân dân, Bác lại dùng lời văn nôm na, vận dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ của dân tộc, diễn đạt theo cách nói, cách nghĩ, cách cảm của quần chúng.

Các tác phẩm báo chí của Bác thường rất ngắn, viết “thiết thực” và kịp thời, không lạm dụng tiếng nước ngoài. Nét độc đáo này cũng xuất phát từ định hướng tư tưởng: “Viết cho ai?”, “Viết để làm gì?” của Bác. Phê phán cái lối viết “rau muống”, nghĩa là tràng giang đại hải, làm cho người đọc như bị “chắt chắt vào rừng xanh”, Bác dạy các nhà báo: “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt”, vì “trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm không cho phép xem lâu” (trích bài “Cách viết”).

Bác không lạm dụng tiếng nước ngoài, mặc dù Người thông thạo nhiều ngoại ngữ. Bác nói: “Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia”. Bác dạy: “Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng”. Bác khuyên các nhà báo phải “học cách nói, tiếng nói của quần chúng”, và chính Bác đã làm gương về mặt này. Vì thế, ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh rất giản dị, trong sáng, đậm đà tính dân tộc.

Phong cách báo chí Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời của báo chí cách mạng nước ta 87 năm qua và còn mãi mãi, có tiếng vang lớn đối với báo chí quốc tế. Những tác phẩm báo chí bất hủ của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tạo nên phong cách báo chí Hồ Chí Minh, có sức mạnh lớn lao động viên nhân dân làm nên những thành tựu huy hoàng của cách mạng Việt Nam, trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc, tạo dựng vị thế Việt Nam trên thế giới, khích lệ chúng ta vững bước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay./.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Văn phong tranh luận của Thiếu Sơn trên báo chí

Xuất hiện bất ngờ trên diễn đàn văn chương học thuật, mang theo thể văn phê bình  mới lạ, Thiếu Sơn khiến người đọc phải ngỡ ngàng và đón chào ưu ái. Với ngòi bút phê bình nhạy bén, ông có công khuấy động thêm không khí sáng tác và thưởng thức văn chương những năm 1932 – 1945 của nước nhà. Cùng với Hoài Thanh, Trương Chính, Đinh Gia Trinh, ông được xem là nhà phê bình trực cảm.

Đánh giá toàn diện về Thiếu Sơn, nhà nghiên cứu Vũ Thanh đã có phần giới thiệu khái quát, hàm súc trong Từ điển văn học[1]; tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Xuân lại dành riêng một bài nghiên cứu sắc sảo, tài hoa: Thiếu Sơn và hoạt động phê bình văn học trước 1945. Riêng tập Phê bình và cảo luận của ông, từ lúc trình làng, đã gây sửng sốt và chấn động bao nhà nghiên cứu. Học giả Phan Khôi sung sướng, ngợi ca đó là những “hột gạo no nê nguyên vẹn”. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan khe khắt, gọi Thiếu Sơn là “một nhà phê bình mềm mỏng và thủ cựu”. Giáo sư Nguyễn Văn Trung khó chịu, quy tác giả vào “nhóm phê bình ấn tượng chủ quan, giáo điều”. Còn giáo sư Thanh Lãng lại nồng nhiệt, tuyên dương tác phẩm: “Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn đã khai mở hẳn một kỷ nguyên mới và từ Phạm Quỳnh đến Phan Khôi, qua Lê Thước, thể văn phê bình dưới ngòi bút Thiếu Sơn đã tiến một bước dài”...

Tôi chưa đủ hiểu biết và tầm nhìn, để có thể viết khác hơn, mới hơn mọi người, về tác gia, tác phẩm này. Bởi vậy, tôi chỉ xin tìm hiểu một mảng nhỏ trong sự nghiệp của nhà phê bình: một số bài tranh luận đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy[2], thời điểm 1935. Phạm vi khảo sát gồm 07 bài:
-  Câu chuyện văn chương tả chân chủ nghĩa.
-  Hai cái quan niệm về văn học.
-  Nghệ thuật với đời người.
-  Văn học bình dân.
-  Báo Sống phê bình “Kép Tư Bền.”
-  Bạn đọc văn.
-  Nhà viết tiểu thuyết.

Nội dung tranh luận của các bài báo đã được viết nhiều. Vai trò, ý nghĩa của nó thế nào, đối với đời sống văn chương học thuật, đã rõ. Bởi thế, bài viết này không chủ ý quay lại phân tích nội dung của nó. Tôi chỉ muốn thử tìm đặc điểm văn phong của tác giả. Khi đọc, tôi phát hiện sức hấp dẫn trong lối văn tranh luận của Thiếu Sơn: ông thường nêu vấn đề và lập luận ra sao? khi biện giải, ông thích dùng từ ngữ, kiểu câu gì? Qua đối sánh văn phong một số cây bút thời ấy(3), tôi nhận ra dáng nét riêng của ông, trong cách nêu vấn đề tranh luận và lối viết.

*
Những bài tranh luận của Thiếu Sơn thường có lối đặt tựa đề ngắn gọn, hàm súc.

Biết rằng, người cầm bút bao giờ cũng có chủ định riêng, khi đặt tên đứa con tinh thần của mình. Nhưng không phải tựa đề nào cũng giúp người đọc hiểu ngay nội dung bài viết. Tản Đà thích tạo ra bầu không khí tri âm: “Cùng các bạn làng thơ”, “Câu chuyện nói về thơ”, “Một chữ trong nghề thơ”,... Nguyễn Công Hoan thường khởi hành từ tình huống tranh luận: “Tôi trả lời các bạn làng văn”, “Từ Đoạn tuyệt đến Cô giáo Minh cùng ông Khái Hưng”, “Việc Phong Hóa”,... Hoài Thanh ưa chuộng lối kích thích, gợi mở người đọc: “Một quyển sách đang mong mỏi”, “Xem truyện thần tiên thì có sao?”, “Cần phải có một thứ văn chương mạnh mẽ hơn”,...

Riêng với Thiếu Sơn, tựa đề bài báo thường ngắn gọn, nêu bật ngay đối tượng nghiên cứu. Xét quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, ông nêu: “Nghệ thuật với đời người”. Nhằm phân loại đối tượng người đọc, ông ghi: “Bạn đọc văn”. Đề xuất quan niệm về các tiểu thuyết gia, ông có “Nhà viết tiểu thuyết”. Cổ xúy lối văn chương tả chân, ông dạo đầu: “Câu chuyện văn chương tả chân chủ nghĩa”. Rồi “Báo Sống phê bình Kép Tư Bền(4)”, “Văn học bình dân”. Có khi, ông còn tỏ thái độ với đối tượng, qua cách dùng từ “cái” để định danh: “Hai cái quan niệm về văn học”. Tính chất hàm súc của tựa đề dễ tạo cho người đọc một định hướng tốt, một tâm thế tiếp nhận tốt. Họ cảm giác tác giả hết sức tập trung và am hiểu thấu đáo vấn đề tranh luận.

Tất nhiên, lối đặt tựa đề này không phải đặc quyền của (và chỉ có ở) Thiếu Sơn. Nhưng tần số xuất hiện của nó khiến văn phong Thiếu Sơn dễ lộ ra “sắc tướng”, qua cảm nhận đầu tiên của người đọc.

*
Cách mở đầu bài viết của Thiếu Sơn khá nhẹ nhàng, luôn xuất phát từ dư luận, nhu cầu của người đọc.

Nhiều nhà phê bình thường vào đề bằng lời tự xưng, đề xuất chủ quan, theo kiểu: tôi thấy tình huống này nên tôi đặt ra. Tản Đà viết: “Trước đây tôi đã có bài nói về danh nghĩa của thơ, nay xin nói về tính chất.”(Câu chuyện nói về thơ), “...Ông Mai Lâm với tôi là người không quen biết,...” (Đáp lời viếng của ông Mai Lâm),... Nguyễn Công Hoan thố lộ: “Thưa các ngài, tôi xin giới thiệu với các ngài là đã một phen tôi làm chủ báo.” (Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo...), “Vì một bài báo của tôi mà cả tòa báo Phong Hóa bận rộn” (Lối trích văn của Phong Hóa),... Hoài Thanh, thỉnh thoảng, cũng mượn lối vào đề này: “Tôi tưởng ít nghề có thể mệt nhọc và khổ tâm bằng nghề văn.” (Nỗi khổ tâm của nhà văn), “Ông Tam Lang là người chịu khó. Đó là cảm giác thứ nhất của tôi trong khi xem tập phóng sự này.” (Tôi kéo xe, phóng sự của Tam Lang).

Bắt đầu bằng “cái tôi”, các nhà phê bình muốn hăm hở bộc lộ ngay tư cách, quan điểm cá nhân. Thiết nghĩ, đó là điều cần thiết đối với một người chuyên nghề thưởng thức và thẩm định văn chương. Phần Thiếu Sơn, ông vẫn luôn có quan điểm cá nhân. Ngòi bút ông luôn tỏ rõ tính chuyên nghiệp (mặc dù, ông chỉ là một công chức Sở bưu điện viết phê bình). Tuy nhiên, ông có vẻ không hứng thú lắm, kiểu vào đề này. Ông thường thích “nhờ vả” ý kiến một cây bút lừng danh nào đó. Khi thì ông “mượn” thi sĩ tản Đà: “Ông Tản Đà đã có một lần than nỗi “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” mà phải đem thơ lên chợ Trời đi bán” (Bạn đọc văn). Chỗ thì “nhờ” học giả Phạm Quỳnh: “Ông Phạm Quỳnh mở “Nam Phong tùng thư” có viết tựa mấy câu như sau này” (Hai cái quan niệm về văn học). Có lúc, ông cần một danh sĩ phương Tây: “Ông Léon Daudet, một yếu nhân trong Hàn lâm viện Goncourt, mới đây có viết trên một tờ tuần báo Pháp...” (Nghệ thuật với đời người). Phần nhiều, ông phải “vay mượn” dư luận người đọc để vào tình huống. Ở bài “Câu chuyện văn chương tả chân chủ nghĩa”, ông mở đầu: “Đã nhiều người nhận thấy rằng văn chương của ta mới bắt đầu có khuynh hướng về chủ nghĩa tả chân”. Sang bài “Văn học bình dân”, ông viết: “Ít lâu nay, trong báo giới thường thấy nhiều người nói đến hai chữ Bình dân”. Đến bài “Báo Sống phê bình Kép Tư Bền”, ông đề cập: “Đã nhiều nhà phê bình nói đến ông Nguyễn Công Hoan và công nhận cho ông là một cái thiên tài hiếm có”. Chỉ riêng trong bài “Nhà viết tiểu thuyết”, ông mới trực tiếp “xuất đầu lộ diện”: “Cũng ở Tiểu thuyết thứ bảy, cách đây đã khá lâu, tôi có viết bài Hai cái quan niệm về văn học”. Trường hợp nầy, phải nói đúng hơn, là ông “tái xuất giang hồ”, phải làm một việc chẳng đặng đừng: trực tiếp đối chất cùng cây bút Hải Triều.

Về lối vào đề này của Thiếu Sơn, tôi không cho là ông thiếu tự tin, cũng chẳng phải thiếu bản lĩnh, đến nỗi chịu cảnh “núp bóng nhà người”. Bởi, không có bản lĩnh, chẳng ai dám vung bút làm một nhà phê bình, đi thẩm định văn người khác. Đọc lại Phê bình và cảo luận, người đọc không khó khăn gì để thấy ngay “cái tôi” của nhà phê bình nhân vật Thiếu Sơn: “Cách mười mấy năm nay, khi tôi còn học ở Moncay (Bắc kỳ), ông Trần-trọng-Kim đã có lần ra thanh tra trường học của tôi” (Ông Trần-trọng-Kim), “Trong những cuốn sách mà từ Nam, chí Bắc, không mấy người là không biết tới, tôi tưởng phải có truyện Tố Tâm, tác giả là một nhà tân học, ông Song An Hoàng Ngọc Phách” (Phần Phê bình sách), “Tôi không làm nghề văn sĩ, nhưng cũng có lúc cao hứng ngồi viết văn chơi” (Phần Cảo luận),... Tôi nghĩ, khi viết phê bình nhân vật và tác phẩm, Thiếu Sơn luôn chủ động giữ vai trò một “speaker”. Ông hân hoan xuất hiện đầu tiên, để giới thiệu chương trình và kéo tấm màn nhung, đón mời nhân vật chính.

Thế nhưng, phải giải thích thế nào, trường hợp các bài báo? Tôi cả nghĩ, khi viết bài tranh luận, Thiếu Sơn muốn tránh góc nhìn định kiến chủ quan, mỗi khi kiến giải bất cứ vấn đề nào. Ông muốn, điều mình đặt ra phải là mối quan tâm của người khác, đều có ý nghĩa thời sự và cấp thiết đối với văn chương nước nhà.

Dù mở đầu bằng ý kiến ai đó, nhưng kết thúc bài viết, bao giờ ông cũng bày tỏ rõ ràng quan điểm cá nhân. Những quan điểm ấy, nhiều chỗ, đâu phải làm hài lòng tất cả, dẫn đến việc “không làm mếch lòng ai” (lời Vũ Ngọc Phan)? Tôi cho lối văn Thiếu Sơn có “nét duyên” ngầm, dễ lấy lòng người, bởi tính khiêm cung, không hề “đao to búa lớn”. Ông luôn tỏ ra đề cao, hướng về người đọc: ông cầm bút xuất phát từ nhu cầu người đọc! Riêng giới phê bình, khi đọc ông, chắc cũng ít nhiều hởi lòng hởi dạ, vì biết quan điểm của mình luôn được một đồng nghiệp tôn trọng, lắng nghe. “Không làm mếch lòng ai”, ý Vũ Ngọc Phan muốn nói đến chỗ này chăng?

*
Khi biện luận, Thiếu Sơn thường hay lật đi lật lại vấn đề, đối chiếu, so sánh, rồi mới bộc lộ ý kiến cá nhân.

Trước khi đề xuất ý kiến cá nhân, bao giờ ông cũng nêu, phân tích thấu đáo quan điểm của người khác, nhất là những quan điểm đối nghịch với ông. Có vẻ, ông không muốn người đọc vội tin và xuôi theo dòng chảy một chiều. Ông giúp mọi người hiểu rộng vấn đề, nhìn ngắm nó ở mọi giác độ, rồi hãy chọn lấy một hướng nhìn, một cách hiểu. Bàn về sự thực, ông nói “Muốn biết sự thực, ta phải biết qua cảnh mộng”. Định đề cao “sự thực ở văn chương”, ông yêu cầu phải biết trước hết “cái sự thực ở đời” (Câu chuyện văn chương tả chân chủ nghĩa). Nhằm phê phán cái nhìn cực đoan của Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Học về văn chương, ông bắt đầu bằng việc phân tích cặn kẽ từng ý kiến của họ (Hai cái quan niệm về văn học). Trước khi điểm qua cái mới, ông không quên bàn về cái cũ: “Theo quan niệm cũ, theo chế độ cũ thì... Bây giờ nhân chịu ảnh hưởng văn học của Âu Tây,...” (Văn học bình dân).

Khi cần phản bác một ai, hoặc để tăng sức mạnh lập luận, ông sẵn sàng mượn lời người khác, những ý kiến phù hợp quan điểm với mình. Những câu trích ấy luôn có sức mạnh của ngòi nổ, kích thích tranh luận, phá vỡ bao định kiến hẹp hòi, cũ kỹ. Có thể kể, đó là cảm nghĩ của văn sĩ Flaubert: “Thỉnh thoảng tôi cảm thấy một cái trạng thái linh hồn cao hơn cái đời thực tại” (Nghệ thuật với đời người). Đây  là lời một văn sĩ Pháp: “Mỹ cảm là một cái cảm quan phát triển chậm nhất ở người ta”, hoặc đề xuất của nhà triết học Bergson: “Văn chương là một cái xã hội mở chứ không là một cái xã hội đóng” (Bạn đọc văn). Có khi, dùng lối gián tiếp, ông chọn dịch trang viết của văn sĩ bình dân Jules Vallès cuối thế kỷ 19 (Văn học bình dân). Lúc cần, ông nhắc lại lời tự bạch của nhà tiểu thuyết Nga Tchékhov (Nhà viết tiểu thuyết). Có thể xem, những phần trích dịch này chính là đòn bẩy cho luận điểm của Thiếu Sơn. Nó đồng thời chứng tỏ sự uyên bác, tinh nhạy của tác giả, khiến những “cao thủ” đối đầu ông phải dè dặt và kiêng nể.

Khi lập luận, ông hay dùng lối đối chiếu, theo từng cặp ý tưởng: cân xứng hoặc phản nghịch. Trong “Câu chuyện văn chương tả chân chủ nghĩa”, ông viết: “...một đằng là thực, một đằng là mộng, một đằng là sự quan sát tinh tường, một đằng là trí tưởng tượng phóng túng.” Ở “Hai cái quan niệm về văn học”, ông nhận xét: “Nhà triết học quý ở sự phát minh chân lý, nhà văn học quý ở sự trau dồi cái đẹp,...”. Sang bài “Nghệ thuật với đời người”, ông nhấn mạnh:
“Ông Léon Daudet là người đảng bảo hoàng, ông Hériot là người đảng xã hội cấp tiến.
Ông Léon Blum là người đảng xã hội, ông Cachin là người đảng cộng sản.”

Tương tự thế, trong bài “Văn học bình dân”, ông khơi vấn đề: “Người thì bàn phải.... người thì nói phải....”, lại thêm phần giảng giải: “Tiểu nhân làm nuôi quân tử. Quân tử học dạy tiểu nhân. Một đằng là thầy, một đằng là trò,...”.
Lối đối chiếu này có vai trò làm tiền đề, là bước đệm quan trọng, giúp tác giả đưa ra luận điểm của mình. Ta thử lướt qua vài tiểu kết: “Nhân thế mà ta nói được rằng: cái sự thực ở văn chương còn bao la rộng rãi hơn cái sự thực ở thực tế nhiều” (Câu chuyện văn chương tả chân chủ nghĩa), “Người đảng bảo hoàng không thể đồng ý kiến được với những người đảng cấp tiến, xã hội hay cộng sản. Nhưng cái hay của văn chương thì người nào cũng cần phải biết thưởng thức như nhau. Vì văn chương không có phái đảng, vả là của mỹ thuật chứ không phải là việc của chánh trị” (Nghệ thuật với đời người),...

Phải chăng, riêng về cách trình bày nội dung, chính lối lập luận này đã khiến Vũ Thanh cho rằng Thiếu Sơn “chưa thoát được ảnh hưởng của văn phong biền ngẫu”? Theo tôi, lối viết này, ta đừng vội chê là dở. Biền ngẫu mà không lê thê, nặng nề điển tích, điển cố. Biền ngẫu mà không văn hoa, sáo rỗng. Biền ngẫu mà ý tưởng trở nên rõ ràng, mạnh mẽ, tác động ngay vào tâm trí người đọc. Điều đó đáng phải xem là một lối văn đáng yêu, cần thưởng thức chứ! Thậm chí, tôi lại cho văn Thiếu Sơn mang một phần sinh khí, hùng khí của lối cấu trúc song hành, thường đắc dụng trong phong cách ngôn ngữ chính luận sau này.

Khi lập luận, Thiếu Sơn có thói quen dùng từ ngữ, mẫu câu diễn tả quan hệ đối chiếu, tương phản: “nhưng, tuy... nhưng”. Qua 07 bài báo, ông dùng 41 lần các từ ngữ này(5).
Ta thử điểm qua vài trường hợp:
•  “Thời đại tả chân phản động lại với thời đại lãng mạn tuy là sự thực về lịch sử nhưng chủ nghĩa tả chân nếu hiểu cho đến nơi thì cũng phải có một phần lãng mạn ở trong” (Câu chuyện văn chương tả chân chủ nghĩa).
•  “Vâng thì cho là nghệ thuật làm việc cho đời nhưng là làm việc một cách khác” (Nghệ thuật với đời người).
•  “Ở nghệ sĩ, cái cảm quan ấy đã đành là phải có nhưng ở độc giả nếu không có thì cũng không đủ tư cách mà thưởng thức những công trình mỹ tác” (Bạn đọc văn).
Với cách lập luận này, Thiếu Sơn luôn tránh được thái độ độc đoán, phủ định sạch trơn những ý kiến đối nghịch với mình. Bao giờ ông cũng thừa nhận người khác có lý. Bao giờ ông cũng chấp thuận một phần quan điểm của họ. Tất nhiên, cuối cùng, tất cả đều cần được bổ khuyết bằng quan điểm của ông. Đó thực là cái khéo, sự  uyển chuyển của người tranh luận. Có lẽ, vì điều này mà Vũ Ngọc Phan đã hẹp hòi, gọi Thiếu Sơn là “nhà phê bình mềm mỏng và thủ cựu”. Ông gọi kiểu lập luận ấy là “giọng nước đôi”? Bản thân tôi vẫn trân trọng lối lập luận của Thiếu Sơn. Bởi, nó đặt trên tinh thần tri âm và xây dựng, đáng làm bài học cho các cây bút phê bình hôm nay.

*
Khi triển khai quan điểm, Thiếu Sơn cũng hết sức coi trọng vấn đề định danh cho mọi hiện tượng, mọi khía cạnh vấn đề.

Theo dõi hệ thống lập luận của ông, ta liên tục bắt gặp kiểu câu định danh:       A là B. Ông đòi hỏi mọi người phải xác định rạch ròi đối tượng, trước khi đánh giá. Ông thích trình bày khúc chiết ý tưởng, bằng tư duy logich: “một là... hai là... thứ là...”. Ông thường xuyên nhấn mạnh: “đó là, tức là, chính là, sự thực là, phải là, đều phải là,...”. Ông còn củng cố thêm cách hiểu về những đối tượng quá quen thuộc trong đời sống và văn chương: “cũng là..., cũng chỉ là..., tỏ ra là..., chẳng phải chỉ là... mà còn phải là..., đều cần là..., nếu không là... thì cũng là..., hơn là...”. Có khi, ông còn đòi hỏi xác định lại bản chất, vai trò của đối tượng : “chỉ là... chứ không cần là..., tuy là... nhưng chẳng phải là...”.
Khai thác kiểu diễn đạt này, Thiếu Sơn muốn đòi hỏi mọi hiện tượng, mọi vấn đề tranh luận phải được khu biệt đúng phạm vi, bản chất của nó. Thực trạng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” trong tranh luận, phần nhiều, cũng do cách hiểu lệch pha, giữa các nhà phê bình, về đối tượng. Dĩ nhiên, cách hiểu và những đề xuất của Thiếu Sơn có thực khoa học, xác đáng chưa, đó là việc còn phải bàn. Chỉ biết rằng, khi đọc văn ông, người đọc luôn được gợi ý cách tiếp cận, cách xác định, cách hiểu vấn đề tranh luận. Và một khi hiểu được rành mạch vấn đề, người đọc dễ đặt hết tình cảm, lòng tin vào tác giả. Còn phía các nhà phê bình, kiểu viết của Thiếu Sơn khiến họ tránh được hiểu lầm, khỏi phải tiếp tục tranh luận vô ích, những gì đã thực sự là chân lý.

*
Trên đây là những nhận xét sơ khởi về văn phong tranh luận của Thiếu Sơn trên báo chí. Chưa đọc hết toàn bộ tác phẩm mà rút ra kết luận, đó là điều không nên có của một người nghiên cứu. Chỉ nghiên cứu phần văn phong mà không xoáy vào nội dung tư tưởng tác phẩm, đó là sự phiến diện của người đánh giá. Biết thế, nhưng tất cả chỉ vì người viết bị hạn chế thời gian và trình độ.

Bài viết này, do đó, xin được xem là bước thăm dò, những tiếp cận đầu tiên về văn phong Thiếu Sơn. Nó sẽ được củng cố chắc chắn hơn, một khi người viết mở rộng phạm vi khảo sát tác phẩm, tăng cường đối chiếu, thống kê. Dẫu sao, đây vẫn là bài viết chứa đựng tất cả tình cảm yêu quý, trân trọng của bản thân đối với một nhà phê bình, mà tên tuổi đã chói sáng nửa đầu thế kỷ qua. Chỉ qua văn phong, Thiếu Sơn cũng xứng đáng là tác gia phê bình có tầm cỡ: sắc bén, uyên bác, nhạy cảm và nhất là hết sức vô tư , khi “cầm cân nảy mực” đánh giá, tranh luận về tác gia và tác phẩm văn chương.

Thiếu Sơn đã từng giúp người đọc tìm hiểu văn phong các nhà văn. Hôm nay, người đọc chúng ta quay lại tìm hiểu văn phong Thiếu Sơn. Điều này, âu cũng là việc tri âm của những người cùng yêu quý văn chương vậy!

Thành phố Mỹ Tho, tháng 10 năm 2002
Ảnh : Thiếu Sơn (1908-1978)     

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1/ Lại Nguyên Ân (1984), Phê bình văn học với các thuộc tính của nó, trích Văn học và phê bình, NXB Tác Phẩm Mới (tài liệu photo).
2/ Đỗ Đức Hiểu (chủ biên) (1984), Từ điển văn học, NXB KHXH, Hà Nội.
3/ Thanh Lãng (1995), Mười ba năm tranh luận văn học, tập I, NXB Văn Học - Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Phong Lê, Phê bình – khoa học và nghệ thuật (tài liệu photo).
5/ Huỳnh Lý (chủ biên) (1978), Lịch sử văn học Việt Nam, tập V – Phần I, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
6/ Nguyễn Đăng Mạnh (1990), Vài suy nghĩ về phê bình văn học, trích Các vấn đề của khoa học văn học, NXB KHXH (tài liệu photo).
7/ Huỳnh Như Phương (đồng tác giả) (1999), chương Tác phẩm và người đọc, trích Lý luận văn học – vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
8/ Thiếu Sơn (1933), Phê bình và cảo luận, Edition Nam – Ky, 17, Bd Francis-Garnier – HaNoi, (tài liệu photo).
9/ Nguyễn Thị Thanh Xuân, Thiếu Sơn và hoạt động phê bình văn học trước 1945 (tài liệu photo).
10/ Nguyễn Thị Thanh Xuân, Vũ Ngọc Phan và hoạt động phê bình văn học trước 1945 (tài liệu photo).


[1] Từ điển văn học tập II, NXB KHXH, Hà Nội, 1984
[2] Các bài báo được in lại trong Mười ba năm tranh luận văn học, tập I, giáo sư Thanh Lãng (tập hợp), NXB Văn Học kết hợp Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP Hồ Chí Minh ấn hành, năm 1995.
[1] THIẾU SƠN (1908-1978)   
Thiếu Sơn tên thật là Lê Sĩ quí, ông sinh năm 1908 tại Hải Dương và mất ngày 5-1-1978.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học, Thiếu Sơn được gia đình cho đi học rất sớm và khi thi đậu bằng thành chung, ông thi và học tiếp nghề Bưu Điện. Sau khi tốt nghiệp, Thiếu Sơn được bổ nhiệm vào làm việc tại Nhà Dây thép Gia Định.

Là người có năng khiếu và say mê văn học nên dù đang làm việc tại nhà Dây thép Gia Định nhưng Thiếu Sơn vẫn tham gia viết báo cho hầu hết các tờ báo có mặt tại Sài Gòn lúc bấy giờ. Ngoài ra ông còn dành nhiều thời gian cho việc viết văn.

Năm 1932, ông cho xuất bản tác phẩm đầu tay của mình là cuốn phê bình văn học với tựa đề Phê bình và cảo luận. Từ tác phẩm đầu tay này cho đến năm 1945, ông hoàn thành và cho xuất bản hàng loạt tác phẩm văn học khác như: Câu chuyện văn học, Đời sống tinh thần, Người bạn gái
Năm 1940, sau Khởi nghĩa Nam kỳ thất bại, tên giám đốc Sở Bưu điện Gia Định uy hiếp tinh thần anh em công chức yêu nước bằng cách vứt lên bàn một xâu tai người và hắn nói đã cắt của “bọn CS phiến loạn”. Sau đó, hắn bắt từng người tuyên thệ suốt đời phải trung thành với nhà nước đại Pháp. Trước tình hình đó, Thiếu Sơn không thề mà viết đơn xin thôi việc. Nhưng chúng không cho ông toại nguyện mà điều ông về làm việc tại nhà Dây thép Sài Gòn. Tại nơi làm việc mới, ông tranh thủ thời gian viết bài cho các báo Nam Phong, Phụ nữ Tân Văn, Đuốc Nhà Nam…

Ngày 18-8-1945, Thiếu Sơn cùng hàng ngàn nhân sĩ trí thức và hàng chục ngàn thanh niên Tiền phong Nam Bộ tập trung tại vường Ông Thượng (nay là Vườn Tao Đàn - Quận 1 - TP.Hồ Chí Minh) làm lễ tuyên thệ suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, cương quyết bất hợp tác với Pháp, đánh Pháp tới cùng.

Sau ngày Nam bộ Kháng chiến, ông tham gia Đảng xã hội Pháp – Phân bộ Việt Nam và làm chủ tờ báo Công Lý (Justice) – cơ quan ngôn luận của Đảng xã hội Pháp tại Sài Gòn, một trong những tờ báo đi tiên phong trong phong trào Báo chí Thống nhất từ năm 1946-1949. Ngoài ra, Thiếu Sơn còn thường xuyên viết bài cho báo Việt Bút và nhiều tờ báo tiến bộ khác.

Năm 1949, Thiếu Sơn được tướng Nguyễn Bình mời ra chiến khu dự lễ thụ phong Trung tướng và tại Chiến khu, Thiếu Sơn được tiếp xúc với nhiều cán bộ kháng chiến như Linh mục Nguyễn Bá Lộc, giáo sư Phạm Thiều, giáo sư Ca Văn Thỉnh, kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt… Một tuần sau, Thiếu Sơn nhận nhiệm vụ đưa ông Alain Savary - nghị viên Hội đồng Liên Hiệp Pháp vào chiến khu tìm gặp các đồng chí cán bộ lãnh đạo kháng chiến để bàn bạc, tìm giải pháp hoà bình cho hai nước Việt – Pháp.
Trong thời gian này, Thiếu Sơn bị bọn mật thám Pháp bắt giữ. Nhưng trước sự đấu tranh không khoan nhượng của đảng xã hội Pháp tại Sài Gòn chúng buộc phải thả ông. Ra khỏi tù, ông cùng nhiều trí thức tiến bộ khác tiến hành thành lập Hội Liên hiệp lao động trí thức Nam Bộ do Michel Văn Vĩ làm Chủ tịch. Đặc biệt, ông tham gia cuộc gặp gỡ với Viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp – Georges Duhamel tại nhà Luật sư Trịnh Đình Thảo.

Nhiều hoạt động yêu nước của ông không thể che giấu được tai mắt bọn mật thám Pháp. Trước sự lùng bắt ráo riết của chúng, Thiếu Sơn phải cùng với Vũ Tùng và Dương Tử Giang… bỏ Sài Gòn ra chiến khu Cách mạng. Tại Chiến khu, ông được phân công công tác tại Đài Phát thanh Tiếng nói Nam Bộ, đồng thời tham gia ban Biên tập báo Cứu Quốc và đây cũng là thời gian ông viết và xuất bản nhiều tác phẩm văn học, trong đó có hồi ký cách mạng Những người làm nên lịch sử nổi tiếng.
Năm 1954, Thiếu Sơn được tổ chức phân công trở về Sài Gòn hoạt động và tiếp tục viết cho các tờ báo Công Lý, Điện Báo, Duy Tân.
---
Theo Trí thức Nam Bộ (1945-1954) NXB Đại học Quốc gia TP.HCM,2003, tr.320

Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014

Phong cách và phong cách báo chí là gì?



(Nguyễn Bùi Khiêm) Qua nghiên cứu hoạt động sáng tạo của các nhà báo, chúng tôi cho rằng, phong cách đúng là do cảm quan về thế giới khác nhau của mỗi nhà báo tạo nên, nhưng cơ sở tư tưởng của nó cũng khác nhau, đó là tư tưởng nghệ thuật riêng của mỗi cây bút. Và cũng từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi xác định khái niệm phong cách của mỗi cây bút luôn hội tự ở bốn điếm chung sau đây:
1. Phong cách là một phạm trù thẩm mỹ
Nhà báo có phong cách phải là người tạo ra được những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao về bút pháp. Phong cách không đơn giản chỉ là những đặc điểm nào đấy trong hoạt động sáng tạo của nhà báo. Đặc điểm cá nhân thì ai cũng có. Nhưng phong cách là đặc điểm thế hiện cá tính sáng tạo, là chỗ mạnh của tài năng mỗi nhà báo, là chỗ hay riêng của mỗi cây bút. Không nên nói phong cách ở những nhà báo hạng ba, nhà báo bất tài.
2. Phong cách là một chỉnh thể thống nhất
Phong cách bao giờ cũng phong phú, đa dạng, nhưng dù đa dạng đến thế nào vẫn có tính thống nhất chi phối bởi một qui luật thể hiện nội tại nào đấy. Tìm ra những đặc điểm này khác của phong cách một nhà báo tuy không dễ nhưng không khó. Nhưng tìm ra chỗ thống nhất của phong cách thì cực khó. Nếu chưa tìm ra chỗ thống nhất ấy thì chưa thế coi là đã hiểu đích xác phong cách của nhà báo. Điểm thống nhất này liên kết các yếu tố phong cách, tạo nên tính chỉnh thể của nó.
3. Phong cách là một hiện tượng cụ thể, là diện mạo của mỗi nhà báo
Phong cách là một cái gì quan sát được, miêu tả được. Cơ sở của phong cách là nội dung, là tư tưởng, nhưng tư tưởng ấy phải được hình thức hoá khiến có thế cảm nhận được cụ thể.
4. Phong cách luôn luôn chuyển biến theo quá trình sáng tác của nhà báo
Hoạt động báo chí là một hoạt động sáng tạo. Nhưng dù chuyển biến thế nào cũng trên một căn bản thống nhất, khiến cho từ tác phẩm này đến tác phẩm kia, tuy nhà báo thể hiện rất khác nhau, nhưng người ta vẫn nhận ra đó là tác phẩm của ông ta chứ không phải của ai khác. Những tác phẩm của một cây bút có phong cách, tuy rất khác nhau từ nội dung đến hình thức, nhưng người ta vẫn nhận ra tất cả đều là tác phẩm của một người.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Phong cách học và phân tích văn học



Phan Ngọc
(Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du)

Cho đến nay việc phân tích văn học về mặt nghệ thuật gặp rất nhiều khó khăn. Nhà giáo, nhà phê bình khi nói đến hình thức một tác phẩm, thường chỉ bó hẹp vào những nhận xét chung chung, vào một vài dẫn chứng. Dĩ nhiên, cảm thụ thẩm mỹ của các nhà giáo, nhà phê bình là rất quan trọng, và cảm thụ ấy thường giúp họ đưa ra được những nhận xét đúng và hay. Nhưng điều không thể tránh được, đó là để có được một trình độ cảm thụ nhạy bén, phải trải qua một thời gian học tập rất gian khổ, phải có rất nhiều kiến thức, và nhất là phải là người rất tinh tế. Nếu không phải là người tinh tế, thì học vấn và kiến thức cũng không giúp chúng ta thành một nhà phê bình sâu sắc về mặt hình thức. Thứ hai, dù cho nhà giáo và nhà phê bình có tinh tế đến đâu, họ cũng không sao truyền thụ được cái tinh tế của mình cho người nghe, người đọc, và cách làm việc vẫn còn thiếu một hệ thống thao tác chặt chẽ khiến người tiếp thu tin tưởng vững chắc như tin vào một chân lý khoa học.     
Tình hình này không gây khó khăn cho lắm khi sáng tác văn học là việc riêng của một vài nhà văn, khi thưởng thức văn học là việc riêng của một vài nhà phê bình, và tìm hiểu văn học cũng là việc riêng của một vài người. Nhưng khi muốn tạo (333) nên một phong trào quần chúng để sáng tác và thưởng thức muốn dạy văn học cho hàng triệu con người, và muốn lãnh đạo sáng tác nghiên cứu phê bình cho có kết quả, thì thực tế vốn kinh nghim của một người không còn đầy đủ nữa. Và ta bắt buộc phải xây dựng một khoa học để lý giải cái đẹp trong ngôn ngữ. Phong cách học vi tính cách một bộ phận của ngôn ngữ hc cần phải làm việc đó. Công trình này là một thí nghiệm về hướng này. Nó thử đưa ra một cách tiếp cận mói đối với một tác phẩm hết sức quen thuộc với nhân dân Vit Nam để bạn đọc thấy ngay trong lĩnh vực nghệ thuật vẫn có thể đưa ra những đánh giá, nếu không phải là khách quan, thì ít nhất cũng dựa trên một hệ thống thao tác có thể kiểm tra được. Để làm điều đó, người viết cần phải tiến hành một sự thức nhận (prise de conscience) trong công việc của mình nhằm tháo gỡ cái mỹ cảm của chính anh ta, xem thử mỹ cảm ấy, mà mới thoạt nhìn có vẻ giản đơn, trong thực tế là được tạo nên bởi những yếu tố gì. Trong công việc này, những hiểu biết sách v là rất quan trọng, và anh ta cần phải biết kinh nghiêm làm việc trong và ngoài nước, từ kinh nghiệm rất phong phú của truyền thống từ chương học Trung Quốc, đến kinh nghiệm phê bình, lý luận phong cách học của phương Tây, không kể kinh nghiệm nghiên cứu trong nước về Truyện Kiều. Nhưng điều khó nhất không phải ở đó.
3. Điều khó nhất là thái độ chân thành, triệt để khách quan, nỗ lực phân tích đến cùng cái mỹ cảm của mình, chỉ tin vào cái gì được quy ra thành quan h rõ ràng và tách bạch, không để cho một định kiến nào chi phối, dù định kiến ấy có được cả giới ngôn ngữ học thừa nhn. Phải kiểm tra lại tất cả, và khi cần, phải tháo gỡ tất cả, làm lại từ đầu. Thái độ ấy không phái (334) của tôi. Tôi làm gì có được cái khí phách ấy? Đó là của Đảng. Tôi chẳng qua là con em của một dân tộc được Đảng lãnh đạo đã tiến hành một sự thức nhận triệt để các quan hệ giữa dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa đế quốc, đã tháo gỡ tất cả cái tình hình chính trị và quân sự của đất nước tôi ra thành những quan hệ rõ ràng và tách bạch, đã kiểm tra lại tất cả, và đã hành động độc lập đúng với xu thế khách quan. Cho nên tôi cũng cố gắng tháo gỡ cái mỹ cảm của mình, quy nó ra thành quan hệ. Công việc kết quả đến đâu, tôi không dám khẳng định, chỉ biết rằng mình phải tiến hành công tác này hết sức mình và hết đời mình.
4. Khi tiến hành công tác quy mỹ cảm ra thành quan hệ, tôi thấy cảm thụ thẩm mỹ của ta trước một câu thơ hay không phải là một cảm giác trực tiếp, mà khúc xạ qua bốn hệ thống quan hệ. Để cho dễ hiểu, ta hãy so sánh, cách ta thưởng thức một câu thơ của Nguyễn Du, vi cách ta ngắm một bông hoa. Tôi thiên về những so sánh bình dị, bởi vì tôi sống ở một thời đại trong đó nhiều hoạt động xưa nay gọi là cao quý đã có thể đưa vào máy như làm toán, đánh cờ, thậm chí soạn nhạc, mà sở dĩ người ta làm được thế cũng là nhờ biết quý những hoạt động cao cấp của tư duy về những thao tác đơn giản.
5. Ấn tượng thị giác của ta về một bông hoa trước hết là do cấu tạo của con mắt ta quy định. Nghiên cứu sinh lý học con mắt giúp ta hiểu khả năng và hoạt động của thị giác con người. Trong việc thưởng thức một bài thơ, muốn hay không, ta cũng phải thưởng thức qua cấu trúc của ngôn ngữ mình. Mọi ngôn ngữ, tuỳ theo cấu trúc của nó, sẽ có những cách lựa chọn riêng không giống cách lựa chọn của một ngôn ngữ khác. Khi ta dịch một bài thơ Nga ra một bài thơ Việt, ta thấy ngay cái (335) phn dịch được và cái phần hầu như không dịch được. Cái phần dịch được, đó là tất cả những gì liên quan tới tư duy bằng khái niệm. Cái phần không dịch được, là cái kiểu lựa chọn của tiếng Nga khác của tiếng Việt. Do đó, muốn thưởng thức nghệ thuật tiếng Việt, phải xây dựng một công trình về cấu trúc phong cách học của tiếng Việt với tính cách toàn bộ các kiểu lựa chọn của một ngôn ngữ đơn tiết. Và chỉ trên cơ sở đó ta mới tìm được cách chuyển các cách lựa chọn của tác giả sang cách lựa chọn của tiếng Việt. Chúng tôi hy vọng trước khi chết trình bày được cái cấu trúc phong cách học của ngôn ngữ dân tộc làm nền tảng cho mọi sự lựa chọn mà cha ông ta và chúng ta đã làm. Cấu trúc phong cách học này của tiếng Việt không giống cấu trúc phong cách học của bất kỳ ngôn ngữ nào, dù đó là tiếng biến tố như các ngôn ngữ Châu Âu, hay tiếng đơn lập như tiếng Hán và các ngôn ngữ Đông Nam Á. Ngay cả một biện pháp như câu đối mà ta tưởng là bắt chước Trung Quốc thì cách thể hiện ở Việt Nam vẫn khác xa cách thể hiện ở Trung Quốc, bởi vì cấu trúc phong cách học mỗi nơi một khác. Phong cách học có cái chung cho loài người, và có cái riêng cho từng ngôn ngữ, cũng như thị giác giữa người với động vật có cái chung và cái riêng. Trong quyển sách này, chúng tôi cố gắng phân xuất ra cái chung trong phong cách học của mọi ngôn ngữ để có một cơ sở khách quan xây dựng phong cách học tiếng Việt.
6. Chúng ta nhìn không phải chỉ bằng đôi mắt mà bằng cả toàn bộ thực tiễn sống và sản xuất của mình. Sinh lý học dạy ta trong võng mạc ta có hai hình ảnh (vì có hai mắt) đảo ngược, nhưng ta lại thấy độc một vật và không bị đảo ngược. Trong việc thưởng thức nghệ thuật mỗi người thưởng thức vi (336) tất cả kinh nghiệm sống và hoạt động mà dân tộc mình đã trải qua. Dù anh ta không muốn, anh ta cũng phải làm thế. Nếu ta đối lập cách nhìn của chúng ta về văn học với cách nhìn này của Đông Nam Á, thì sẽ thấy ngay điều ấy.
Ở Đông Nam Á, nói đến văn hoá, người ta nghĩ ngay đến kiến trúc, điêu khắc, vũ, rồi mãi sau mới nghĩ đến văn học. Nếu văn học Đông Nam Á thấm nhuần sâu đậm tính chất tôn giáo và lúc đầu vay mượn đề tài, chủ đề ở Ấn Độ, còn văn học thế tục thì tương đối muộn. Cái thế giới bên kia tác động rất mạnh tới con người Đông Nam Á. Ở Việt Nam thì khác, nói đến văn hoá người ta nghĩ ngay đến văn học, thậm chí nhiu người chỉ nghĩ đến văn học. Nền văn học ấy mang tính sáng tạo ngay từ đầu và gắn liền với cuộc sống con người. Cái thế giới bên kia không tồn tại trong văn học Việt Nam. Trong suốt quá trình lịch sử mà ta theo dõi được, tức là trên mười thế kỷ, văn học Việt Nam là văn học - công dân, gắn bó với nghĩa vụ đối với dân, với nước. Nó không chấp nhận một cuộc sống nào ngoài cuộc sống thực tế trong hoà bình và độc lập. Đó là nét bất biến khu biệt rất rõ văn học Việt Nam với mọi nền văn học. Người Việt Nam sống với những khái niệm cụ thể đất nước, làng xóm, cha mẹ, vợ con, bè bạn, họ hàng, đồng bào, cho nên nghệ thuật - văn học của họ giữ tính mức độ, không có sự quá đáng, khoa trương, và văn học là văn học về tâm trạng. Một số những đặc điểm này ta thấy trong Truyện Kiều.
7. Ta nhìn một vật là nhìn với kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ấy thay đổi, cho nên sự đánh giá khác nhau tuỳ theo lịch sử. Đông Nam Á và Việt Nam cho con rắn là đẹp, và trong điêu khắc, hội hoạ, đâu đâu cũng có rắn hay rồng (337). Ở châu Âu, người ta ghét rắn, cho nên mô-típ rắn hầu như vắng mt. Ngày xưa, ta cho răng đen là đẹp, răng trắng là xấu, bây giờ thì ngược lại. Cho nên trong phong cách tác phẩm thế nào cũng có phong cách thời đại.
Trong công trình này, chúng tôi có trình bày một số điểm làm thành phong cách thời Lê mạt - Nguyễn sơ. Phong cách thời đại thay đổi rất rõ rệt. Nếu ta lấy vấn đề tồn tại của đất nước làm nền tảng cho sự phản ánh của thực tế xã hội vào văn học, thì ta sẽ thấy sự biến đổi của phong cách thời đại rất rõ ràng, thậm chí đi từ cực đoan này sang cực đoan khác. thời Lê mạt - Nguyễn sơ, xuất hiện cá nhân yêu cầu hạnh phúc. Nhưng khi giặc Pháp lăm le chiếm đất Việt Nam, khi cái hoạ mất nước đe doạ người dân yêu cuộc sống hoà bình, độc lập, thì lập tức cá nhân đòi hưởng thụ biến mất và con người - bổn phận ra đời. Lục Vân Tiên là bản trường ca mới của dân tộc, bản trường ca cùa con người bổn phận. Con người bổn phận, không hề nghĩ đến cá nhân mình, đã làm chủ văn học yêu nước ở miền Nam, và văn học Cần Vương. Từ 1885 khi nước mất, đến 1905, có một giai đoạn hoang mang: ý thức hệ phong kiến sụp đổ, nhưng hệ tư tưởng mi chưa xuất hiện. Đó là giai đoạn của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, tiếng cười phê phán - tự phê phán xuất hiện, trong tiếng cười nghẹn ngào tiếng khóc. Nhưng từ 1905 đến 1912, khi tiếp nhận tư tưởng canh tân đất nước, thì cái cảnh hoang mang biến mất, văn chương bốc lửa chiến đấu, mà hình ảnh tiêu biểu là văn Đông Du và văn Đông Kinh nghĩa thục v.v...
8. Cuối cùng, phải nói đến phong cách thể loại. Thể loại có thể ra đời rất sớm, nhưng phải đến một giai đoạn lịch sử nhất định, nó mới được định hình, trở thành một tiếng nói mới của (338) nghệ thuật và xây dựng được phong cách của nó. Khi xét như vậy, một tác phẩm lãn đồng thời là kẻ thừa kế và kẻ đổi mới thể loại. Truyện Kiều thừa kế thể loại truyện nôm bằng thơ, là thể loại để phục vụ quần chúng, không phải để phục vụ triều đình và nho sĩ. Nhân vật chính của thể loại này, đù đó là Ngọc Hoa, Cức Hoa, Thạch Sanh, Lục Vân Tiên hay Kiều, phải là con người mà cuộc đời và tâm sự là gắn bó với quần chúng. Y phải trải qua những cảnh ngang trái, bất cồng, phải nếm những đau khổ của quần chúng lao động. Và cũng như quần chúng lao động, y phải trong trắng, cao quý, đẹp đẽ, được tin cậy và thương yêu. Nếu như lớp nho sĩ ném tiền cho các cô ả đào để nghe ca ngợi những lạc thú của nhân sinh, thì những người bình dân sở dĩ nuôi sống những người hát rong đi kể truyện nôm cũng chỉ là để thấy họ được khẳng định công khai, nhân cách họ là cao hơn quan lại, vua chúa, chỉ có họ mới là thực sự tài giỏi, cứu nước, cứu nhà, và phải đánh giá con người ở bản chất, không phải ở địa vị. Chữ Tâm trong Truyện Kiều không phải chữ Tâm Phật giáo. Nếu là chữ Tâm Phật giáo, tại sao trong toàn bộ quyển truyện không nói một chữ đến nội dung của chữ Tâm này? Mà làm điều đó có khó gì? Kinh Phật nào chẳng nói tràng giang đại hải về chữ Tâm ấy. Chữ Tâm trong Truyện Kiều không phải là một khái niệm triết học, nó chỉ là chữ Tâm bình thường trong tâm can, tâm địa, Nó là cái chữ Tâm của Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa. Đó là cái lòng thương người, cái bụng của ngưòi bình dân. Đây cũng là một cách đánh tráo khái niệm như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ dùng thuật ngữ Trang Chu để đưa tư tưởng thị dân vào. Trước Nguyễn Đu, Nguyễn Huy Tự viết Hoa tiên vào thời thanh niên, nhưng sau về già, ông cho việc (339) làm ấy là không đứng, khuyên con cái đừng bắt chước mình. Ông này giống như đứa con ngỗ nghịch trong Kinh thánh, sau khi đã trải qua nhiều thử thách, quay trở về với đẳng cấp. Nguyễn Du lại khác. Ông viết Truyện Kiều khi đã về già để khẳng định sự đoạn tuyệt với gốc rễ nho sĩ. Không phải ngẫu nhiên mà Cao Bát Quát hết lời ca ngợi Truyện Kiều Hoa tiên, bởi vì nhà thơ chữ Hán lớn nhất của thời đại cũng đã thực hiện một sự đoạn tuyệt như vậy.
Nghiên cứu Truyện Kiều trong phong cách thể hiện truyện nôm, ta thấy tác giả thừa hưởng những cái hay của thể loại, nhưng cũng còn phải chịu một vài nhược điểm của nó. Cái hay là ở tâm trạng, ở ngôn ngữ, ở sự cố gắng xây dựng một cách diễn đạt gần nhân dân. Nhưng nhược điểm vẫn còn: phần thể hiện hoàn cảnh khách quan không mãnh liệt mà còn chiều theo khuôn sáo, đưa yếu tố thần linh vào không tự nhiên, những khuyết điểm chung của hầu hết các truyện nôm. Khi xét một tác phẩm qua bốn lăng kính, là cấu trúc phong cách của ngôn ngữ, phong cách của dân tộc, phong cách của thời đại, phong cách thể loại, ta tìm ra được độ khúc xạ và nhiệm vụ của phong cách học tóm lại là giải thích cái độ khúc xạ này.
9. Nghiên cứu phong cách của tác giả và tác phẩm, cần xét trong mối quan hệ qua lại vói phong cách thi đại và phong cách thể loại, để phân xuất ra những nét khu biệt. Cách làm này có thể áp dụng cho mọi nhà văn lớn, những người thực sự có một phong cách riêng. Vì công trình này là công trình đầu tiên công bố khi các khái niệm cơ bản của phong cách học chưa được xây dựng, nên việc khảo sát phong cách tác giả phải tiến hành cùng một lúc với việc khảo sát các khái niệm khác (340), do đó cái phần dành cho cá nhân họ Nguyễn không được nhiều. Để cho đỡ hời hợt, chúng tôi chỉ tập trung vào một điểm: về biện pháp, chúng tôi chỉ nói đến phương pháp phân tích nội tâm; về ngôn ngữ, chúng tôi chỉ nói đến tính đa dạng. Trong tình hình hiện tại, khi cách tiếp cận về phong cách theo ngôn ngữ học mới ở bước đầu, chứng tôi thấy không có cách nào khác. Thà mang tội là phiến diện, còn hơn là hời hợt. Goethe nói Văn học là một mảnh của một mảnh”. Tôi thấy câu đó rất cần thiết cho người dạy văn học. Khi dạy, một nhà văn chỉ nên chọn một điểm, điểm xuất sắc nhất của nhà văn đối với văn học dân tộc, nhưng phải phân tích cho kỳ xong. Nếu phân tích mọi điểm, khó lòng tránh khỏi khuôn sáo. Trái lại, đi con đường xoáy vào điểm có một điểm lợi về phương pháp: nếu phân tích phong cách Nguyễn Du thành công, thì sự phân tích phong cách các nhà vãn cùng thời với ông sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Ta sẽ không phải làm lại nhiều điều đã làm và một số mô hình về thực chất đã có sẵn chỉ cần làm việc thông kê giải thích kết quả mà thôi.
10. Chúng tôi biết rõ công trình của mình có nhiều thiếu sót. Nhất là cách làm việc đòi hỏi nhiều tư liệu, lại phải tính, phải đếm, phải lập hết mô hình này đến mô hình khác, hết giả thuyết này đến giả thuyết khác trước khi tìm được mô hình và giải thuyết mà mình cho là tạm ổn. Sau đó, lại kiểm tra, lại thấy sai, rồi phải bác bỏ, làm lại. Chúng tôi không dám kể công, bởi vì dù có là ngưi giỏi nhất thế giới về ngôn ngữ học, cũng không thể nào làm khác được. Nhà phong cách học có mỹ cảm tinh tế là rất đáng quý. Nhưng nếu anh ta chưa nói bằng quan h ngôn ngữ, bằng mô hình, thống kê, tỷ lệ, đối lập, thì người nghe có quyền không tin (341).
11. Theo chủ nghĩa Mác, khi trong xã hội có một vấn đề được đặt ta, thì đã có cách giải quyết nó rồi. Những vấn đề như chữa lỗi ngữ pháp cho học sinh, giúp học sinh và giáo viên giảng văn học cho có kết quả, điều có thể giải quyết được bằng ngôn ngữ học một cách không những có két quả, mà còn xong xuôi, đâu ra đấy. Ngôn ngữ học có khả năng làm được nhiệm vụ mà xã hội yêu cầu. Vả lại, chúng ta đã bước vào một thời kỳ khác trước. Trước kia, nghệ thuật bị hạn chế về không gian, thời gian, hoàn cảnh. Một người hát chỉ có một nhóm người nghe được, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, cách diễn xuất của người hát lại bị hoàn cảnh chi phối: hôm nay anh ta hát có thể hay, nhưng ngày mai có thể kém. Với sự xuất hiện của kỹ thuật, các hạn chế ấy đều biến mất. Một người hát, tiếng hát đưa vào băng ghi âm có thể truyền khắp thế gii, hình ảnh đưa lên vô tuyến viễn thông có thể truyền khắp trái đất. Khi tiếng hát đã được ghi lại, ngưòi nghe muốn nghe lúc nào cũng được, cũng in hệt như trước. Nhưng vào cuối thế kỷ này, giữa người hát và người nghe có kỹ thuật chen vào với hàng triệu con người lao động kỹ thuật. Lúc này, thưởng thức nghệ thuật đối vi những con người lao động kỹ thuật kia, mà số người sẽ ngày càng đông thêm, có nghĩa là giải mã và chuyển mã. Phải giải thích phong cách Nguyễn Du cho những con người ấy. Họ cần nắm phong cách Nguyễn Du để chuyển nó thành nhạc, thành ba lê, thành kịch, để dịch sang các ngôn ngữ khác, để vẽ, để biến sự thưởng thức nghệ thuật từ chỗ thu hẹp vào một dân tộc, sang một thưởng thức chung cho mọi ngưòi trên trái đất. Các em học sinh chúng ta đều thuộc cái thế hệ mi này và ta phải chuẩn bị điều đó cho các em ngay từ khi nhà trường. Việc quy nghệ thuật thành thao tác làm việc (342), thành quan hệ, không phải là một thứ thị hiếu nhất thời, mà là một yêu cầu có thực trong tình hình khoa học kỹ thuật hiện đại. Nếu không nắm được phong cách Truyện Kiều cho thực đúng, làm sao làm được những công việc nói trên?
Tài giỏi như Nguyễn Du mà còn chỉ dám nói Mua vui cũng được một vài trống canh, người viết công trình này cũng không dám mơ ước gì hơn. Mong rằng, mặc dù có nhiều thiếu sót, công trình này sẽ góp phần giới thiệu với bạn đọc về nhà thơ yêu quỷ của chúng ta dưới một khía cạnh mới: Con người lao động./.

Hà Nội, tháng 10 năm1984