Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Điển tích - điển cố. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điển tích - điển cố. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Việt Nam văn học sử yếu (4)



Tính cách chính của các tác phẩm về văn chương - các điển cố

Trong một chương, ta sẽ xét chung về các tính cách của văn chương Tàu và ta cả về đường tinh thần và đường hình thức. Trong chương này, ta xét về một cái tính cách đặc biệt của văn Tàu và văn ta là sự dùng điển cố.
Các văn sĩ Tàu và ta, khi viết văn, thường mượn một sự tích xưa hoặc một câu thơ, câu văn cổ để diễn tình ý của mình, nhưng không kể rõ việc ấy hoặc dẫn cả nguyên văn, mà chỉ dùng một vài chữ để ám chỉ đến vìệc ấy hoặc câu văn ấy. Cách làm văn ấy có thể gọi chung là dùng điển cố. Nhưng nói tách bạch ra thì có hai phép: một là dùng điển, hai là lấy chữ.
Cách dùng điển
A. Định nghĩa. Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc là một câu có ám chỉ đến một việc cũ, một sự tích xưa khiến cho người đọc sách phải nhớ đến việc ấy (247). Sự tích ấy mới hiểu ý nghĩa và cái lý thú của văn. Dùng điển chữ nho gọi là dụng điển hoặc sử sự (nghĩa đen là khiến việc) ý nói sai khiến việc đời xưa cho nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình. Thí dụ:
Trong Truyện Kiều, lúc nàng Kiều báo ơn bà Giác Duyên, nàng nói (câu 2347 - 2348):
Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
Mà lòng Xiếu mẫu mấy vàng cho cân.
Hai chữ “nghìn vàng” và “Xiếu mẫu” ứng nhau mà thành điển, những chữ ấy nhắc đến một việc chép trong sử Tàu: Lúc Hàn Tín còn hàn vi, một hôm đói, bà Xiếu mẫu cho ăn một bữa cơm; về sau, Tín làm nên phú quí, trả ơn bà một nghìn vàng (Sử ký).
B. Điển lấy ở đâu ra? Các điển có thể ám chỉ đến các việc thực chép trong sử, truyện (thí dụ trên), hoặc đến các việc hoang đường kỳ dị chép ở các truyện cổ tích, thn tiên tiểu thuyết... Thí dụ:
Chữ “Xích thằng” hay “chỉ hồng” dùng để nói đến việc hôn nhân:
Dù khi lá thắm chỉ hồng (Truyện Kiều, câu 333).
Nàng rằng: “Hồng điệp xích thằng (Truyện Kiều, câu 459) do ở tích Vi Cố chép trong Tình sử.
Cách lấy chữ
Lấy chữ là mượn một vài chữ trong câu thơ và câu văn c đề đặt vào câu văn của mình, khiến cho người đọc phải nhớ đến câu thơ hoặc câu văn kia mới hiểu được cái ý mình muốn nói. Thí dụ (248) Trong Truyện Kiu, tác giả tả cái sắc đẹp cùa nàng Kiu, viết câu (câu 27):
Một hai nghiêng nước, nghiêng thành”
Bốn chữ “nghiêng nước nghiêng thành” là lấy hai câu ca của Lý Diên Niên: “Nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc”. Nghĩa là: “Ngoảnh lại một cái làm nghiêng thành, ngoảnh lại một cái nữa làm nghiêng nước”.
Lại trong bài Văn tế trận vong tướng sĩ, nói đến cái chết của các tướng sĩ, có những câu:
Nắm lông hồng theo đạn lạc tên bay
Phong da ngựa mặc bèo trôi sóng vỗ
Mấy chữ “nắm lông hồng” là lấy câu của Tư Mã Thiên:
“Người ta ai cũng một lần phải chết, nhưng có cái chết nặng như núi Thái Sơn, có cái chết nhẹ như lông chim hồng” (249); còn mấy chừ “phong da ngựa” là lấy ở câu nói của : “Làm tài trai nên chết chốn biên thùy lấy ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng”.
Công dụng của sự dùng điển, lấy chữ
Sự dùng điển, lấy chữ có nhiều công dụng trong văn chương.
a). Dùng điển, lấy chữ khéo làm cho câu văn gọn gàng, ít ch mà nhiều ý. Tỉ như hai chữ “Xiếu mẫu” trong câu Truyện Kiều đã dẫn trên dùng để nói đến một bậc ân nhân đã có lòng cứu giúp kẻ cùng khn thì thật là gọn mà bao hàm được nhiều ý nghĩa.
b). Nhiều khi làm văn, nếu dùng lời nói thường mà diễn đạt ý tưởng thì lời văn nhạt nhẽo vô vị; bằng khéo dùng một điển gì hoặc một chữ gì khiến cho người đọc phải nhớ đến một sự tích xưa hoặc một câu văn cũ thì lời văn thành ra đậm đà lý thú. Như trong Truyện Kiều, Kim Trọng muốn nói ý mình vẫn ước ao được nghe tiếng đàn của nàng Kiều mà hạ câu (câu 464):
“Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ” để nhắc lại việc Chung Tử Kỳ, bạn tri âm của Bá Nha là một tay danh cầm đời Xuân Thu, khi nghe tiếng đàn của bạn mà biết được rằng trong trí bạn đương nghĩ đến nước hoặc núi, thì lời văn kín đáo và có ý vị biết chừng nào!
c). Làm văn có khi phải nói đến những việc khó nói, nếu dùng lời thường thì hoặc thô tục, hoặc sỗ sàng. Gặp những chỗ ấy mà khéo dùng điển, lấy chữ, thì tuy ý tứ vẫn được rõ ràng mà lời văn thành trang nhã. Như trong Truyện Kiều, khi nàng Kiều thấy Kim Trọng có ý lả lơi, nàng nói mấy lời này để cự tuyệt (câu 501 - 508) (250):
Thưa rằng: Đừng lấy làm chơi
Sẽ cho thưa hết mọi nhời đã nao!
Về chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng đâu dám ngăn rào chim xanh.
Đã cho vào bực b kinh,
Đạo tòng phu, lấy chữ Trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc, trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi!”
Dùng chữ “yêu đào” để nói cái thân mình là một người con gái trẻ tuổi, chữ “chim xanh” để nói đến người tình nhân, chữ “bố kinh” để nói đến đạo làm vợ, “trên Bộc, trong dâu” đề nói đến thói dâm bôn thì thật là lời nói kín đáo nhã nhặn biết chừng nào!
d). Điển cố nhiều khi lại là chứng cớ trong văn chương nữa. Tục ngữ đã có câu: “Nói có sách, mách có chứng”. Lắm khi làm văn, cần phải dẫn lời nói hoặc sự tích xưa để chứng minh cái lý của mình. Dùng điển, lấy chữ cũng là một cách dẫn chứng, tuy không dẫn nguyên cả câu văn cổ hoặc kể rõ hẳn một việc cũ, nhưng cũng làm cho người đọc phải nhớ đến câu ấy, việc ấy mà thừa nhận cái ý tưởng của mình. Như khi Thúc Sinh muốn lấy nàng Kiều làm thiếp, nàng còn e nỗi vợ cả ghen mà nói:            
“Thế trong dù lớn hơn ngoài,
Trước hàm sư tử gửi người đằng la...
(Truyện Kiều, câu 1349- 1360) thì hai chữ “sư tử” nhắc đến hai câu thơ của Tô Đông Pha giễu một người bạn sv (Hốt văn Hà Đông sư tử (251) hống, Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên: Chợt thấy tử Ha Đông rống, tay rơi gậy chng, bụng rối beng), làm cho cái ý của nàng muôn nói mạnh lên nhiều.
Kết luận.Tóm lại mà nói sự dùng điển c có công dụng lớn trong văn chương. Tuy vậy, cách dùng điển cố nên cho vừa phải, không nên lạm dụng quá mà làm cho lời văn vì thế thành ra ti nghĩa; phải cho đích đáng, nghĩa là lời xưa hoặc việc xưa mình ly làm điển cố phải hợp với ý mình muôn nói phải cho tự nhiên, không nên câu nệ cầu kỳ quá; lại phải cho thích hợp với lời văn, giọng văn, vì có chỗ dùng chữ thường lại hay hơn dùng điển c, phải cho mới mẻ, biến hóa, không nên dùng nhiều những chữ sáo. Lại một điều nữa là trong nền văn cũ của ta, không những văn chữ Hán mà cả đến văn nôm, các cụ thường lấy điển và chữ các thơ, văn, sử, truyện Tàu, mà ít khi lấy các sử sách và tục ngữ, ca dao của ta, để cho người đọc vừa d hiu vừa nhớ đến lịch sử văn chương của nước ta: đó cũng là một khuyết điểm đáng tiếc vậy./.

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2013

Đặc tính tu từ của điển cố văn học

          Trong văn học, một trong những biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến nhất là hình thức so sánh. So sánh là lấy phẩm chất của một cái này để làm nổi rõ đặc điểm của một cái khác. Tiến lên một bước, người ta không dùng hình thức so sánh, mà dùng hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Thông thường, trong so sánh hay ẩn dụ, hoán dụ, người ta thường lấy những hiện tượng thiên nhiên để làm rõ những hiện tượng xã hội, hay phẩm chất của con người. Về mặt nào đó, điển cố cũng có phần giống với những hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Nhưng có điều khác biệt là, điển cố như chất liệu dùng trong những hình thức ẩn dụ, hoán dụ không phải lấy trong thiên nhiên, mà lấy từ tác phẩm của các thời đại quá khứ xa xưa.
            Đặc tính cơ bản của so sánh và ẩn dụ là dùng tính chất, đặc điểm, hình tượng của thế giới tự  nhiên gán cho phẩm chất của con người để so sánh và ngược lại. Điển cố bao hàm cả hai đặc điểm ấy, vì nội hàm của điển cố rất phong phú, không chỉ là thế giới tự nhiên cùng những tính chất, đặc điểm của nó mà còn là con người với đầy đủ tâm lý, phẩm chất, suy nghĩ, hành động, sinh hoạt, phong tục, tập quán ... và toàn bộ những hoạt động xã hội như văn hóa, giáo dục, y học, kinh tế, chính trị ... Chất liệu của điển cố được lấy từ tác phẩm của các thời đại quá khứ xa xưa. Điển cố vừa mang tính chất chung của phương thức so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhưng cũng biểu hiện nét đặc thù trong hệ thống chung ấy. Nhìn chung, điển cố mang một số tính chất sau:
            1. Tính liên tưởng
            Những tính chất, đặc điểm, hoạt động của thế giới tự nhiên, con người và xã hội có điểm gần gũi, nên khi so sánh, dễ dàng khơi gợi sự liên tưởng, đưa đến kết quả hình thành đối tượng so sánh hoàn chỉnh. Một khi đã nắm biết những đặc tính, trạng thái của đối tượng so sánh thì chỉ cần nêu lên một cách cô đọng trong vài từ cũng đủ nắm bắt được sự so sánh và ý nghĩa của nó. Điển cố là nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn ngữ kích thích sự tưởng tượng và liên tưởng. Đằng sau lớp võ từ ngữ là cả một cuộc sống sinh động mà khi đọc đến nó, toàn bộ những hình ảnh về cuộc sống ấy được khơi dậy. Điển cố vận dụng khả năng tư duy hình tượng rất phong phú và chính xác, khả năng liên tưởng nhạy bén. Khi điển cố tồn tại và hoạt động trong một ngữ cảnh nhất định thì từ hình tượng cụ thể của nó, người đọc nhanh chóng tái hiện một sự liên tưởng trong đầu óc của mình. Nội dung điển cố lập tức được lĩnh hội với tư cách là những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm và hấp dẫn. Sự liên tưởng, so sánh trong quá trình tư duy của người đọc là chất “xúc tác” kết hợp nghĩa trực tiếp của điển cố với hiện thực văn cảnh tạo nên đặc trưng của điển. Có thể biểu diễn quá trình này qua các bước sau, lấy điển “liễu đường” trong Chinh phụ ngâm làm ví dụ:
                                    Liễu, sen là thức cỏ cây,
                                    Đôi hoa cùng dính, đôi cây cùng liền.
            Hai câu thơ là sự diễn tả nội dung điển “Liễu đường”. Đọc điển này, những hình ảnh về câu chuyện được tái hiện: Hàn Bằng đời Chiến quốc làm chức xá nhân cho Tống Khang vương, bị Tống Khang vương cướp vợ là Hà thị và phải bị tù. Hàn Bằng buồn bã tự tử. Trước khi chết theo chồng, Hà thị đề thư xin được chôn cùng chồng. Tống Khang vương tức giận cho chôn riêng hai nơi. Chẳng bao lâu có hai cây liễu mọc ở hai ngôi mộ, rể và cành liền nhau. Rồi người đọc từ câu chuyện sinh động này liên tưởng đến tâm trạng người chinh phụ nhớ thương chồng, so sánh với hình ảnh câu chuyện mà hiểu được tình cảm của người vợ một lòng yêu thương chồng khi cả hai phải chịu cảnh chia ly.
            Như vậy, có thể thấy bước đầu tiên của hoạt động điển cố là đưa người đọc trở về với lịch sử. Từ sự trở về với hình ảnh, nội dung câu chuyện, hay về với nguồn gốc câu thơ đưa đến giai đoạn rút ra ý nghĩa sâu sắc, rồi so sánh, kết hợp với ngữ cảnh để có một kết luận và để nâng cao hiệu quả biểu ý và biểu cảm của câu thơ, câu văn. Tất cả là một chuỗi quá trình liên tưởng, mở rộng và sáng tạo trong thế giới riêng của người đọc.
            2. Tính hình tượng
            Lối so sánh của điển cố được thực hiện theo quy luật lấy đặc tính, ý nghĩa của đối tượng này biểu hiện đặc tính, ý nghĩa của đối tượng kia, so sánh vừa xa lại vừa gần, vừa kín đáo vừa rõ ràng, vừa sinh động vừa biểu cảm mạnh mẽ. Sự so sánh như vậy giúp người cảm thụ nhận thức sâu sắc hơn, có thể bày tỏ thái độ khẳng định, yêu thích hoặc phủ định, chán ghét. Sự tác động mạnh mẽ đó có được là do điển cố ngoài tính biểu cảm còn biểu hiện rõ tính hình tượng và tính cụ thể. Cung oán ngâm khúc có câu:
                                    Đuốc vương giả chí công là thế,
                                    Chẳng soi cho đến khóe âm nhai.
                                    Muôn hồng nghìn tía đua tươi,
                                    Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần.
            Câu thứ nhất và thứ hai có gốc từ câu trong Kinh Thư: “Thái dương tuy vô tư, kỳ chiếu âm nhai hàn cốc giả độc hậu” (= Mặt trời tuy không thiên vị, mà soi đến nơi gành sâu hang thẳm cuối cùng). Câu thứ ba mượn ý câu thơ Đường: “Vạn tử thiên hồng tổng thị xuân” (=Muôn tía, nghìn hồng tất cả là xuân), ở đây chỉ các cung nữ xinh đẹp; chúa xuân chỉ vua. Người đọc qua những hình ảnh ấy có thể so sánh ánh mặt trời với vua, khóe âm nhai ví người cung nữ bất hạnh, bị bỏ quên nơi lãnh cung lạnh lẽo. Cung tần mỹ nữ trong cung cấm xinh đẹp như những bông hoa muôn màu tươi thắm, nhưng vua chỉ chọn một vài trong số ấy. Hình dung, so sánh, người đọc mới thấu hiểu nỗi đau khổ, chán chường của người cung nữ trong cuộc sống ghẻ lạnh chốn cung son.
            Những hình ảnh trong điển cố là những hình ảnh biểu trưng cụ thể, sinh động, tác động mạnh mẽ vào ký ức người đọc làm cho những hình ảnh đó giữ lại lâu bền trong đầu óc người đọc để so sánh, đối chiếu với hoàn cảnh ngôn ngữ, nhằm đi đến sự kết hợp ý nghĩa của điển cố với ý nghĩa của ngữ cảnh.
            3. Tính cô đọng, hàm súc
            Điển cố hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc nhưng thể hiện trong một hình thức tiết kiệm lời đến mức thấp nhất. Sự tiết kiệm thể hiện ở hình thức giản lược những từ không cần thiết và cô đúc ngắn gọn. Ví dụ để nói người hay lo lắng chuyện không thực tế, trong Hoàn sơn, Nguyễn Thượng Hiền mượn điển “Kỷ nhân ưu thiên” (=Người nước Kỷ lo trời đổ), nhưng chỉ gói gọn trong hai từ “ưu thiên”: “Tiện tác ưu thiên khách. Hoàn vi xuất thế nhân” (=Làm khách lo trời đổ. Lại làm người xuất thế).
            4. Tính đa dạng và linh động
            Thông thường trong chức năng tượng trưng và so sánh, đối tượng được so sánh gắn liền với vật tượng trưng trong một tương quan khép kín: hoa sen chỉ sự thanh khiết, cây tùng, cây bách chỉ đức tính của người quân tử ... Chức năng ấy bao hàm sự phủ nhận hình thức và chú ý nhiều đến ý nghĩa. Hình thức (hay vỏ từ ngữ) nhằm đưa tới nội dung, ý nghĩa và dừng lại ở đó. Nhưng điển cố với chức năng tưởng tượng, liên tưởng, hình thức cũng là một yếu tố quan trọng vì nó không mang nội dung, ý nghĩa cứng nhắc và khép kín mà nó có thể đưa đến một hay vài ý nghĩa khác bằng hình thức thích hợp theo chiều sâu của hồi tưởng về câu chuyện quá khứ, và hướng về tương lai. Hơn nữa, điển cố còn thể hiện một hình thức linh động bằng cách hết hợp với những câu văn, câu thơ trong một tương quan gần.
            Điển cố tồn tại trong câu thơ, câu văn như một thực thể phù hợp với câu trúc và yêu cầu về luật định của các thể loại văn học. Chính vì vậy, điển cố mang hình thức phong phú, đa dạng. Chẳng hạn, điển “nguyệt lão” không phải mang hình thức cứng nhắc trong một từ cố định mà được biểu diễn thành rất nhiều từ khác nhau nhưng cùng một nội dung chỉ sự kết duyên vợ chồng như:bà nguyệt, chỉ đỏ, chỉ hồng, xích thằng, ông tơ,  trăng già, xe tơ, xe dây, tơ đào ... Chỉ trong Truyện Kiều, Nguyễn Du diễn tả điển này bằng nhiều từ khác nhau:
            Dù khi lá thắm chỉ hồng. ( câu 333)
            Nàng rằng hồng diệp xích thằng.(câu 459)          
            Ông tơ ghét bỏ chi nhau.(câu 549)
            Trăng già độc địa làm sao.(câu 687)      
            Cùng chàng kết tóc xe tơ những ngày.(câu 1532)
            Kíp toan kiếm chốn xe dây.(câu 2099)
            Duyên đâu ai dứt tơ đào.(câu 2609)
            Điển cố là một khu rừng bao la mà trong đó chứa đựng nhiều loại thực vật cực kỳ phong phú, có thể diễn đạt rất nhiều mặt của đời sống từ cụ thể đến trừu tượng, từ vật chất đến tinh thần. Điển cố dùng cho nhiều mục đích: so sánh, ca ngợi, châm biếm, giáo dục, kể chuyện, khẳng định, phủ định ... Một điển cố có thể được biểu đạt theo nhiều nghĩa. Vì tính đa nghĩa ấy mà điển cố có phạm vi hoạt động rộng rãi, tính năng động dồi dào, có thể hoạt động trong nhiều ngữ cảnh có nội dung khác nhau. Điển cố với đặc tính đa dạng về biến thể hình thức, có khi chỉ là một từ :
                                    Muộn màng thay giấc điềm bi.(câu 57)
                                    Vậy ả Hằng vì ta xe mối.(câu 531)
                                                                        (Sơ kính tân trang)
            “Bi” tức là chiêm bao thấy con gấu, ý nói sinh con trai. Điển mượn trong Kinh Thi. Ả Hằng tức Hằng Nga trong truyền thuyết Trung Hoa.
                                    Những tơ nào thắm những cầu nào xanh. (câu 240)
                                                                        (Truyện Hoa Tiên)
            “Tơ” tức tơ hồng, chỉ việc hôn nhân. “Cầu” tức cầu Lam (Lam Kiều), huyện Lam Điền ở Trung Quốc, nơi Bùi Hàng gặp gỡ và lấy nàng Vân Anh làm vợ.
            Có khi là một cụm từ:
                                    Câu vãn tiết, e khi mai biệu,
                                    Tác cập kê, nay gặp đào yêu.
                                                           (Kim Thạch kỳ duyên, hồi thừ 3)
            “Mai biệu” là mượn tên thiên Phiếu hữu mai và Đào yêu trong kinh Thi, chỉ cô gái đến tuổi lấy chồng, được có gia đình êm ấm, hạnh phúc.
            Có khi là một câu:
                                    Trương Thị vãn viết: ...
                                                Như mình là: Sấm vang bia Phước
                                                Còn người ta là: Gió xuôi các Đằng.
                                                            (Kim Thạch kỳ duyên, hồi thứ 3)
            “Sấm vang bia Phước” là chuyện kém may mắn của một thư sinh nghèo được Phạm Trọng Yêm giúp tiền mực in lên bia bán kiếm lời, nhưng một đêm, cái bia bị sét đánh tan tành. Ý nói không còn cơ may nào cưú vớt được hoàn cảnh khó khăn. “Gió xuôi các Đằng” nói về chuyện may mắn ngẫu nhiên như cơn gió định mệnh thổi xuôi, đẩy thuyền Vương Bột đến gác Đằng Vương, để rồi ông được nổi danh về tài văn chương từ đó.
            Sự thể hiện biến thể hình thức của điển cố thật nhiều màu, nhiều vẻ, nhưng tựu trung, nổi bật ở hai điểm: 1. Điển cố có cùng nội dung và ý nghĩa (là những điển quen thuộc, được nhiều người dùng trong nhiều hình thức từ ngữ như điển “nguyệt lão”); 2. Điển cố có cùng ý nghĩa nhưng được biểu hiện bằng cách thay đổi một số yếu tố từ vựng, ví dụ điển “tang thương” (tang: cây dâu, nương trồng dâu; thương là biển khơi, bãi bể). Sách Liệt tiên truyện chép: bà Ma cô tiên nữ  từng thấy đám nương dâu đã ba lần hóa thành bể khơi, bãi bể. Ý nói sự thay đổi của cảnh vật, cuộc sống. Điển này được thể hiện qua nhiều hình thức từ ngữ như: tang hải, bãi bể nương dâu, bể dâu ... :
                                     “Trải qua một cuộc bể dâu”.
                                                                        (Truyện Kiều)
                                     “Ai bày trò bãi bể nương dâu”,
                                    “Bức tranh vân cẩu, vẽ người tang thương”.
                                                                       (Cung oán ngâm khúc)
            Điển cố có hai nghĩa: nghĩa cụ thể và nghĩa khái quát hay nghĩa đen và nghĩa bóng, ví dụ điển “chỉ đỏ” có nghĩa cụ thể là vật (người) mai mối, nghĩa khái quát chỉ nhân duyên vợ chồng. Có những điển giống nhau về sự kiện, ngôn từ nhưng ngược nhau về ý nghĩa. Điều này được hiểu như là tác giả khi dùng điển đã biến đổi ý nghĩa từ tiêu tực thành tích cực hay ngược lại, mục đích đế châm biếm hay than thở ...
                                     “Mập mờ đánh lận con đen”.
                                                            (Truyện Kiều)
            “Con đen” dịch từ chữ “lê dân (=người dân đầu đen) trong Kinh Thư, chương Nghiêu điển, nhưng Nguyễn Du đã dùng để chỉ khách làng chơi khờ khạo.
                                     “Khu văn vị dĩ tần môn sắt” (=Đuổi muỗi chưa xong lại bắt rận)
                                                            (Huỳnh Thúc Kháng, Dạ thâm bất mị)
             Câu trên  mượn điển “môn sắt” chỉ động tác bắt rận. Tấn sử chép: Vương Mãnh ở Bắc hải, ở ẩn núi Hoa âm, nghe nói Hoàn Ôn đánh Tần, đến yết kiến, vừa nói vừa bắt rận rất tự nhiên, điềm tĩnh. Tuy mượn điển ấy, nhưng tác giả không chọn lấy ý nghĩa của kẻ an bần, có chí lớn, mà dùng để nói lên ý chí muốn diệt trừ  bọn hút máu hại dân lành.
            Tóm lại, điển cố được xem là một đơn vị mở trong hệ thống ẩn dụ mang tính chất và ý nghĩa đặc biệt. Điển cố giúp người đọc hiẻu được giá trị của hồi ức, tưởng tượng, liên tưởng và gợi mở một hướng mới để thông hiểu nội dung, ý nghĩa câu thơ. Sự thấu hiểu điển cố dựa trên nền tảng nắm được nguồn gốc điển cố. Trường hợp sau chứng minh điều này: thành ngữ ta có câu “rét nàng Bân”được thể hiện qua câu ca dao:
                                    Nàng Bân may áo cho cồng,
                                    May ba tháng ròng chửa trọn cổ tay.
                                    Lạy trời cho cả gió may,
                                    Nàng Bân chết quách đêm nay cho rồi.
Xuất xứ từ nhân vật thần thoại là nàng Bân cầu xin trời hóa phép cho trần gian trở rét vào mùa hè (tháng 3 âm lịch) để có dịp may áo ấm cho chồng.
            Quá trình tiếp nhận câu có điển cố là quá trình vỏ từ ngữ qua khúc xạ tâm lý trở về câu chuyện (thơ văn) quá khứ, chuyển hóa thành hình ảnh chủ quan của người tiếp nhận. Vỏ từ ngữ của điển cố trong lúc này được thay thể bởi hình ảnh mới sinh đông, đầy cảm xúc. Hình ảnh này được sự tưởng tượng của chính bản thân người đọc sản sinh ra, khác với hình ảnh được tưởng tượng của người thứ hai, thứ ba.
            Điển cố mang nhiều tính chất của sự linh động về hình thức, nội dung và ý nghĩa, tạo thêm sức mạnh diễn đạt và biểu cảm cho câu thơ, câu văn. Chính vì vậy, điển cố là một trong những thủ pháp sáng tác một thời...
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Duy Anh, Để tìm hiểu từ nghĩa, cần biết từ nguyên, số 4.1978, trang 45.
2. Võ Bình, Phong cách học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1982.
3. Dương Hữu Biên, Vài ghi nhận về logic và hàm y, Tạp chí ngôn ngữ số 1.1997.
4. Nguyễn Văn Huyên, Cấu trúc của hình tượng nghệ thuật và khả năng gợi mở của nó đối với tiềm năng sáng tạo, Tạp chí Triết học số 4.1987.
5. Đinh Trọng Lạc, Về một số phương tiện tu từ, Tạp chí ngôn ngữ, số 1.1994.
6. Nguyễn Lai, Tìm hiểu sự chuyển hóa từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng, Tạp chí ngôn ngữ, số 3.1996.
7. Nguyễn Thế Lịch, Từ so sánh đến ẩn du, Tạp chí ngôn ngữ, số 3.1991.
8. Mộng Bình Sơn, Điển tích chọn lọc, Nhà xuất bản Xuân Thu, 1990.
9. Cù Đình Tú, Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983.
10. Hoàng Tuệ, Hiển ngôn với hàm ngôn, một vấn đề thú vị trong chuơng trình lớp 11 PTTH hiện nay, Tạp chí ngôn ngữ, số 3.1991.
11. Thanh Bình, Thành ngữ cố sự, Hương Cảng Vĩ Thanh thư điếm, 1956.

Điển tích và sự mở rộng khái niệm điển tích

I.  SỐ "HĂM HAI" CỦA NHỮNG NGƯỜI TÙ
Trong thời gian làm luận án ở École Normale Supérieure de Fontenay/ Saint Cloud, tôi được anh bạn người Italia Mauro Usai kể cho nghe một câu chuyện thú vị mà theo anh là nội dung của một bộ phim: Trong nhà giam nọ, đám tù khổ sai, sau mỗi ngày lao động như trâu ngựa dưới đòn roi của cai ngục, chỉ có một thú tiêu khiển là nghe một người trong bọn họ kể chuyện tiếu lâm. Người kể chuyện rất từng trải, có duyên và có tài bịa đặt, nhưng thời gian giam giữ quá lâu, cuối cùng cả kho tiếu lâm lẫn tài bịa đặt của anh ta đều cạn kiệt. Nghe đi nghe lại mãi, đám tù nhân thuộc lòng không chỉ các chuyện mà cả thứ tự của chúng trong vốn liếng của người  bạn tù. Vì thế, thay vì kể chuyện, gã tù nhân có duyên kể chuyện kia chỉ cần xướng lên một con số, chẳng hạn "hăm hai", là tất cả cười ồ. Điều này dần dần trở thành thói quen một cách tự nhiên. Thế rồi một hôm trại có tù nhân mới: chẳng khó khăn gì chúng ta cũng có thể hình dung bộ dạng ngớ ngẩn của anh ta trong khi đám tù nhân cũ ôm bụng cười vì nghe con số "hăm hai" tưởng chừng vô nghĩa ấy.
Thực ra chuyện tù nhân dùng các con số hay các loại ký hiệu khác nhau, trong đó có ký hiệu ngôn ngữ, chẳng hạn tiếng lóng, để thông tin và trốn tránh sự kiểm soát của cai ngục là điều không có gì lạ. Nhưng với tôi, con số hăm hai của đám tù nhân trong câu chuyện thâm thuý này lại gợi những suy nghĩ khác: nó là một ví dụ tuyệt vời về điển tích.
Trong các từ điển hoặc sách giáo khoa, điển tích thường được định nghĩa như là những câu chuyện ghi chép trong sách vở và được trích dẫn hoặc dẫn ý. Cuốn Sổ tay văn học (A Handbook to literature) của C. Huge Holman và William Harmon, chẳng hạn, định nghĩa điển tích là "lối nói dẫn chiếu vắn tắt đến một hình tượng, sự kiện hay đề tài lịch sử và văn học"[1].
Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp hai từ "điển tích" và "điển cố". Từ điển của Nguyễn Văn Khôn viết: "Điển: Kinh điển. Thường. Phép tắc. Chủ trương. Coi sóc việc gì. Cầm cố. Họ. Tích: Xưa, trước, lâu, ban đêm. Họ. Cố: Bền, vững bền. Kín đáo. Sẵn, vốn đã. Nhiều lần. Bỉ lậu. Cố nhiên, tất nhiên. Họ. Điển tích: Sự tích chép trong sách vở xưa. Điển cố: Điển cũ tích xưa; sự tích, luật lệ cũ".
Như vậy, "điển cố" là khái niệm rộng hơn và không chỉ bao gồm những sự tích chép trong sách vở. Tuy nhiên, trên thực tế hai từ này vẫn được dùng lẫn lộn. Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1977) định nghĩa điển cố là "Chuyện chép trong sách cũ" và điển tích là "Sự việc trong kinh sách cũ". Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường, viết trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX: "Điển cố: Thuật ngữ của giới nghiên cứu nhằm mô tả một trong những đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, vốn chịu ảnh hưởng văn học cổ và trung đại Trung Hoa. Do những nguyên nhân khác nhau, đã hình thành một tâm thế, một phong cách của những người làm văn: trong hành văn thường hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ, câu văn cổ để diễn tả ý mình, nhưng đây không phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng lại vài chữ cốt gợi nhớ được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy. Lối này được gọi chung là dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và dùng chữ"[2].
Sự lẫn lộn này thật ra cũng không phải là trầm trọng, và có lẽ nó bắt nguồn từ thực tế là khái niệm "văn" trong các nền văn hoá chịu ảnh hưởng của Trung Quốc rộng hơn nhiều so với khác niệm "văn học" trong các nền văn hoá phương Tây. Vì lẽ đó, nếu trong tiểu luận này tôi dùng thuật ngữ "điển tích" thì cũng xin được hiểu theo nghĩa rộng hơn này.
Tuy nhiên, tôi chỉ có thể đồng ý một nửa với nhận xét trên đây của Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường. Trước hết, quả thật là trong văn học cổ đại và trung đại ở Việt Nam cũng như ở một số nước Viễn Đông, điển tích được được sử dụng rất thường xuyên. Nhưng trong văn học của phương Tây, hay của bất cứ khu vực nào, điển tích cũng được sử dụng nhiều không kém. Ta có thể khẳng định rằng điển tích là một hiện tượng phổ quát: nó được sử dụng rộng rãi ở mọi thời, trong mọi nền văn học.
Thứ hai, mặc dù Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường, cũng như nhiều nhà nghiên cứu văn học cả ở phương Đông lẫn phương Tây, đã không sai khi đề cập đến điển tích như một nguồn cảm hứng sáng tạo, một kho mô típ, hoặc như một thủ thuật trong cách hành văn, tôi tin rằng sự phổ biến rộng rãi của điển tích có một lý do sâu xa hơn nhiều. (Quan niệm về điển tích như một nguồn cảm hứng hoặc một kỹ thuật như trên cũng phổ biến ở người đọc bình thường. Chính vì thế, dùng điển tích, nhất là dùng nhiều điển tích, cũng giống như dùng nhiều trích dẫn, thường bị coi là một cách để khoe khoang kiến thức và lòe bịp thiên hạ).
Chúng ta hãy thử đặt câu hỏi: Tại sao điển tích được dùng nhiều đến thế? Và nguyên lý vận hành của điển tích là gì?
Theo tôi, mặc dù quả thật trong nhiều trường hợp dùng điển tích đúng là một cách để tác giả khoe khoang kiến thức và lòe bịp thiên hạ, sự phổ biến của điển tích có một lý do là sự tiết kiệm. Nói đúng hơn, đó là nguyên lý tối ưu của giao tiếp nói riêng và của tư duy nói chung: chúng ta luôn hướng tới việc truyền đạt nhiều thông tin nhất với một lượng ngôn từ nhỏ nhất, cũng tức là với khoảng thời gian ngắn nhất là năng lượng tinh thần nhỏ nhất. Chẳng hạn, khi chúng ta nhắc đến con ngựa thành Troy, thực chất là chúng ta gián tiếp kể lại cả một câu chuyện dài về con ngựa khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp chỉ trong một từ ngắn ngủi. Tương tự như vậy, cái tên Sở Khanh dẫn người đọc đến mối tình éo le của Kiều, đến truyện Kiều và đến cả một mẫu người trong xã hội đương thời. Trong giai thoại về đám tù nhân kể bên trên, thay vì kể cả một câu chuyện tiếu lâm, người kể chuyện chỉ cần đưa ra một con số.
Nguyên lý tiết kiệm có thể thấy ở tất cả các hoạt động của con người, và nó đã được Herbert Spencer phân tích trong Nguyên lý của phong cách (The Philosophy of style). Ở đây, tôi chỉ muốn đưa ra những ví dụ minh họa mà thật ra ta chẳng cần phải động não nhiều để có. Quy luật tiết kiệm chính là lý do khiến chúng ta sáng tạo nên những từ viết tắt như OPEC, UN, USA...Đó cũng là lý do khiến chúng ta có xu hướng rút gọn các từ. Người Việt nói con Su thay cho con Suzuki, người Pháp nói prof thay choprofesseur, người Mỹ nói Caddy thay cho Cadillac...
Nguyên lý tiết kiệm cũng chính là lý do khiến chúng ta khó chịu với những kẻ ba hoa, dài dòng. Người Việt có câu: "Rượu ngon uống lắm cũng say/ Người khôn nói lắm cũng hay ra rồ!" Thật ra, chúng ta khó chịu với kẻ dài dòng không phải vì anh /chị ta nói dài. Một bài nó chuyện dài, thậm chí rất dài, nhưng đầy ắp ý tưởng vẫn có thể lôi cuốn người nghe cho đến câu cuối cùng. Những câu chuyện của nàng Sheherazade trong Một nghìn một đêm lẻ đã cứu nàng sống thoát không chỉ vì chúng hấp dẫn mà còn vì chúng kéo đêm này qua đêm khác. Cái khiến chúng ta khó chịu với những kẻ ba hoa, dài dòng là những điều được đề cập đều đã cũ, nói như nhân vật (cũng đã trở thành điển tích) của Vũ Trọng Phụng, "biết rồi, khổ lắm, nói mãi", hoặc nó có thể được diễn đạt ngắn gọn hơn, nghĩa là tiết kiệm thời gian và sức lực hơn. Hãy thử hình dung tình cảnh lố bịch của một người kể đầu đuôi một câu chuyện tiếu lâm cho những người đã thuộc lòng câu chuyện ấy!
Tiết kiệm chính là bản chất của việc dùng điển tích: thay vì kể cả một câu chuyện dài, người ta có thể, và trên thực thế bắt buộc, chỉ đưa ra một tín hiệu, như con số "hăm hai" của những người tù, cho phép dẫn chiếu đến nó mà thôi.  

II. ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC VÀ ĐIỂN TÍCH ĐỜI SỐNG

Trong câu chuyện về đám tù nhân của Mauro, tại sao khi nghe con số "hăm hai" đám tù nhân cũ phá lên cười, còn gã tù nhân mới lại không? Câu hỏi đưa ta đến một câu hỏi có tính khái quát hơn: cơ chế vận hành của điển tích là gì?
Chẳng cần phải khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng để một điển tích vận hành được, cần phải có các điều kiện sau đây:
1. Tính thân thuộc: Điều kiện tiên quyết để sử dụng một điển tích là nó phải được những người trong cuộc biết trước. Nói cách khác, nó phải là một ký ức chung của người dùng điển tích và người nghe điển tích.
2. Tín hiệu hoá (hay mã hoá): "Con ngựa thành Troy" gọi lên câu chuyện chiến tranh ở thành phố Ha Lạp cổ đại kia bởi lẽ nó là một tín hiệu quy ước giữa những người có chung ký ức về câu chuyện ấy. Ở đây, tín hiệu quy ước có vai trò giống như vai trò của cái tên: nó dẫn chiếu đến một cá nhân cụ thể trong xã hội.
3. Phát và nhận tín hiệu: nhưng không phải lúc nào "Con ngựa thành Troy" cũng dẫn chiếu đến cuộc chiến tranh Troy (Chẳng hạn, ta có thể viết một cuốn sách về những người chăn ngựa ở Hy Lạp và trong đàn ngựa của anh ta có một con mua ở Troy). Điều kiện cần thiết để việc dùng điển thực hiện được là tín hiệu phải nằm trong một hệ thống nhất định, cho phép người nghe nhận ra và dẫn chiếu đến ký ức chung tương ứng. 
Trong câu chuyện về những người tù, một quá trình tương tự cũng diễn ra: gã tù nhân mới không cười, bởi lẽ anh ta không biết nội dung câu chuyện mang số "hăm hai", trong khi đám tù nhân cũ đều biết. Nói cách khác, anh ta không có chung với đám tù nhân cũ một ký ức chung mà con số "hăm hai" dẫn chiếu đến khi nó được đặt trong một hệ thống quy ước - ở đây là danh sách các truyện tiếu lâm.
Đến đây, chúng ta có thể suy ra một định nghĩa khái quát hơn về điển tích: Điển tích là một ký ức chung của một cộng đồng người được ký hiệu hoá và có thể được dẫn chiếu đến bằng cách phát và nhận tín hiệu đó trong một hệ thống nhất định.
Trong định nghĩa này, "chung" là một tính từ cực kỳ quan trọng: điển tích chỉ là điển tích đối với những ai chia xẻ ký ức chung về nó. Giống như con số "hăm hai" chỉ là một câu chuyện tiếu lâm đối với đám tù nhân cũ, "Con ngựa thành Troy" chỉ là điển tích đối với những ai đã biết về câu chuyện ấy mà thôi.
Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa điển tích như trên, chúng ta cũng buộc phải chấp nhận rằng khái niệm và vai trò của điển tích cần được mở rộng hơn nhiều so với những cách hiểu thông thường.
Trước hết, bên cạnh các điển tích sách vở chúng ta còn có các điển tích đời sống. Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, có vô số những câu chuyện, sự kiện, ý tưởng...mà chỉ là chung cho những thành viên của một cộng đồng người nhất định. Đó là những ký ức chung của họ. Cũng giống như các câu chuyện tiếu lâm của đám tù nhân trong câu chuyện của Mauro, những ký ức chung trong cuộc sống cũng được tín hiệu hóa - bằng con số, tên gọi, cử chỉ, hay bất kỳ một dấu hiệu nào đó - mà để dẫn chiếu đến, người ta chỉ cần nhắc đến trong một hệ thống cho phép nhận ra nó.
Điển tích đời sống thực ra là cái được sử dụng thường xuyên hơn ta nghĩ rất nhiều, cả trong giao tiếp, sinh hoạt lẫn trong văn học nghệ thuật, mặc dù thường không mấy ai để ý. Chúng ta có lẽ ai cũng đã từng bị lạc vào một ngày hội lớp, một buổi liên hoan công ty, hay bị ghép vào một bàn tiệc đám cưới với những người hoàn toàn xa lạ: sau mấy câu xã giao, chúng ta hoá thành một kẻ vụng về, ngốc nghếch. Giống như người tù mới trong câu chuyện của Mauro, khi họ cười, chúng ta chẳng hiểu vì sao họ cười, khi họ nổi giận, ta chẳng hiểu vì sao họ giận. Điều này cũng rất rõ và là một phần quan trọng của cái mà chúng ta thường gọi là "cú sốc văn hoá" khi đến một xứ sở khác. Chẳng hạn, tiếng Pháp của bạn có thể không tồi, nhưng nếu chưa từng đến Pháp, bạn có thể phải ngẩn người, trong một toa tàu điện ngầm Paris, trước những điều người Pháp trao đổi với nhau.    
Trong văn học, mọi tác phẩm đều phải dựa trên hay gắn liền với một bối cảnh nhất định, trong đó tác giả cũng như nhân vật trải qua một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông các con đường khác nhau. Chính vì thế để hiểu được một tác phẩm một cách trọn vẹn, người ta không chỉ cần hiểu được các quy luật cú pháp cũng như về ngôn ngữ của một tác phẩm mà còn phải hiểu được bối cảnh ấy, nếu không tác phẩm sẽ bị mất đi rất nhiều giá trị, hoặc đôi khi không thể hiểu được. Tôi xin lấy làm ví dụ cuốn tiểu thuyết nổi tiếngNỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và những truyện ngắn trong tập Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp. Cả hai nhà văn này đều là những nhà văn có thực tài và tôi rất khâm phục. Tuy nhiên, tôi tin (và trên thực tế qua tiếp xúc với khá nhiều người nước ngoài), rằng khi được dịch sang các thứ tiếng phương Tây, cuốn sách của Bảo Ninh sẽ gây được một tiếng vang lớn hơn, thậm chí là lớn hơn nhiều, so với truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Vấn đề ở đây, theo tôi, không phải là văn tài của Nguyễn Huy Thiệp kém hơn, hoặc những người dịch Nguyễn Huy Thiệp kém hơn, mà là tính chất của tác phẩm. Chính ở đây, các điển tích đời sống đã có ảnh hưởng rất lớn.
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh có cấu trúc hiện đại kiểu phương Tây, các vấn đề tác giả đặt ra là các vấn đề chung của mọi cuộc chiến tranh. Nếu chúng ta đổi các địa danh, thay cây tre bằng cây bạch dương, gọi anh Phương là John hay François.. thì nó sẽ khá giống một cuốn tiểu thuyết của châu Âu. Chính vì thế, khi mới ra mắt, một số người từng bình luận "Hồn Remarque, xác Bảo Ninh". Tôi cho rằng nhận xét như vậy là quá khắt khe. Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh là một tác phẩm độc đáo của Bảo Ninh, của Việt Nam và với tư cách một nhà văn Việt Nam, tôi rất tự hào về nó. Tuy nhiên, nhận xét trên cũng phần nào cho thấy tính phổ quát của những vấn đề được đặt ra trong đó.
 Những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thì khác. Truyện ngắn của anh, mặc dù rất sâu sắc và tài hoa, nhưng hàm chứa và dựa vào nhiều vấn đề đặc thù của xã hội người Việt, đặc biệt là người Việt trong giai đoạn mấy chục năm vừa qua. Những người không sống ở hoặc không am hiểu về Việt Nam trong vài thập kỷ trước và sau 1975, sẽ không thể hiểu hết ý nghĩa của những thứ như "sổ đong gạo", "thẻ đoàn viên", "tem phiếu"...và cả những nét chua chát trong những câu nói bình thường đã trở thành thành ngữ. Những người không đọc văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc không thể cảm nhận hết cái hay của thứ văn được Nguyễn Huy Thiệp khai quật và phả vào một tinh thần mới trong Vàng lửa, hay Kiếm sắc. Thậm chí nhiều tên nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp cũng chứa đựng những ám chỉ mà khó có một dịch giả nào có thể chuyển tải trọn vẹn đến cho những người đọc không được chuẩn bị.
Tất nhiên không phải cuốn sách của Bảo Ninh không chứa đựng những vấn đề tương tự, nhưng mức độ ít hơn rất nhiều. Vì thế, việc tiếp nhận tác phẩm của Bảo Ninh thuận lợi hơn đối với các độc giả phương Tây.
Người đọc Việt Nam không gặp phải những khó khăn đó, bởi lẽ họ đã có chung ký ức về tất cả những gì Nguyễn Huy Thiệp gợi lên hay ám chỉ. Vì thế, truyện của anh gợi cho họ cả một không gian, thời gian đầy biến động của đất nước. Những ký ức, hay những điển tích đời sống ấy, khiến cho tác phẩm của anh dày hơn, lung linh hơn và sâu sắc hơn. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng không phải lúc nào những điển tích đời sống cũng ủng hộ anh. Có những chỗ sự ám chỉ khiến văn chương của anh mất đi vẻ tao nhã, có những điều anh đề cập dần dần trở thành thời vụ. Vì thế, mặc dù rất yêu văn chương của Nguyễn Huy Thiệp, tôi thú thực là sau dăm bảy năm, đọc lại, tôi cảm thấy một số tác phẩm, chẳng hạnTướng về hưu, đã bớt đi một phần sức quyến rũ hồi nào.  
Như thế, trong các tác phẩm văn học, ngoài những điển tích văn học còn có vô số các điển tích đời sống. Việc sử dụng điển tích đời sống mang tính phổ quát hay địa phương ở các mức độ khác nhau tự thân nó không phải là hay hay dở. Nó chỉ thể hiện thiên hướng của chủ thể tác giả, cái mà suy cho cùng cũng được tạo nên bởi hoàn cảnh sống. Điển tích đời sống là cái làm nên không chỉ bầu không khí địa phương hay phổ quát của tác phẩm ở mức độ khác nhau, mà cả giọng văn - bởi, nói như Althusser, cái được coi là giọng văn độc đáo của cá tính tác giả chẳng qua cũng là sự lên tiếng của một hệ tư tưởng cụ thể, thông qua một lập trường chủ thể cụ thể trong một bối cảnh cụ thể mà thôi.

III. KÝ ỨC CỦA TỪ 

Khi nói đến điển tích, ta thường nghĩ đến một câu chuyện hay sự kiện, nhưng thực ra mỗi thành ngữ cũng là một điển tích. Đằng sau những thành ngữ như "ba chân bốn cẳng", "con ông cháu cha", hay "thượng cẳng chân hạ cẳng tay"... rất có thể đã từng có một câu chuyện nay đã thất truyền, nhưng ngay cả những thành ngữ như "mắt ốc nhồi", "đồ mặt mo"...cũng dẫn chiếu đến một ký ức chung, cái gọi là "nghĩa" của thành ngữ.
Tương tự như vậy, mỗi từ, khi được phát âm hay viết ra trên giấy trong một hệ thống nhất định, thật ra chỉ là một thứ ký hiệu được quy ước dẫn chiếu đến một sự vật hay hiện tượng trong thiên nhiên hay xã hội, cái thường được gọi là "nghĩa". Đó chính là một thứ điển tích. Giống như đối với bất kỳ loại điển tích nào, nội dung của nó, ở đây là "nghĩa" của từ, chính là ký ức chung của một cộng đồng người. Chẳng hạn, khi âm "MA" được phát lên, người Việt nghĩ đến "bóng ma", trong khi người Pháp hiểu là "của tôi", còn người Italia lại hiểu là "nhưng". Đối với những người không có chung ký ức đó, "MA" là một âm thanh hoàn toàn vô nghĩa. Điều này cho ta thấy rằng từ vựng của một ngôn ngữ là tập hợp các điển tích đời sống của một dân tộc, và một cuốn từ điển giải nghĩa của bất kỳ thứ tiếng nào về bản chất cũng chỉ là một cuốn sưu tầm điển tích đời sống của dân tộc nói thứ tiếng ấy mà thôi.
Vì mỗi từ về bản chất là những điển tích, chúng có những đặc điểm quan trọng sau đây:
1. Tính nhập nhằng của ngữ nghĩa: Điều này tôi đã có dịp bàn đến trong một số bài viết khác. Nghĩa của từ là ký ức chung, được hình thành một cách ngẫu nhiên, của một cộng đồng người tương ứng với vỏ âm thanh của nó, vì thế nó không bao giờ là đồng nhất đối với các thành viên khác nhau trong cộng đồng. "Cánh đồng làng", chẳng hạn, đối với nhiều người, nhất là những người từng sống ở nông thôn, là cả một thế giới giàu có, gần gũi, thì đối với một số người khác nó đồng nghĩa với bùn lầy và nghèo khổ. Tôi nhớ đến một nghiên cứu thú vị mà tôi tình cờ đọc được đâu đó trong một tờ báo Pháp. Tại một trường tiểu học ở Paris, người ta yêu cầu các em học sinh vẽ hình con gà. Kết quả là hơn một nửa số em vẽ những con gà đã bị vặt lông, chặt đầu chặt chân, đặt trên đĩa hoặc trong tủ kính. Con gà đối với các em chỉ đơn thuần là một thứ thực phẩm mà thôi!
Nghĩa của từ, và do đó cả tính nhập nhằng của nó, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tầng lớp xã hội, địa phương, giới tính, giáo dục, độ tuổi...Trong một số trường hợp, một từ có thể có những nghĩa hoàn toàn trái ngược ngay trong một cộng đồng ngôn ngữ. Ví dụ điển hình nhất là cuộc tranh cãi kéo dài nhiều thế hệ về các tên gọi "tôm - tép" và "cào cào - châu chấu". Nhiều cuộc xô xát, thậm chí án mạng đã từng xảy ra vì chuyện "tôm tép" này. Điều thú vị là lý luận của hai bên bao giờ cũng giống hệt nhau:
Một bên: "Tôm là tôm, cá là cá. Tép là con giống tôm nhưng không bao giờ lớn thành tôm được!"; Bên kia: "Đúng vậy, tôm là tôm, cá là cá. Tép con giống như cá nhưng không bao giờ lớn thành cá được!"
Và:
Một bên: "Cào cào đầu bằng, sao lại gọi là châu chấu!"; còn bên kia: "Chính châu chấu mới đầu bằng, sao lại lại gọi là cào cào!" 
Những hoàn cảnh sống đặc biệt là nguyên nhân làm nảy sinh những từ hoặc nghĩa chỉ lưu hành trong một cộng đồng hẹp hoặc rất hẹp, như những từ chuyên môn hay từ lóng. Những từ lóng trong nhà tù đôi khi còn được tạo ra một cách cố ý do nhu cầu phải trốn tránh sự kiểm soát của cai ngục hoặc giải toả những bức xúc tâm sinh lý quá nặng nề. Quan hệ tình cảm cũng là một lĩnh vực cần đến nhiều từ như thế: mỗi gia đình đều có những từ chỉ riêng họ biết, mỗi cặp tình nhân đều có những biệt ngữ cho những điều thầm kín của mình.  
2. Sự biến đổi của ngữ nghĩa: Số phận của từ ngữ cũng giống như số phận con người, cũng có sinh lão bệnh tử, cũng có nhục có vinh, cũng có rủi ro, may mắn... Thử mở một tác phẩm văn học chỉ cách đây vài chục năm, chúng ta sẽ thấy rằng rất nhiều từ hay cụm từ, như "tiêu chuẩn", "hợp tác", "đồng chí", "tư tưởng"..., đã thay đổi rất nhiều về nghĩa. Rất nhiều từ và cụm từ khác, như "sổ gạo", "chính uỷ", "vừa hồng vừa chuyên"..., thậm chí đã biến mất khỏi cuộc sống hàng ngày.
Sự thay đổi như vậy không riêng cho một thứ tiếng nào hay thời đại nào, mặc dù nhiều khi nó bị các học giả lên án. Thời nào, ở nước nào, cũng có những người lo sợ rằng ngôn ngữ đang bị thoái hoá và hô hào "bảo vệ sự trong sáng" của nó. Ở Anh chẳng hạn, trong thời kỳ Khai Sáng, các tác giả như Dryen, Swift... cho rằng tiếng Anh ngày càng tồi tệ so với thời huy hoàng trong quá khứ của nó, rằng trong tương lai người Anh sẽ không còn hiểu được tác phẩm của các nhà văn tiền bối, vì thế cần phải thanh lọc và ngăn chặn sự biến đổi của ngôn ngữ sao cho nó ổn định và trong sáng như tiếng Latin. Họ đã thất bại, bởi không hiểu rằng sự vận động của ngôn ngữ là tất yếu, không ngừng và không tuân theo những ý muốn chủ quan. Hơn nữa, sự vận động không ngừng ấy chính dấu hiệu của một ngôn ngữ sống: sự vận động của ngôn ngữ phản ánh sự vận động của cuộc sống xã hội.
Việc thay đổi ngữ nghĩa khiến cho sự tiếp nhận đôi khi gặp khó khăn. Nhưng với tư cách là một ký ức có tính lịch sử, ngữ nghĩa và sự thay đổi của nó cũng là một yếu tố quan trọng để tạo nên và lưu giữ màu sắc thời đại của tác phẩm. Có lẽ chính vì thế mà rất nhiều người theo đạo Thiên Chúa ở các nước nói tiếng Anh không ưa thích bản Kinh Thánh mới (The New International Version) bằng bản King James. Những danh từ cổ, những đại từ và đuôi động từ nay không còn dùng nữa đem lại cho bản dịch cũ cái không khí và vẻ đẹp xa xăm, huyền bí và dường như cả âm hưởng linh thiêng của giọng nói Đức Jesus Christ từ hai ngàn năm về trước.
3. Sự xâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau: Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ cũng là hiện tượng phổ biến, trong đó đáng chú ý nhất đối với chúng ta là sự vay mượn từ vựng. Đây cũng là một hiện tượng gây nhiều tranh cãi. Những người phản đối lập luận rằng tại sao chúng ta phải nói "M.C", "book" hay "marketing" trong khi có thể nói "Người dẫn chương trình", "đặt trước" và "tiếp thị"? Người ủng hộ thì cho rằng phải dùng từ vay mượn mới chuyển tải hết được ý nghĩa. Theo tôi, sở dĩ sự vay mượn từ vựng mang tính phổ quát là vì nó đáp ứng một nhu cầu có thật, mặc dù đó không phải là nhu cầu ngôn ngữ mà là nhu cầu văn hoá-xã hội. Thật ra mọi ngôn ngữ hoàn toàn bình đẳng về khả năng, và khi có nhu cầu về ngữ pháp hay từ vựng, nó luôn luôn có khả năng đáp ứng đầy đủ và hoàn hảo. Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên, đặc điểm của nền sản xuất cũng như trình độ phát triển của các xã hội, cái đứng sau sự phát triển của ngôn ngữ, không bao giờ giống nhau tuyệt đối. Khi người châu Á và châu Âu lần đầu tiên trông thấy quả cà chua, dĩ nhiên họ cần phải gọi tên nó. Họ có hai cách lựa chọn: hoặc tạo ra một từ mới từ vốn từ của mình (như người Việt đã làm), hoặc vay mượn một từ mới (là cách của người Pháp với tomate, hay người Anh với tomato). Trong cả hai trường hợp, họ tiếp nhận vào bộ nhớ của mình một ký ức mới về một loại quả mới được ký hiệu bằng một từ mới. Một quá trình tương tự luôn diễn ra mỗi lần người ta gặp một sự vật hay hiện tượng mới, nhưng không ai có thể chỉ ra quy luật tại sao một cộng đồng người, trong những hoàn cảnh cụ thể, lại lựa chọn cách này hay cách kia.
Sự vay mượn không chỉ diễn ra khi có sự vật hay hiện tượng mới: một người bán quần áo đắt tiền ở Anh có thể thích đề biển hiệu La boutique hơn là Shop, trong khi một sinh viên Pháp có thể lại dùng emailthay cho courrier electronique, còn các cô cậu choai choai ở Việt Nam lại dùng "Nick-name" chứ không phải là "biệt danh" hay "tên lóng" để chat chít với nhau. Lý do ở đây thật ra không có gì khác với lý do hình thành tiếng lóng: bằng cách thay đổi ký hiệu, người ta giới hạn những người có chung ký ức vào một đối tượng riêng biệt, và thông qua đó nhấn mạnh một số đặc điểm mang tính văn hoá xã hội: giai cấp, học vấn, thị hiếu, giới tính, thiên hướng chính trị...Dick Leith viết trong cuốn Lịch sử xã hội học tiếng Anh: "Vì người dân bình thường có thể  bị choáng trước những câu nói cao siêu, trong giới thượng lưu nảy sinh nhu cầu dùng từ ngoại quốc"[3]. Đôi khi người ta vay mượn từ ngoại quốc vì nhu cầu cái mới. Giống như những người kể chuyện tiếu lâm không thể kể mãi một kiểu, trong cuộc sống có những lúc người ta muốn một hình thức đặc biệt hơn cho một nội dung đã cũ: khi cần tỏ ra lịch sự, khi chia buồn hay đơn thuần là muốn thay đổi một cái gì đó đã lỗi mốt. 
Nguyên nhân thứ ba là sự thống trị về mặt chính trị mà một dân tộc áp đặt lên dân tộc khác. Trong trường hợp này, dân tộc bị thống trị buộc phải sử dụng ngôn ngữ của dân tộc thống trị trong hành chính, giáo dục và đôi khi, như trường hợp Việt Nam thời Bắc thuộc hay nước Anh dưới sự thống trị của người Norman, cả trong văn học nữa.  
Cuối cùng, sự vay mượn có thể diễn ra đơn giản do sức ép về văn hoá. Các dân tộc có nền văn hoá phát triển thường tạo nên những hình mẫu văn hoá có sức hút rất lớn đối với các dân tộc kém phát triển hơn. Trong vô số tiếp thu ảnh hưởng, người dân các dân tộc kém phát triển nhìn nhận những từ vay mượn như là dấu hiệu của sự văn minh. Những ví dụ hay được nhắc đến của các hình mẫu đó là Hy Lạp, La Mã, Trung Hoa cổ đại và có lẽ là Hoa Kỳ ngày nay.
Ba đặc điểm trên đây cho ta thấy nghĩa của từ phụ thuộc vào các điều kiện lịch sử, xã hội và trải nghiệm cá nhân của đến mức nào. Và đó chính là nguồn gốc tính biểu cảm của ngôn từ, cái có vai trò vô cùng to lớn trong văn học, đặc biệt là trong thơ. Trong tiếp nhận của mỗi người, nghĩa của từ, cái ký ức chung giả định kia, giống như một cánh bướm mong manh, chấp chới, không ngừng biến đổi. Vì mỗi từ, về bản chất, là một điển tích, đúng hơn là một điển tích cuộc sống, nó bao giờ cũng chỉ được hiểu một cách tương đối, gần đúng. Nó biến đổi cùng với cuộc sống, và tuỳ  thuộc vào sự am hiểu và tâm trạng của mỗi người mà nó có một trường ngữ nghĩa cụ thể. Việc tìm một điển tích tương đương cho nó trong một ngôn ngữ khác càng khó khăn hơn gấp bội. Tôi có đọc ở đâu đó một bài báo khoa học, rằng khi dịch từ tiếng nọ sang tiếng kia, người ta chỉ có thể có không tới 300 từ tương ứng với nhau một cách cơ bản về ngữ nghĩa. Nếu xem xét cả các khác biệt về ngữ pháp và truyền thống văn hoá, điều đó có nghĩa là lối dịchmot-à-mot trên thực tế không tồn tại.
Để hiểu được một tác phẩm nghệ thuật chúng ta không thể tách rời cội nguồn xã hội, văn hoá và lịch sử đã nuôi nấng và đã cấp cho các từ, cũng như các đơn vị lớn hơn từ, những ý nghĩa cụ thể của chúng. Những điều này chúng tôi nói về ngôn từ, nhưng cũng đúng với những sự vật khác: mỗi dáng cây, thế núi hay màu sắc, hương vị gợi nhớ về những ký ức khác nhau. Nhạc sĩ Lê Tâm kể rằng trong thời gian đi nghĩa vụ quân sự, anh thường xuyên phải lao động bên cạnh một xưởng nấu nước mắm. Cùng với một băng nhạc ABBA, mùi nước mắm trở thành bạn đồng hành của anh trong mấy năm liền. Sau này, mỗi lần nghe nhạc ABBA anh lại ngửi thấy mùi nước mắm!
Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm chỉ căn cứ vào văn bản chỉ là một ảo tưởng mà thôi.
  
Hà Nội, 1997
Sửa lại lần cuối tại Normal, 2003.



[1] "Allusion: A figure of speech that makes brief reference to a historical or literary figure, event, or subject". C. Huge Holman and William Harmon, A Handbook to literature, Macmillan, USA, 1992, p.13.
[2] Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường, Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX:  Giáo Dục, Hà Nội, 1999, tr. 142-143.   
[3] "Since ordinary people might be impressed by a high-sounding utterance, there is a demand among elites for foreign vocabulary".  Dick Leith, A Social History of English, Routledge & Kegan Paul, London, 1983, p.64.