Khiemnguyen

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc và suy nghĩ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc và suy nghĩ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Hãy tắt TV, bạn sẽ thấy nhiều thứ đáng xem hơn

Con người hiện đại đang đang mất quá nhiều thời gian dành cho việc dán mắt vào màn hình TV mỗi ngày. Chuyên gia của trường đại học Queensland (Australia) nhận định: “Xem TV có những ảnh hưởng ngược đối với sức khỏe, cũng tương tự như thiếu vấn động, béo phì và hút thuốc. Mỗi giờ xem TV có thể khiến chúng ta tổn thọ 22 phút”. Bên cạnh đó, việc xem TV quá nhiều cũng khiến con người bị tách rời khỏi đời sống thực tế, là nguy cơ dẫn đến nhiều biểu hiện bệnh lý về tâm thần như trầm cảm, rối loạn hành vi ứng xử...
Hãy tắt TV, bạn sẽ thấy nhiều thứ đáng xem hơn trong đời sống thực mà mỗi khoảnh khắc đều là quý giá.

Đó là một cuộc sống gia đình đầy ắp tiếng cười.
Những đứa trẻ đang vui chơi dưới ánh nắng mặt trời.
 Sự ấm cúng khi cả gia đình cùng chuẩn bị cho bữa ăn.
 Những giai điệu của niềm đam mê... Nguồn: RED/ Theo UNICEF



Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Đọc lại báo xưa (4)



TỰ DO BÁO CHÍ

HOÀNG ĐẠO
(Ngày nay - số 23, ngày 30/8/1936)
Trong Nam, hôm 11/8/1936 vừa qua, ông Nguyễn Văn Sâm, hội trưởng Hội liên hữu báo giới Việt Nam, có mời anh em viết báo nhóm tại báo quán Đuốc nhà Nam để thảo bản thỉnh cầu của báo giới định đưa lên Ủy ban điều tra các thuộc địa của Chính phủ dân đoàn nước Pháp.
Các nhà làm báo có mặt đồng lòng thỉnh cầu những khoản dưới này:
1). Tự do báo chí.
2). Tự do tư tưởng về mọi phương diện: xã hội, chính trị, kinh tế, mỹ thuật.
3). Tự do hội hiệp.
4). Tự do du lịch.
5). Quyền lập liên đoàn.
6). Yêu cầu cho 5 khoản thỉnh cầu trên khỏi bị hạn chế.
Trong những khoản tự do yêu cầu trên, có sự tự do báo chí là đáng chú ý đến hơn cả. Nói cho đúng, tự do báo chí mới thực là tự do. Là vì nó hàm xúc hầu hết những sự tự do khác. Thí dụ như tự do tư tưởng, ta có thể coi như bao hàm trong sự tự do báo chí: nếu tư tưởng không được tự do, thì không thể có báo chí tự do được.
Sự tự do của báo chí rất quan hệ đến vận mệnh cả nước. Báo giới ai cũng công nhận như vậy, là một cơ quan truyền bá tư tưởng một cách mau chóng, dễ dàng cho khắp các đẳng cấp trong xã hội. Nhờ báo chí, những điều cần biết, những việc đáng chú ý, những sáng kiến nên theo, những ý kiến mới mẻ bay lan đi khắp nơi, khiến cho những dân ở nơi thâm sơn cùng cốc, những làng chim đắm ở vùng hẻo lánh đều được tiếp xúc với những nguồn tư tưởng cột trụ của các nước văn minh. Nhờ ở báo chí, một phần lớn dân tộc Thái Tây đã trở nên những nước khuôn mẫu cho các dân tộc khác. Công của các báo chí đối với văn hóa thật đã là vĩ đại, khiến ta phải cúi đầu kính phục. Vậy vọng nguyện đầu tiên của dân ta - bất cứ về phái nào cũng cùng một ý ấy - là xin cho báo giới của ta được tự do. Tôi biết, tôi biết lắm, tôi thấu rõ những điều người ta sắp đem ra báo tôi. Người ta sợ sự lạm dụng. Ở ngay các nước văn minh, nhũng tệ của báo chí không phải là nhỏ. Nào những nhà lý tài vô lương lợi dụng báo chí để mưu những cuộc lừa đảo lớn, nào những nhà văn sĩ vô lương tâm mượn báo để tống tiền. Nhưng tôi xin thưa lại một vài điều rất tầm thường, rất giản dị. Sự đào thảo là một lệ tự nhiên của trời đất. Những tờ báo không đứng đắn không có giá trị - những tờ “lá cải” theo một câu chữ Pháp nhập tịch làng văn Việt Nam - sẽ lần lần đưa nhau sang bên kia thế giới.
Ta yên trí rằng dân gian dẫu dốt nát đến đâu cũng không ngu muội. Lương tri họ không kém gì lương tri những nhà thạc sĩ. Họ không được học, được biết, nên họ chưa được hữu. Một mai báo chí đem lại cho họ những sự hiện thời thiếu thốn, tôi dám chắc rằng chính ở những nơi lầm than, đói rét, dốt nát, mới nảy ra những bậc thiên tài, những đấng vĩ nhân.
Sự hại của chế độ báo giới tự do thật là nhỏ, nhỏ đến nỗi không trông thấy nữa, nếu ta đem so sánh với những điều ích lợi hiển nhiên của chế độ ấy. Nói riêng về dân tộc ta, ai cũng phải công nhận rằng thiên ức người, sau khi đỗ được mảnh bằng sơ học không còn biết tìm cách gì để mở mang thêm trí thức được. Sự tự do báo chí sẽ đưa họ đến con đường quang đãng, đầy ánh sáng của văn minh.
Có người sẽ bảo nhỏ tôi: Người ta đã bãi phòng kiểm duyệt rồi, thưa ông. Vâng, tôi biết lắm. Nhưng bãi phòng kiểm duyệt, không phải là bãi sự kiểm duyệt. Còn cần phải xin phép mới ra được báo, còn bị thu giấy phép lúc nào không được lòng chính phủ, thì sự báo chí tự do chưa thể có được. Hơn nữa, chế độ hiện thời tôi cho lại còn nguy hiểm hơn chế độ báo chí lúc còn dưới quyền ty kiểm duyệt. Là vì hồi ấy, nhà báo không bao giờ bị thu giấy phép. Ty kiểm duyệt, công việc là cho đăng những bài chính phủ bằng lòng cho đăng. Vạn nhất, ty ấy lơ đễnh bỏ sót một vài bài gọi là có tính cách trái ý chính phủ, thì cũng là lỗi tại ty ấy. Còn nhà làm báo không chịu trách nhiệm gì, lẽ đó đã cố nhiên. Dưới chế độ hiện thời, trách nhiệm về phần nhà báo chịu cả, mà những quyền lợi tương đối, lại không có chút nào. Sự thu giấy phép, một sự hại lớn cho tờ báo, nhà làm báo phải dè dặt, dè dặt hơn là lúc còn ty kiểm duyệt. Họ tự làm ty kiểm duyệt cho họ, một ty kiểm duyệt chặt chẽ, nghiệt ác hơn. Tuy vậy cũng không xong, chứng cớ còn rõ ràng ở trước mắt mọi người. Những tờ báo quốc ngữ hiện thời đều sống một cuộc đời bấp bênh như vậy cả. Vi đời họ không chắc chắn, nên công cuộc họ theo đuổi chỉ là công cuộc một thời. Vì đó mà ảnh hưởng của họ trong dân gian không được là bao.
Muốn cho ảnh hưởng của họ được lan rộng - nghĩa là muốn cho dân tộc ta được bước vào con đường sáng sủa của sự tiến hóa - thì phải có báo chi tự do. Ủy viên điều tra đến, ta phải đồng lòng yêu cầu báo chí quốc ngữ được chung một chế độ với báo chí chữ Tây xuất bản ở Đông dương. Chế độ ấy, người Pháp coi là một chế độ khắc nghiệt lắm, vì nhiều tội báo chí phạm phải không đem ra xử ở tòa đại hình như ở bên Pháp, lại đem ra xử ở tòa tiểu hình. Nhưng, theo tôi, mai kia được sống ở trong chế độ ấy, báo chí quốc ngữ cũng đã có thể lấy làm tự mãn, như con cá đương ở trong cái lạch tù hãm bỗng được thả ra một giòng sông rộng./.


Hoàng Đạo


Đọc lại báo xưa (3)



KỶ NIỆM NGÀY BÁO CHÍ

HOÀNG ĐẠO
(Ngày nay -  số 20, ngày 9/8/1936)
Ngày mồng một tháng bẩy Tây vừa qua là ngày kỷ niệm của lối báo hiện đương thịnh hành ở Âu châu.
Théophraste Renaudot ông tổ báo giới
Nếu Théophraste Renandot là ông tổ báo giới, thì Emilè de Girardin là người đã đưa báo giới vào một con đường mới mẻ. Ngày mồng một tháng bảy năm 1836 - vừa đúng một trăm năm nay - ông ta xuất bản số đầu tờ “Báo”. Tờ “Báo” là một cuộc cách mệnh trong làng báo thời ây. Trước kia, một tờ báo một năm giá mua đều là 80 quan, nghĩa là 400 quan bây giờ (40p00). Giá báo đắt như vậy nên số nqười mua báo rất ít. Báo chí lúc bấy giờ chí là một thứ xa xỉ phẩm, không thể làm cơ quan truyền bá tư tưởng vào trong dân gian như bây giờ được. Bỗng Emile de Girardin ra tờ “Báo” giá thụt xuốnq 40 quan, một nửa tiền! Số trang vẫn như tờ báo khác, Girardin làm thế náo mà hạ giá đến thế được? Ấy là nhờ quảng cáo. Bắt đầu từ bấy giờ, tờ báo không những chỉ là một cơ quan của một vài nhà tư tưởng, nó lại còn là một việc buôn bán, có lỗ, có lời nữa. Bắt đầu từ bấy giờ, tiền quảng cáo không phải là một số tiền phụ, mà là số tiền chính, nắm vận mệnh của tờ báo. Mà cũng bắt đầu từ bấy giờ, tờ báo không còn là tờ tạp chí chỉ để cho một số ít người đọc, nó thành ra một cơ quan dư luận, để truyền bá những tư tưởng của một đảng chính trị, để làm cho độc giả biết một cách nhanh chóng tin tức của thế giới.
Báo bên Pháp ngày nay, cũng như ở bên ta, có hai thứ: hằng ngày và hằng tuần. Báo hằng ngày cần đăng tin tin nhanh chóng, thật nhiều và đúng sự thật. Một cái tàu bay rơi ở bên Mỹ, hay bên Tây Ban Nha nổi loạn, nửa giờ sau là tờ báo phải biết rồi. Những việc ấy, đã có những hãng lấy tin tức thông báo cho. Hãng lớn nhất là hãng Havas. Hãng ấy dùng riêng ở kinh đô Paris tới 1200 người, ở các tỉnh ở Pháp tới 1.000 người và ở khắp các nước trong thế giới đều có người thay mặt. Vì thế, nên trobg ba phút đồng hồ, là hãng biết những việc xảy ra ở khắp hoàn cầu.
Nhưng còn những tin nữa. Cho nên, tờ báo phải có một số phóng viên đi điều tra về những việc đáng để ý. Có thể họ lại phải bịa ra những tin có thể có được nữa.
Girardin: "Mỗi ngày phải có một ý tưởng mới!"
Báo hằng tuần lẽ tất nhiên là không cần đến sự nhanh chóng. Cốt làm sao tranh ảnh cho lạ, cho đẹp, bài vở cho có ý vị, truyện cho hay, khiến cho độc giả vui, thích, yêu.
Nhưng, một điều đáng để ý, là báo bên Pháp không những chỉ siêng về độc giả. Là vì báo bán ra lỗ vốn. Cho nên báo càng bán rẻ bao nhiêu, thì số tiền khác tiền bán báo lại càng phải tăng lên bấy nhiêu. Trước hết, ta phải kể đến quảng cáo. Nhưng nếu một tờ báo có những quảng cáo rất đắt tiền, tờ báo ấy tất đâm ra bênh vực cho hàng hóa của hãng nào đã cho quảng cáo. Không những chỉ có thế. Có khi báo còn nhận tiền phụ cấp của các đảng chính trị (như đảng Xã hội hoặc của một nhà giầu muốn gây thế lực (như François Coiij), hoặc của các hãng buôn to, của các nhà băng, của chính phủ, nhất là của các nhà đúc súng ống, của bọn đi lừa, của những người không muốn cho họ quảng cáo đến tên mình. Cho nên, nhiều khi không nói đến, một người nhà báo lại được nhiều tiên hơn là nói đến người đó.
Quay về bên nước nhà, ta nghiệm thấy một sự rõ ràng: là báo của ta không thể nào có nhiều độc giả được; không phải là ta thiếu tài, cũng không phải là vi thiếu vốn, nhưng là vì chưa có chế độ tự do ngôn luận. Nói về việc buôn bán, ra một tờ báo, nhất là một tờ báo hằng ngày cho ra vẻ, phải bỏ ra rất nhiều vốn (ba, bốn vạn bạc) đề mua máy in, để làm quảng cáo, để mướn người viết. Vạn nhất vài tháng sau, đương lúc báo bán chạy, có tin báo phải đình bản, thi lúc ấy biết ăn nói làm sao. Lúc đó ai chịu cho số tiền chưa thu lại được?
Ấy cũng là cái lẽ rất tầm thường ấy mà báo hằng ngày của ta không sao tiến bộ được. Vận mệnh báo bấp bênh, nên những ông chủ báơ họ không thể mướn những người có tài giúp sức được. Không có tờ báo nào dám trả một nhà viết báo là đến ba, bốn trăm bạc một tháng cả. Vì thế, nên trong báo giới mới ra có nhiều người ít học, không có nghề khác nên phải viết nhảm kiếm ăn. Nghề làm báo nước ta không được trọng vọng cũng vì lẽ đó./.


Hoàng Đạo

Đọc lại báo xưa (2)



MẤY BÀ QUẢN LÝ NHÀ BÁO TRONG NAM

Phóng sự ngắn của VĂN LANG
(Trung Bắc Tân văn - số 18, ngày 30/6/1940)
Hôm đầu năm nay nhân dịp Saigon cổ động cho tuần vào báo “Trung Bắc Chủ nhật”, tôi đuợc nhận thấy làng báo Nam có một cái ưu điểm, một cái đặc sắc mà làng báo Bắc ta đành phải chịu thua. Ấy là việc quản lý nhà báo phần nhiều ở trong tay đàn bà. Những người ở ngoài cuộc, thường không ngờ đâu rằng một cơ quan ngôn luận khi đã thiết lập ra rồi, muốn cho được phát đạt, vững bền, cả hai việc biên tập và quản lý cùng quan hệ sinh tử như nhau. Nếu tờ báo của ngài in đẹp tin nhanh, tô điểm trên mực đen giấy trắng toàn những ngòi bút cứng, bài văn hay, nhưng người làm quản lý không thạo nghề, không biết cách trông coi quán xuyến, cứ để tháng nào cũng lỗ vốn, thì tờ báo hay mấy cũng phải cụt vốn mang nợ mà chết. Hay là nhà báo các ngài có viên quản lý giỏi, có tiền bạc dồi dào, nhưng mà việc biên tập lôi thôi, để cho bài vở tầm thường, tin tức chậm trễ, thì tờ báo ấy chẳng ai buồn đọc, không lẽ các ngài cứ bỏ tiền ra in mãi để chất đống một xó rồi bán giấy nhật trình cũ tính theo ký lô? Cho nên biên tập và quản lý cùng quan hệ mật thiết đến sự còn mất, thịnk suy của nhà báo, không thể phân biệt khinh trọng được. Nhưng, theo sự kinh nghiệm nhà nghề của tôi mỗ việc kinh doanh ở đời nay, đồng tiền cũng cần dùng và có ý nghĩa trọng yếu trước hết nhất thiết. Người ta đã nói có tiền mua tiên cũng được. Nếu nhà báo các ngài có tay quản lý cho giỏi, để tài chính được hoàn toàn, dư dụ, thì có thể dùng những người viết khá mua những tin lạ bài hay, tưởng không khó gì. Bởi vậy, nếu đặt hai việc biên tập và quản lý lên trên đòn cân, tôi muốn cho việc sau được nặng hơn việc trước một tí. Vì tôi nhớ lại nông nỗi của nhiều nhà báo quá khứ có vốn liếng hẳn hoi, chỉ vì quản lý bất lực đến nỗi cạn cả tiền mua giấy hay là nhà văn lâm đến cái khắc đồng hồ của Rabelais, cần viết “bông” hỏi mượn ít nhiều mà viên quản lý trả lời không có; lúc ấy tôi tưởng ông thánh cũng quên ráo chữ nghĩa, và làm sao viết đưọc bài hay!
Trách nhiệm người quăn lý nhà báo rắc rối khó khăn biết bao; mà làng báo trong Nam phần nhiều lai là đàn bà trong vai tuồng ấy, làm công việc ấy giỏi hơn đàn ông, mới là đáng phục. Sự nghe biết của tôi nếu không sai lầm, thì báo giới quốc văn Nam kỳ có nữ quản lý đầu hết là bà Thạnh Thị Mậu tức bà hội đồng Nguyễn Kim Đính.
Từ 1923 đến 1920, ông Nguyễn Kim Đính xuất bản tờ Đông Pháp Thời Báo, chỉ đứng chủ về danh nghĩa và cầm đại cương thế thôi, còn việc chi xuất tiền bạc, trông nom thầy thợ nhà báo, nhà in, đều bởi một tay bà nữ quản lý Thạnh Thị Mậu.
Các ngài sẽ đi nhanh quá thời đại và xa hẳn sự thật, nếu các ngài vội tưởng tượng rằng bà nữ quản lý ngồi chễm chệ làm việc trên chiếc bàn kiểu thượng thư và trước mặt có điện thoại, bên cạnh có máy đánh chữ. Không, bà nữ quản lý Đông Pháp thời báo lúc bấy giờ đã có tuổi và thuộc về phái đàn bà xưa, cho nên chỗ làm việc và cách làm việc của bà cũng thế. Bà quản lý ta ngồi trên bộ ván, trước mặt có một ô trầu, một bình vôi, một chiếc hòm bỏ tiền làm bằng gỗ và đóng khóa đồng, như hòm tiền kiểu xưa. Một phái viên đi cổ động ở Lục tỉnh về nạp tiền, một nhà buôn đến trả tiền quảng cáo hay một độc giả tới đóng tiền mua báo đã có viên thư ký rồi đưa trình bà quản lý ta ký tên và nhận tiền. Tất cả chữ nghĩa của bà đã biết, chỉ gói lại có một chữ ký tên “Mậu” mà bà tập hết mấy hôm. Nhưng chữ tên ký ấy rất có quan hệ với nhà báo và có tín đụng từ một đồng cho đến hàng nghìn, hàng vạn. Tuy không biết chữ mặc lòng bà biết thưởng văn và rất chú ý đến nội dung tờ báo của bà thuở ấy chuyên trọng về nghị luận hơn là tin tức. Mỗi kỳ báo, viên thư ký phải đọc bài nghị luận cho bà nghe và bình phẫm hay dở.
Với chủ bút và trợ bút, bà lập lệ cứ mỗi một trăm tờ báo in tăng lên thì lương được gia thêm bao nhiêu. Tức thị hôm nào báo xuống, lương cũng phải xuống. Lúc Phan Chu Trinh tiên sinh ở bên Tây về, báo Đ.P.T.B được dịp xuất bản đến 13.000, lúc ấy bà trả tiền bộ biên tập có hơi xuýt xoa.
Tài nhất là với bà, nhà in không thể phao phí một tờ giấy, trẻ con bán báo không thể ăn gian xu nào, mà quảng cáo nào trả tiền hay chưa, bà đều ghi nhớ trong trí.
Kế đến bà Nguyễn Đức Nhuận, chủ báo Phụ nữ Tân văn cũng là một tay nữ quản lý nhà báo xuất sắc, còn thêm viết bài mỗi tuần và có ít nhiều sáng kiến hay trong việc cổ động. Có lẽ nhiều người còn nhớ báo này đã lập ra học bổng chu cấp được hai người học trò nghèo sang học bên Tây ba bốn năm, một người đỗ kỹ sư canh nông và một người đỗ cử nhân khoa học.
Cùng trong thời kỳ ấy, bà Trần Thiện Quý làm quản lý báo Trung Lập ra hàng ngày, cũng tỏ ra một người khéo nắm giữ mạng mạch một tờ báo lớn. Người ta thấy bà nữ quản lý này chẳng những trông coi công việc ở nhà báo mà thôi, bà đi tới các hãng tây để xin quảng cáo và lên xuống giao thiệp với nhà in tây là sự thường. Nhiều khi nhà báo cần gấp năm bảy trăm haỵ một nghìn để trang trải tiền giấy và tiền in, người ta tưởng đâu tình thế nguy ngập chỉ còn như sợi chỉ treo chuông, thế mà bà nữ quản lý khéo bôn tẩu cứu vãn được cả.
Tới bà Phan Văn Thiết, luôn trong bốn năm kế tiếp quản lý ba tờ tuần báo có tiếng: Việt dân, Thế giới Tân văn. Trong khi đức phu quân chỉ ngồi trên gác viết bài, bà nữ quản lý ở dưới tòa báo, làm việc sổ sách, thơ từ, bôn tẩu chi thu tiền bạc, mỗi ngày hai buổi, rất nhanh nhẹn và mẫn cán. Từ nhà buôn, bạn đọc cho tới đại lý, phái viên, nhất thiết giao dịch với bà quản lý, chớ không được gặp mặt ông chủ báo bao giờ. Mỗi tờ báo bà làm quản lý đều in từ 5000 đến 10.000 mỗi tuần, với số xuất bản như thế đã biết công việc của người quản lý không phải là chuyện thảnh thơi nhẹ nhàng vậy.
Cứ lấy riêng về phương diện nhà nghề mà nói, những ai biết tình hình báo giới Nam kỳ, đều phải ngợi khen bà Bút Trà, quản lý báo Saigon hiện giờ, là một tay có đảm lược nhất và khéo kinh doanh nhất. Thật thế, tờ báo Saigon hằng ngày xuất dầu lộ diện từ đầu năm 1933, với cái vốn đâu độ một vài nghìn, cho tới bây giờ nó đáng giá đến mười vạn và bao nhiêu máy móc, khí cụ nhà in, có thể nói là một tờ báo vào hàng to nhất, vững nhất ở thủ đô Nam kỳ, phải biết là tay bà nữ quản lý Bút Trà gây dựng, giữ gìn, phù đắp, mở mang hết thảy.
Ai tới thăm nhà báo Saigon, bà tiếp kiến và chuyện trò nói năng rất thạo. Ai tới để lời rao trong báo, chính bà định giá. Ai gọi điện thoại hỏi han việc gì, trong mười lần đến tám chín lần chắc chắn gặp bà ở đầu giây. Mỗi ngày có hằng trăm thơ từ gửi về nhà báo một mình bà mở xem trước hết rồi phân phát việc nào cho người chuyên trách ấy. Bà ký giao kèo với các công ty bán giấy. Nội nhà in cần dùng món gì hay thầy thợ muốn hỏi chuyện gì, cứ trực tiếp nơi bà. Tóm lại, bà chủ trương nhất thiết, quan xuyến nhất thiết. Có thể nói ở nhà báo Saigon, chính bà mới thật là tổng lý, lại kiêm luôn cả ba chức sự nội vụ tổng trưởng, tài chánh tổng trưởng và ngoại giao tổng trirởng; ông chủ báo Bút Trà chỉ như một vị công sứ hay đại sứ do bộ ngoại giao ủy đi giao thiệp ở bên ngoài. Cho đến việc biên tập, cách sắp đặt và các bài vở trong số báo mỗi ngày, bà cũng lưu ý kiểm soát được nữa mới tài.
Đêm nào cũng thế, trước khi báo sắp lên máy, thợ phải vỗ một bản đưa trình bà quản lý xem sự sắp đặt thế có được không, hay tin nào nên bỏ, lời rao nào còn thiếu. Những tân văn thời sự của thông tín viên các tỉnh gửi về, bà quản lý xem và quyết định cái nào đăng được cái nào không. Tin nào chưa được bà quản lý tiên kiểm, thì nhân viên trong bộ biên tập phải trình hỏi ý kiến.
Tôi được nghe một ông bạn đồng nghiệp trong Nam thuật lại rằng: trong khi đang ngồi đàm đạo với một bà quản lý, một ông trợ bút cầm đến hai giấy đưa bà xem và hỏi:
- Thưa chị, cái tin này chị có cho đăng không? Vì trong nhà báo này, nhân viên biên tập đều quý mến và kính nể bà quản lý, gọi bà bằng chị. Bà gọi trở lại bằng thầy hay bằng anh. Thường khi bà trao ý kiến này kia cho bộ biên tập viết bài không phải là sự lạ. Aí không biết thì thôi, ai biết cũng đều phải nhìn nhận rằng tờ Saigon có cơ sở và địa vị ngày nay là nhờ công của tài năng và sự làm việc rất mực chăm chỉ khôn khéo của bà quản lý nó vậy. Mấy năm đầu có đôi ba phen tài chính khủng hoảng mà nó xuýt ngã, đều nhờ một tay bà chống giữ lại, chuyển nguy ra an, đổi suy làm thịnh, đến giờ thì nó va như nằm trên nền sắt đá rồi.
Cảm tưởng của tôi?
Chắc hẳn chị em Bắc Hà ta phải chịu mình thua kém phụ nữ phương Nam về tài nghề kinh doanh một tờ báo. Làng báo ta ngoài này tuy cũng có một vài bạn phụ nữ đứng quản lý một vài tờ báo nhưng chỉ coi đại thể bề ngoài hoặc giúp việc toà soạn, thử hỏi đã có một bà nào, cô nào đảm đương nổi vận mạng lý tài của một nhà báo như mấy bà nữ quản lý kể chuyện trên chưa?


VĂN LANG


Đọc lại báo xưa (1)



ĐÀO TẠO NHÂN TÀI

Trung Bắc Chủ nhật
(Số 14, ngày 12/6/1940)
Đào tạo nhân tài là một vấn đề rất quan hệ cho một nước vì nhân tài bao giờ cũng là giường cột, nguyên khí của quốc gia, nhân tài tức là những người chỉ huy của quốc dân trên con đường tiến bộ. Ở xã hội Việt Nam ta từ xưa đến nay việc đào tạo nhân tài vẫn coi là một việc rất trọng đại, lúc nào nhà nước cũng cần phải lưu tâm đến. Về các tiên triều nước ta ngày xưa, việc đào tạo và lựa chọn nhân tài bằng các khoa thi Hương, thi Hội là việc mà triều đình và nhà Vua đời nào cũng săn sóc đến một cách đặc biệt. Kịp đến nhà Nguyễn, sau khi bình định được nước nhà thống nhất được giang sơn, nhà vua cũng nghĩ ngay đến việc đào tạo nhân tài và mở các khoa thi lựa chọn những người có đủ tư cách ra giúp vua trị nước. Cách tổ chức việc học chính của ta ngày xưa ở kinh đô thì có trường Quốc tử giám là cái lò đúc nhân tài khắp trong xứ còn ở các tỉnh thì có các trường Đốc học. Đứng đầu việc học trong nước ngày xưa có quan Tế tửu bao giờ cũng lựa chọn trong hàng các vị đại khoa, học vấn uyên thâm, tài năng lỗi lạc. Quan Tế  tửu có thể sánh với quan Thượng thư bộ Giáo dục ngày nay coi giữ cả việc học chính trong xứ lại kiêm cả chức đốc học trường Quốc Tử giám. Ngoài các trường của nhà vua lập ra thì việc học ở xứ ta ngày xưa rất tự do và lan khắp trong xứ vì thế mà theo chế độ của xứ ta không phân biệt giàu nghèo sang hèn, những kẻ có tài năng đều có thể từ một người học trò mà bước lên địa vị cao quí trong nước.
Từ khi nước Pháp sang bảo hộ xứ ta, người Pháp rất săn sóc đến việc mở mang học chính vì thế mà ngay trong thời kỳ chinh phục các quan binh Pháp cũng đã để ý lựa chọn những người thông minh mẫn cán để dạy dỗ và dùng làm người giúp việc mình trong công cuộc khai hóa xứ này.
Về việc dạy chữ Pháp lúc người Pháp mới sang xứ này chỉ có trường Thông ngôn là lớn và quan hệ nhất. Mãi đến năm 1907, trường Thông ngôn ở Hà Nội mới đổi làm trường Bảo hộ, một trường dạy đủ các lớp về ban cao đẳng tiểu học Pháp Việt, nơi đã đào tạo ra biết bao nhân tài khắp trong xứ. Ở Trung, Bắc kỳ này, trường bảo hộ là trường học lớn thứ nhất mở ra và tổ chức theo chế độ, qui củ của nền học chính ở Pháp.
Sau trường Bảo hộ ta mới thấy ở Huế có trường Quốc học, ở Hai Phòng, Nam Định rồi đến Vinh và Qui Nhơn và nhiều nơi khác đêu dần dần mở từ lớp một cho đến lúc thành một nhà trường cụ thể về ban Cao đẳng tiểu học Pháp Việt. Ngày nay thì trường Bảo hộ đã thành một trường trung học Pháp Việt chính thức của xứ Bắc kỳ, có đủ từ lớp đồng ấu cho đến các lớp thi tú tài cách tổ chức và chương trình dạy cũng chẳng khác gì các trường Trung học lớn của người Pháp ở xứ này và ở chánh quốc.
Từ hơn 30 năm đến nay và từ nay về sau, trường Trung học Bảo hộ bao giờ cũng là một nơi rèn đúc, gọt giũa cho các bậc thanh niên tuấn tú Việt Nam. Các cựu sinh viên trường Bảo hộ ngày nay biết bao nhiên người đã thành đạt trở nên những người ích lợi cho xã hội và nòi giống Việt Nam. Những ngôi nhà đồ sộ trên bờ hồ Tây, một thắng cảnh Hà thành có nhiều dấu vết về lịch sử của dân tộc Việt Nam thật đáng gọi là nơi đã đào tạo nhân tài cho nước nhà./.

T.B.C.N


Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Nghĩa vụ nhà làm báo




NGHĨA VỤ NHÀ LÀM BÁO

Các ông phải tự coi nh là nhà giáo dục. Giáo dục cho ai? Giáo dục cho khắp mọi người. Giáo dục cho cái luận trong nước nhờ các ông mà biết đường lối nên theo, biết công việc nên làm, biết cái tư tưởng nên nghiền ngẫm suy xét…
Cái trách nhiệm của các ông là phải điu hòa được mọi người, công cáo cho dư luận trong nước biết những vấn đề nên biết, những việc có th sảy ra sau này mà cần phải liệu trước, những sự biến cách tất có ngày sinh ra trong cuộc sinh hoạt. Nền xã hội một dân như dân xứ này, sống ở thời đại cả nhân loại đều biến động không th đứng im mãi như xưa được...
Một tờ báo! Một ngọn bút! Còn cái nguyên động lực nào mạnh bằng!
(Nhời diễn thuyết ca quan Toàn quyền Albert Sarraut).
Bài diễn thuyết ca quan Toàn quyền Xa lộ đại nhân  hội các báo quán Nam K ngày tháng mười trước, thực là cái khuôn vàng thước ngọc cho các nhà làm báo trong xứ này. K trước bn báo đã dịch toàn văn trong mục Thời đàm[1], định đến kỳ này gii kỹ những ý kiến hay, tư tưởng cao ca quan Toàn quyn, mà nhân bàn rộng đến cái nghĩa vụ nhà làm báo nước Nam ta ngày nay.
Quan Toàn quyn ngài binh sinh là một tay làm báo có tiếng bên quí    quc, nên ngài vn có cm tình riêng vi các nhà báo. Ngài yêu mến ngh báo vô cùng, yêu đến mê, đến sùng, coi là một ngh tuyệt phm đời. Sut bài diễn thuyết ca ngài tức là một bài ca ngợi khen công đc ngh làm báo. Vậy thì ngh báo có cái nghĩa thâm trm, cái thú cao thượng thế nào mà cảm đưc một bậc đại trí như thế?
Cái thú cao thượng, cái nghĩa thâm trầm ấy, ngài đã gii ra trong mấy nhi hùng hn như sau nấy. Ngài nói:
Một tờ báo! một ngọn bút! Còn cái nguyên động lực nào mạnh bằng! Người ta đời như đứng trong cái xưởng sinh hoạt nhn, nhân loại đương có công cùng sức mà tiến lên cõi Công lý là cái nơi ai ai cũng nhiệt  tâm mong mi cho tới đến được, như thế mà mình được đem dùng cái nguyên động lực kia đ giúp cho cái lòng hi vọng này, thi trần gian còn sự khoái lạc nào bằng. Trong khi nhân loại tiến lên như thế đ cu ly sự thực sự hay, thì những tư tưởng này, chủ nghĩa kia khơi lên bời bời, tranh nhau kịch liệt, mình đứng giữa mà biu dương ra cái lý tưởng nào là cái lý tưởng chân chinh, cái lý tưởng khá sáng tạo được những sự nghiệp hay, đem phô bày ra cho mọi người biết, đem ban bố trong công chúng, ly mà kích thích tinh thn người ta, chiếu diệu tâm trí người ta, tự coi mình như ngưi lính thi kèn đ truyn sự thực, báo tin lành, t coi minh như người quân tiên phong tay cầm đuc đ chiếu sáng vào trong đám người u âm su khổ, để soi đường cho cái Công lý nó sp đến; còn cái nhiệm vụ nào đẹp bng, còn cái phm giá nào cao bng, mà đáng cho một đời người nên tận tụy vì đây! Không những thế, trong cái công việc hằng ngày, trong sự chiến đu hằng gi, đề bênh cho cái lợi quyn người ta phạm hại, giữ cho cái tự do người ta giày xéo, biểu cái công đức người ta không biết đến, cáo nhng sự tệ lạm ca k gian phm, thiên hạ đu s hãi không ai m nói, mà một mình mình nói to lên cho ai ai cũng biết, mình là cái nhi ngôn luận tự do, mình là cái lương tâm không chịu khut nhục, đi với cái cưng quyn nó áp chế ngưi ta, đbênh vực cho kẻ công chúng, cho kè nghèo hèn, cho k bị áp ức khn kh, tựa hồ như mình là người võ sĩ ca cái Công lý, nghiễm nhiên là một cái quyền  thế đồi với cái quyn thế của kẻ có quyền, còn cái thiên chức nào hay bằng, qung đại bằng, tôi thử hỏi một đời người còn cái mục đích nào cao thượng bằng cái mục đích ấy nữa không?”.
 
Quan Toàn quyn đã cực tả cái thiên chc ca nhà làm bảo như thế thực là hết nhời hết ý, không còn th nào nói thêm cho bằng đưc nữa. C mày nhời y mà suy thì biết ngh bảo trọng là dường nào, mà cái thế  lực ca nhà báo mạnh biết bao nhiêu! Thế lực y đ chuyn dịch được lòng người, thay đi được cục diện, rèn đúc un nn được cái vật vô hinh vô trạng gọi là cái Dư luận vậy.
Bi đâu mà nhà báo có cái thế lực như thế? Bởi nhà báo vừa biểu được mà lại vừa gây nên mi luận trong một nước. Ai nói đến báo là nói đến dư luận, ai hi đến dư luận là tìm đến báo, báo với dư luận, dư luận với báo hai cái là ln lót, là hình nh cho nhau, hai cái là tinh thn hình thức của nhau vậy. Vậy thì dư luận là cái gi? Ly nhời gin dị mà gii thì dư luận là ý kiến chung của nhiu người, là cái tư tưng của công chúng. C ly ý kiên riêng của mỗi người thì dù hay dù phi đến đâu, cái hiệu lực cũng là có hạn mà thôi; họp ý kiến của nhiu người thì dù sai dù nhm đến đâu cái hiệu lực cũng có thể tăng đến vô cùng vậy. Chúng bao gi vẫn có thế mạnh, dù khi cuồng dại cũng là mạnh hơn cá nhân”. Bởi thế nên từ xưa đến nay các bậc đế vương mưu việc trị bình trong thiên hạ đều vụ ly được lòng dân làm ct nhất; được lòng dân tức là thu được cái thế mạnh ca công chúng. Xưa gọi lòng dân, tức nay gọi là luận”, ch khác xưa người dân còn thun phác, bng c cái đức hóa ca các bậc đế vương, ch biết đem tm lòng tin mà qui phục; nay dân trí đã mmang, biết ly ssuy nghĩ mà bàn xét những nhẽ phi chăng, điều lợi hại trong nhân đoàn. Nhưng dù là dân tâm, dù là “dư luận, tên có khác mà sự thực cũng là một, đu là chỉ cái sức mạnh vô hình của phn nhiu người trong một nước. Cái sức mạnh y xưa thuộc về tiêu cực, mà nay bởi nhẽ tiến hóa dn dn chuyn ra tích cực. n thuộc v tiêu cc thì phi tùy một bọn s ít có quyền ch trương đc trách, đã chuyn ra tích cực thì tất có tư cách suy xét mọi việc mà giám đồc được c cái phn s ít kia.
Bởi thế nên trong thời đại này cái thế lực ca dư luận đã bành trướng ra vô cùng, khiến cho có người đã gi là cái thời đại riêng của dư luận. Lắm nước như nưc Pháp nước Anh, dư luận thực là gi quyn chúa t trong nước, chi phi c mọi việc thuộc v chính trị, xã hội...
Nhưng cái sức mạnh như thế mà đ phó mặc cho một mình, không đoàn luyện, không t chc, không đặt cho có phương trâm, có định  hướng, thì chng qua cũng là cái sức hỗn độn, vô tri vô giác, thế sao mà giúp được cho cái trị thut trong nhân qun? Không những không giúp được mà có khi lại sinh ra nhưng s biến loạn, hại đến cuộc trị bình. Cái công đoàn luyện, t chc, đặt phương, định hướng cho dư luận y là thuộc v ai?
Tức là công ca các nhà báo vậy.
Ly cái sức ca dư luận mà rèn đúc cho dư luận, khiến cho không tản mạn đi mt mà thành một khi bền chặt, giúp được cho cuộc sinh  hoạt chung ca một dân một nước, đó là cái nhiệm vụ ti cao ca các nhà làm báo. Báo bởi dư luận mà thành ra, mi có sức biến hóa được dư luận: cho hay dư luận cũng như chơi kim cương, ch có mình mới giũa được mình vậy.
Nhthế thì báo vừa biu được luận mà lại vừa gây nên dư luận, cái thế lực trong một dân một nước lại chng to tát lắm sự? Bởi thế nên quan Toàn quyn nói ngọn bút t báo là hai cái nguyên động lực rt mạnh, khá ly mà biến hóa được các dân qun xã hội, không phải là nói quá vậy. Bởi thê nên ngài ly những nhi hùng tráng mà t cái khoái lạc tuyệt trn của con nhà làm báo trong những lúc đua tranh gắng gỏi, khi v vang, khi su kh, không phi là vẽ cho ta mơ màng một cái cnh bng tiên không thực vậy.
Cnh y qu có thực, nhưng ch riêng đ cho những người nhiệt thành v nghề báo, coi nghề báo là một thiên chức rt cao, mà tận tâm tận lực làm cho trọn cái thiên chức y.
y nghề báo có cái nghĩa cao, cái thú lạ, cái sức mạnh như thế. Vậy nên dùng thế nào cho phi đường, cho được thực ích lợi? Như xét riêng v nước ta thi nhà làm báo nước Nam ngày nay phi làm thế nào cho xứng đáng cái nghĩa vụ ca minh?
Quan Toàn quyn khuyên các nhà báo nên tự nhiệm cải trách giáo dục cho dư luận trong nước. Như trên kia đã nói cái thế lực cùa dư luận mạnh là dường nào, thì đủ biết công giáo dục y không phằi là không quan trọng. Nhưng nước ta xưa nay chưa từng có dư luận bao gi hoặc là cái dư luận chưa thành hình. Vậy ta phi gây lấy một nn dư luận trước đã. Việc đó không phi là việc dễ. Dân ta đương vào bui d dang, mới cũ giao nhau, khó lòng mà biết được cái ý kiến chung ca quc dân thế nào. Phàm những vn đề quan trọng ngày nay, thuộc v chính tr, giáo dục, kinh tế, xã hội, mi người xét ra một cách, mỗi người hiểu ra một đường, mà phn nhiều người thì hãy còn mang nhiên chưa gii đu đuôi ra làm sao. y là nói bọn thượng lưu trí lhức, không k nhng bậc trung lưu hạ lưu, cái trình độ lại còn kém nữa. Như thế mà mun hội ý kiến ca phần nhiều người đ gây thành một mi dư luận chung có thế lực trong nước, có th nh hưng đến các công việc nhớn đề khuynh hướng về một đường nào, thì thực là khó thay.
Tuy vậy nếu biết thi thố cho phi đường, cũng có thể thành được. Ct nht là nhà báo phi lập một cái chương trình phân minh, một cái ch nghĩa nht định, ri cứ thi hành cái công giáo dục theo một chương trình, một ch nghĩa y. Đương bui quc dân còn phân vân chưa biết theo đường nào là phi, ta nên suy xét trước sau mà quyết định ly một cái đường li chính đáng, cứ thế mà đi, không hề thay đi. Phàm lập ngôn khởi luận cũng c theo một đường y, khiến cho quc dân hằng phi chú ý vào đây, rồi tt có ngày khuynh hướng mà theo vào với ta. Như thế dn dn gây lên một cái t trào, trước nh sau nhớn, gm c những người cùng một ý kiến, cùng một tư tưởng như mình, tức là nhóm thành một nền dư luận về sau vậy. Đến khi cái dư luận y đã đ có thế lực thì by gi mới có th mong nh hưng đến cuộc sinh hoạt trong nước, mà giúp cho thực hành được những sự nghiệp hay.
Nhưng hiện nay dư luận chưa thành, trách nhiệm ca nhà làm báo lại càng trọng lắm nữa. Buổi này mới là bui nên hết sức thi hành cái công giáo dục như quan Toàn quyn đã khuyên bọn ta trong bài diễn  thuyết.
Dân An Nam ngày nay thực là đương gp một cái cnh ngộ đặc biệt. Vn là một dân c, từ xưa vẫn có một nn văn minh học thuật riêng, dù sinh trưởng phát đạt trong một cuộc lịch s my nghìn năm ; hốt nhiên phi ra đối đãi với một thế giới mới, xưa nay chưa từng biết bao gi, thành ra mang nhiên không hiu một tí gì, nht thiết phải học c, như người học trò mới vào trường. May nhờ có nhà nước Đại Pháp sang bo hộ, đã phá đường m li cho lúc ban đu, nên nay đã ràng rng biết một đôi chút. Nhưng chng qua cũng mới có một phn ít người là được hưởng cái công giáo hóa ca Nhà nước mà thôi. Còn phn nhiu người trong quôc dân, trinh độ hãy còn kém lm, chưa hiểu được chính sách của Nhà nước, chưa biết những việc ích lợi nhà nưc trù tính mưu toan cho xứ ta. Vậy thì cái nhiệm vụ tối thiết của các nhà báo là phải làm người đứng giữa mà giãi bày ban bố những mưu hay chước phải ca Nhà nước cho phn nhiu người y được biết, cùng thay mặt quc dân mà trinh bày cho Nhà nưc rõ cái chân tình trong nước và những điu snguyện của người dân. Nếu các nhà báo biết khéo điu hòa trên dưới mà làm trọn được cái nhiệm vụ y thì cái công giúp cho việc chính trị không phi là nhỏ vậy.
Các nhà báo không những là có th giúp cho việc chính trị ngay bây giờ, mà lại còn có th mđường cho việc chính trị v sau nữa. Bởi sao vậy? Quan Toàn quyn đã nói dân ta là một dân đương biến ci, mi ngày tt mỗi khác, mi ngày tt xut hiện ra những vn đ mi cn phải giải quyết cho xuôi. Nhưng nếu đợi cho đến khi những vn đề y đã xut hiện ra ri mới tìm đường gii quyết thì kịp sao được? Đã hay rằng cái trách nhiệm ca các nhà chính trị là phải dự liệu trước mọi việc, nhưng các nhà báo được trực tiếp với luận phi dọn đường mở lối sn thì nhà chính trị thi thố mới được ích lợi. Như thế thì cái công của các nhà báo đi với sự tương lai lại chng to tát lm ?
Nước Nam ta sau này hay hay d các nhà báo cúng có một phn vào đây. Nếu ta biết khéo dùng cái nguyên động lực rt mạnh là tờ báo ngọn bút kia, như nhời quan Toàn quyền nói, mà gây thành được một cái dư  luận sáng sut khôn ngoan, thông hiu tình thế, giúp được cho cái công chính trị giáo dục ca Nhà nưc, thì ta mới trọn nghĩa vụ đi với chính ph, đi với quc dân, và xứng đáng cái thiên chức nhà làm báo vậy./.

Thượng Chi




[1] Xem Nam Phong, s 5, trang 340 - 346.