1. Khái quát lịch sử vùng đất Nam Bộ từ đầu đến thế kỷ XVII
(1) Khái quát tự nhiên, lịch sử:
Chúng
ta biết 3 nền văn minh trên đất nước
Việt Nam là Văn Lang - Âu Lạc, Champa và Phù
Nam đều có cơ sở từ 3 nền văn hóa là Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo (đặc trưng vùng miền) - địa văn
hóa, thể hiện sự thống nhất trong dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết “trăm trứng”
ý chỉ sự phân bố bộ lạc, nói đúng hơn là hình thành “đồng bào” (tức cư dân ở
một cộng đồng lớn, xuất xứ từ bọc trăm trứng). Về văn hóa Sa Huỳnh - Óc Eo thì
có điểm giống là cùng là người Malayo – Polinesiens kết hợp với người Môn -
Khmer sáng lập; khác biệt là ở chỗ: Sa Huỳnh là phát triển không liên tục, đứt
đoạn; nổi lên vào thời sắt sớm và phát triển khá lâu; Óc Eo nổi lên thời sắt
muộn, nhưng phát triển cao, nhưng không lâu (văn minh Phù Nam). Dẫn đến Nam Bộ
sau khi Phù Nam bị đổ thì rơi vào tình trạng hoang hóa. Hiện nay Nam Bộ có 19
tỉnh thành, thời Pháp là 20 tỉnh (province).
Vương
quốc Chân Lạp ra đời ở vùng Hạ Lào (vùng sông Semun), cư dân Chân Lạp sống ở
ruộng cao, rẫy (người Chăm sống trên ruộng cao), là một trong khoảng 10 chư hầu
của Phù Nam với diện tích trải dài từ vùng Nam Bộ - Nam Trung Bộ của Việt Nam,
Campuchia, một phần đồng bằng sông Mê Nam và sông Chao Phraya (Thái Lan), Nam
Thái Lan và một phần Bắc Malaysia (3 bang phía bắc) - trung tâm là vùng Nam Bộ;
kinh đô là Angkor Borei (không phải là
Vyadhapura (thành phố của người đi săn) như Coedès đoán đâu). Kinh tế Phù
Nam là kinh tế biển (chịu ảnh hưởng Malayo -Polinesiens hơn tính bản địa), hiện
vật cụ thể là đồng tiền La Mã, khuyên tai hai đầu thú, thành cổ Óc Eo do
Malleret tìm ra năm 1944. Năm 627 – 649, Chân Lạp thôn tính Phù Nam; nhưng thôn
tính xong thì Chân lạp lại rút về vùng cao (vùng Biển Hồ - khai sinh bộ lạc
Cha) sinh sống vì họ không quen kinh tế biển, không biết canh tác ruộng thấp
(ruộng lầy lụt), cho nên Nam Bộ bị người Khmer bỏ hoang, kéo dài đến thế kỷ
XVII với lý do: dân số ít, sở trường canh tác ruộng trũng không có nên Chân Lạp
có xu hướng phát triển về phía Tây Nam.
Các
tài liệu như Phủ biên tạp lục, Gia Định
thành thông chí viết rất công phu về quá trình người dân mở đất ở Nam Bộ.
Đầu tiên là văn hóa Óc Eo với di tích Giồng Cá Vồ có các hiện vật thể hiện giao
thoa Sa Huỳnh - Óc Eo: khuyên tai hai đầu thú (thú - trâu), mộ chum. Nhờ khảo
cổ học của Malleret, người ta phát hiện kinh đô là Angkor Borei nằm ở phía tây
sông Hậu (tỉnh Kirivong, Campuchia) cách Châu Đốc 30 km về phía Tây Bắc. Kể từ
khi Phù Nam tan rã cho tới thế kỷ XVII, dấu ấn Khmer mờ nhạt trong khi Phù Nam
tăng cao. Tang ma – hôn nhân có tương đồng Champa và Óc Eo (vì cùng là ngữ hệ
Nam Đảo). Tượng Phật gỗ Buddhapad ở Phù Nam, làm theo phong cách Gandara (Ấn Độ
- Hy lạp). Cuốn Chân Lạp phong thổ ký của Châu Đạt Quan (thế kỷ XIV) vẽ lại chi
tiết hành trình của ông đến một số quốc gia ở Đông Nam Á (Chiêm Thành, Xiêm,
Angkor…), kể chi tiết về cư dân, đời sống và phong tục tập quán…
Địa
kinh tế: về tự nhiên thì Nam Bộ có hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (thời
Minh Mạng (1832) đã gọi Tây Nam Bộ là miền Tây), mốc là thành Phụng -
Gia Định là trị sở. Thời Minh Mạng là 6 tỉnh, Nam Bộ được gọi là Nam Kỳ; Pháp
thuộc là 20 tỉnh - hai thành phố lớn là Sài Gòn và Chợ Lớn - Nam Bộ; thời Nhật
chiếm đóng thì đổi lại là Nam Bộ; từ 1945 - 1975 phía Việt Nam Cộng hòa gọi là
Nam phần, gồm 27 tỉnh; phía cách mạng (Ủy ban hành chính Nam Bộ) thì lập thành
2 phân liên khu: miền Đông và miền Tây với 11 tỉnh.
Năm
1976 - 1977 có 13 tỉnh thành.
Năm
2004 có 19 tỉnh thành với vùng Đông Nam Bộ (5
tỉnh, một thành phố), Tây Nam Bộ (12
tỉnh, một thành phố).
Dân
số Nam Bộ theo thống kê năm 2011:
+
Đông Nam Bộ: 14.890.800 người
+
Tây Nam Bộ: 17.330.900 người
Tổng
cộng: 32.221.700 người
2. Khái quát lịch sử vùng đất Nam
Bộ từ thế kỷ XVII – thế kỷ XIX
a. Tiến trình lịch
sử:
Trước
khi người Việt vào khai phá, vùng đất Nam Bộ này từ lâu đã có người sinh sống,
chủ yếu là người Mon - Khmer, Malayo - Polinesiens (Nam Đảo) có gốc chính là
người bản địa Indonesiens. Chính các tộc người thuộc nhóm Môn - Khmer này
(Chăm, Edeh, Giarai, Raglai, K’ho) tiếp xúc văn hóa Ấn Độ. Tộc Chăm, Giarai,
Stieng, Mạ tiếp xúc văn hóa Ấn Độ và lập các vương quốc theo mô hình Ấn Độ:
Champa, Bà Lợi, Xích Thổ, Châu Mạ, Stieng (Thủy Xá - Hỏa Xá) nhưng mang tính
Indonesiens bản địa, vùng phân bố của họ kéo dài từ Đồng Nai - Sài Gòn - Vàm
Cỏ, kể cả người Khmer - họ rút về Tây Ninh; còn các tộc người như Raglai, K’ho
kháng cự tiếp xúc Ấn Độ thì rút lên Tây Nguyên, hình thành 5 dân tộc và giữ
được tính bản địa. Người Việt từ Thuận Hóa, phía Bắc và Nam - Ngãi theo đường
biển vào và họ chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, ruộng thấp. Ta lưu ý người Việt, Tày và
Mường thuở trước canh tác ruộng kiểu Nam Á: Việt khai phá ruộng thấp, trong khi
Tày và Mường khai khẩn, làm ruộng cao, ruộng bậc thang, dùng khoọn đưa
nước lên máng để dẫn nước về tưới ruộng. Từ ruộng khô thành ruộng bậc thang là
sự tiến bộ rõ rệt của con người, được một tạp chí của Mỹ khen là “hệ thống
ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới”.
Người
Chăm cũng làm ruộng cao như một số vùng ở Tây Nguyên và Tây Bắc, tôn giáo là
thờ Thần Lửa (biểu thị vũ trụ, sự sống - đặc trưng của người Chăm hải đảo), mái
thuyền kiểu Đông Sơn ở các đền tháp Champa.
Người
Việt cổ căn bản dùng lúa nước làm nghề nghiệp chính của mình; họ từ trung du
kéo xuống khai phá vùng đầm lầy phía thấp (đắp đất, tát nước…) để tạo thành
đồng bằng như hiện nay bằng việc chinh phục, cải tạo tự nhiên. Chữ Việt mô
phỏng theo công cụ lao động người Việt: có hai bộ là Rìu (tức công cụ lao động
để khai phá) và Mễ (ngũ cốc, canh tác lúa nước), khẳng định tính cần cù, chịu
thương chịu khó làm việc của người Việt. Họ đến khai khẩn Nam Bộ khi vùng này
bị Chân Lạp bỏ hoang hóa từ lâu.
Năm
1620, chúa Nguyễn là Sãi vương (còn gọi là Chúa Phật) con trai của Chúa Tiên
Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) gả công chúa Ngọc Vạn (là con nuôi của ông) cho vua
Chân Lạp Chey Chetta II ở Oudong. Ba
năm sau, Chúa Nguyễn xin Chân Lạp (thông qua Ngọc Vạn) cho lập hai đồn thu thuế
ở Prei Nokor (Gia Định) và Kas Krobey (Bến Nghé). Lý do để Chúa Nguyễn làm việc
này là do lúc này cư dân Việt sống rất no đủ và sầm uất nên cần thu thuế; tạo
điều kiện cho dân khai khẩn để biến nơi này thành căn cứ vững chắc chống lại
Chúa Trịnh ngoài Bắc.
Trong
thời gian này, người Việt tập trung khá đông (5 - 6 vạn người) với các thành
phần đến nơi này đa dạng, gồm:
-
Nông dân nghèo lưu trú.
- Lính
bỏ ngũ.
- Tù
nhân lưu đày.
- Người
mở rộng làm ăn (gọi là “người có vật lực”).
Phương
thức chủ yếu:
- Đi
lẻ tẻ. Họ đi chủ yếu là đường biển vì đường bộ hiểm trở (trộm cướp); đi biển để
tiện di chuyển, có thể dừng lại nghe tin tức
- Triều đình
chiêu mộ dân khai hoang.
Họ
đến trong khi nơi đây tồn tại dân bản địa rất ít; sống chủ yếu ở các vùng cao,
gò trũng ở Gò Công, Mỹ Tho, Trà Vinh, Sóc Trăng, Long Hồ. Khi người Việt đến,
người Việt sống hòa nhập với dân bản địa, học hỏi giao lưu văn hóa với bản địa
tạo thành một nền văn hóa bản địa đa dạng và đặc sắc.
Khi
họ đến, họ mang theo đời sống và tính cách rất phong phú
Đời
sống cư dân Nam Bộ khác Bắc Bộ nhiều:
-
Dễ thay đổi.
- Mở.
- Ven
sông.
Làng
Nam Bộ có đặc điểm:
-
Phân bố trên giồng đất cao với nhiều nước ngọt, gia súc; khai phá bằng phương
pháp móc lõm.
-
Hình thành tự phát, không bị ràng buộc và không quy chế (Bắc Bộ quy chế, hương
ước ngặt nghèo).
-
Không theo gia tộc lớn (không cùng dòng máu; Bắc Bộ là gia tộc lớn, có tính
cộng đồng mạnh, cư trú cố định trong làng; người ngoài thì bị bắt ra ở rìa
làng).
-
Có chế độ công điền, công thổ bền vững, chính quyền không xâm phạm được.
-
Nhà nước tổ chức làng Nam Bộ thành các phường, trại, nậu (thôn ở xa) là các hình
thức tổ chức chưa chặt chẽ. Vùng cao nhất ở thành phố Hồ Chí Minh là Gò Vấp
(tên gốc là Gò Vắp: do người dân lấy đất xung quanh đắp mà cao lên), Phú Nhuận
là kho để của ăn (Nhuận: kho của; Phú: giàu có).
Tính
cách cư dân Nam Bộ:
-
Cởi mở: phóng khoáng, không có quy định nghiêm ngặt.
-
Dễ dãi: ăn nói, ẩm thực, nhà ở.
-
Thoải mái: sinh hoạt, tín ngưỡng (ông đạo: đạo sờ, đạo khùng, đạo
điên, đạo dừa…); khác người, gàn dở.
-
Giàu tính mạo hiểm: đi phiêu lưu nơi xa, không ràng buộc (Phú Xuân cũng trải; Đồng Nai cũng từng).
Ở
vùng đất mới, Chúa Nguyễn thực thi một chính sách rất thoáng và cởi mở. Chúa
cho phép cư dân muốn khai thác đất đai, ruộng gò bao nhiêu tùy ý; khi người dân
khai phá xong thì phải báo cáo với chính quyền. Ngoài ra, Chúa cho lập 9 kho lương,
trại lính, lập thuế “biệt nạp” kêu gọi cư dân tùy số tài sản ít hay nhiều mà tự
nguyện nộp thuế; thóc thì dùng hộc và giạ đong cũng đủ. Chính sách của Chúa
Nguyễn là đúng đắn, hợp quy luật, thể hiện sự ứng xử độc đáo của ông với người
dân; tạo điều kiện cho cư dân, quan binh, người ô hợp về khai khẩn để khống chế
và xác lập chủ quyền.
Thời
trước thuộc Chân lạp, cư dân bản địa rất ít về số lượng, chỉ sống ở những ruộng
cao nhiều hơn ruộng trũng, thấp, tập trung nhiều ở Gò Công, Mỹ Tho, Trà Vinh,
Sóc Trăng, Long Hồ mà ở những vùng này, đất đai nhiều và bị hoang hóa. Đến thế
kỷ X - XVII, nhiều người dân phía Bắc vì trốn lính, binh dịch, tô thuế nên lưu
tán dần về phía Nam.
Năm
1658, chúa Nguyễn đánh Mô Xoài (Mỗi Xuy), bắt vua Chiêm xong rồi thả ra với điều
kiện phải dâng đất Mô Xoài cho chúa Nguyễn. Việc chúa Nguyễn đánh Mô Xoài là
hợp quy luật, là bắt buộc để cho người dân khai khẩn và mở rộng đất đai, tiến
tới xác lập chủ quyền (chiến tranh, dân số và tồn tại vương triều). Theo sự
điều động của chúa Nguyễn, lưu dân Việt (về sau có người Hoa) từ Mô Xoài di
chuyển xuống Bà Rịa, Đồng Nai (Bàn Lân, Bàn Gỗ, Cù Lao Rùa), Bến Nghé, lập tiền
trạm để tiến tới khai khẩn các vùng đất mới. Thế kỷ XVII, họ có mặt hầu
hết ở Đông Phố (Gia Định), Biên Hòa với 4 vạn hộ, khoảng 20 vạn nhân
khẩu.
Năm
1679 - 1680, người Hoa vào Nam Bộ. Họ vốn có gốc ở Quảng Tây - Quảng Đông
(Trung Quốc), làm nông nghiệp; vì phong trào “phản Thanh phục Minh” mà sang đây. Lúc đầu họ tính định cư ở Quảng
Nam nhưng bị Chúa ngăn cản, thế là họ rút vào Nam Bộ là nơi hiện đang có tranh
chấp với Champa, Chân lạp. Tại nơi đây, nhóm Dương Ngạn Địch - Trần Thượng
Xuyên với 3.000 người được Chúa chia vùng định cư: nhóm Dương Ngạn Địch
thì xuống vùng Mỹ Tho (Mỹ Tho đại phố; chợ Phố Lớn); còn nhóm Trần Thượng
Xuyên thì di chuyển lên vùng Lộc Dã (Đồng Nai) cao khoảng 200 - 300 m so
với mực nước biển, định cư ở Bàn Lân, xây dựng thương cảng Cù Lao phố sầm uất
một thời. Riêng nhóm Trần Thượng Xuyên thì về sau tách thành 2 nhóm nhỏ là
Thanh Hà (Biên Hòa) và Minh Hương (Sài Gòn - Bến Nghé); khu chợ Sài Gòn thời kỳ
đó gọi là Đông Phố, sông Sài Gòn thời đó (thế kỷ XVII - XVIII) gọi là Ngưu Chử
giang, về sau gọi là Bình Trị giang (gọi khác nữa là Tân Bình giang, do chảy
qua phủ Tân Bình - theo Gia Định thành thông chí). Cùng thời điểm với sự di cư
của nhóm Dương Ngạn Địch - Trần Thượng Xuyên vào Mỹ Tho và Biên Hòa; Mạc
Cửu người Quảng Đông vì chống Thanh nên phải chạy vào Chân Lạp, rồi xin làm
chức Ốc nha Sài Mạt cai quản vùng đất Mang Khảm gồm 7 phủ lớn (1680 - 1690), mở
sòng bạc và đánh thuế, chặn đánh thuyền Khmer - bị Khmer chống trả nên lánh nạn
sang Xiêm. Về sau, ông rút về Hà Tiên và mở rộng quyền thống trị từ suốt vùng Đông
Nam Chân lạp kéo dài qua Hà Tiên, xuống tuốt dưới Cà Mau; gồm 7 phủ lớn (tương
đương 7 sòng bạc lớn của ông ta). Năm 1708, Mạc Cửu dâng Hà Tiên cho chúa
Nguyễn; đến 1757 thì Hà Tiên nội thuộc chúa Nguyễn. Tuy nhiên vào năm 1772 -
1778, Cù Lao phố bị tàn phá (do vụ Lý Tài phản Tây Sơn, bị Nguyễn Nhạc phá
trụi), người Hoa Minh Hương rút về Chợ Lớn lập làng và dần sống hòa nhập với
người Việt. Cũng vào cuối thế kỷ XVII, người Chăm từ Lovek (Campuchia)
chuyển vào sinh sống ở Tây Ninh, Châu Đốc. Do từ xưa họ giỏi chiến trận nên
Chúa Nguyễn gọi họ là người Côn Man và dùng họ để trấn giữ biên cương phía Tây
Nam Tổ quốc.
+
Chính sách của chúa Nguyễn đối với người Hoa trong quản lý người Hoa thì nhẹ
nhàng nhưng cũng rất kiên quyết. Để ngăn chặn người Hoa có thể nổi loạn chống
lại chính quyền (người Hoa có bang hội mạnh), Chúa Nguyễn lập hai làng là Thanh
Hà và Minh Hương cho họ sinh sống; chặn đứng cuộc nổi loạn của Hoàng Tiến
(1680)... với mục đích cuối cùng là quản lý và ổn định đời sống người Hoa, tạo
điều kiện cho cư dân Việt di cư vào nhiều và đông hơn để kiềm chế, không cho
người Hoa hùng cứ, nổi loạn.
Do
chính sách này của chúa Nguyễn, lưu dân Việt di cư vào ngày càng nhiều và họ
dần trở thành chủ thể của vùng phương Nam rộng lớn này. Việc xác lập “chủ thể”
người Việt có từ năm 1623, khi chúa Nguyễn thiết lập 2 đồn thu thuế đầu tiên ở
Sài Gòn và Bến Nghé; trong thời gian này, người Việt có mặt khá đông (5 -
6 vạn người năm 1623; hơn 10 vạn người năm 1679), người Hoa lúc mới vào cũng
chỉ có 3.000 người mà thôi (năm 1679). Như vậy, đa số lấn át thiểu số, đa số là
chủ thể. Người Việt sống thành những cộng đồng đông và lớn, có tổ chức và luật
tục chặt chẽ, nên khó cho người Hoa xâm nhập vào. Ai đến trước thì hiển nhiên
là “chủ thể”, ai đến sau thì bị gọi là “Khách” và chịu những điều kiện rất khắc
nghiệt. Vì thế, quan điểm “người Hoa khai khẩn, chúa Nguyễn xác lập chủ quyền”
là sai, thực tê người Việt đã có mặt trước ở Nam Bộ từ lâu, trong khi đó đến
1679 người Hoa mới tới và phải chịu sự quản lý của người Việt.
Năm
1693, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh đánh Champa, bắt vua Chiêm là Bà Tranh và
đổi Champa thành Thuận Thành trấn. Người Chăm mất nước đã chạy loạn sang Chân
lạp, Malaysia cư trú; tiếp thu Hồi giáo. Nhóm Chăm ở Oudong thì bị vua Chân Lạp
theo Phật giáo bạc đãi, xung khắc Balamon Chăm với Phật giáo Chân Lạp, nên bị
vua Chân Lạp đánh đuổi về biên giới Việt - Miên, tập trung nhiều nhất ở Tây
Ninh, Châu Đốc. Chúa Nguyễn sử dụng họ và gọi là người Côn Man (vương triều
mạnh, giỏi thủy chiến), cho họ trấn giữ biên phía Tây Nam để bảo vệ đất đai của
người Việt.
Năm
1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào kinh lý Đông Phố. Tại đây, ông
lập hai huyện là Phước Long (Dinh Trấn Biên, Biên Hòa) và Tân Bình (dinh Phiên
Trấn, Gia Định); lập chính quyền mới: đầu là lưu thủ (quân sự), cai bộ (hành
chính) và ký lục (xét xử). Lúc này, người Việt tập trung khá đông: 20 vạn
người; sống dọc theo giồng cao và ven sông, người Hoa lúc này khoảng 4 vạn
người sống ở các khu làng ở Thanh Hà và Minh Hương. Đồng thời, Nguyễn Hữu
Cảnh kêu gọi lưu dân tiếp tục khai hoang, bản thân ông cũng khai hoang một số
và mất ở cù lao bên Bãi Xàu (sau là Cù Lao ông Chưởng). Sự kiện này đánh dấu
mốc chúa Nguyễn xác lập chủ quyền trên vùng đất Sài Gòn - Gia Định.
Năm
1708, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn.
Năm
1731, Sá Tốt của Chân Lạp nổi loạn, đánh đuổi vua Satha II tháo chạy về Hà
Tiên. Để giúp vua Chân Lạp, chúa Nguyễn cử Trương Phước Vĩnh đem quân đánh bại
Sá Tốt, đưa vua Chân Lạp trở lại ngôi. Để chuộc lỗi, vua Chân Lạp dâng hai xứ
là Méso (Mỹ Tho) và Longhor (Long Hồ) cho chúa Nguyễn. Chúa nhận đất, đổi thành
dinh Long Hồ và châu Định Viễn.
Năm
1755 - 1757 diễn ra sự kiện Tầm Phong Long. Năm 1755, thực hiện kế “tằm thực”
của Nguyễn Cư Trinh, chúa Nguyễn xúc tiến mở rộng chủ quyền ở các vùng đất cuối
cùng ở Nam Bộ. Ở Chân Lạp do có loạn, vua Nặc Nguyên chạy sang nương nhờ Mạc
Thiên Tứ ở Hà Tiên; chúa Nguyễn cử binh dẹp loạn, đưa vua Chân lạp trở lại
ngôi. Để đền ơn, Nặc Nguyên dâng đất Tầm Bồn và Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò
Công) để chuộc tội và bù vào thuế còn thiếu 3 năm. Năm 1756, Nặc Nguyên mất,
chú là Nhuận lên thay đã dâng hai phủ Ba Thắc và Trà Vinh lên Chúa Nguyễn để
được công nhận là vua, về sau ông này bị Hinh giết; nhưng do Chân lạp nội loạn
(phe Xiêm - phe Nguyễn) nên con của Nặc Nguyên là Nặc Tôn phải bỏ chạy sang
nương nhờ ở Hà Tiên. Sau khi được Chúa đưa về để lên ngôi vua, Nặc Tồn dâng đất
Tầm Phong Long (vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, nay là Sa Đéc và Châu Đốc) và 5
phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh cho Chúa Nguyễn.
Đến lúc này, công cuộc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở Nam Bộ hoàn tất về
căn bản.
b. Thực trạng phân bố dân cư, xã hội Nam Bộ
thế kỷ XVII - XVIII
Cho
đến khi Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở vùng đất Nam Bộ, phân bố dân cư khá ổn
định:
-
Người Việt: do số lượng đông đảo nên vùng phân bố rất rộng lớn. Có 3 vùng cư
dân Việt sinh sống:
+
Đông Phố (Biên Hòa, Gia Định).
+
Mỹ Tho.
+
Mang Khảm.
-
Người Chăm: đi theo hướng Tây Nguyên, Tây Nam Bộ sang Campuchia, bị xua đuổi
sang Châu Đốc.
-
Người Hoa: 1679 - 1680, thị tứ:
+
Nhóm Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến vào Mỹ Tho.
+
Trần Thượng Xuyên vào Bàn Lân (Biên Hòa).
+
Mạc Cửu: Hà Tiên.
-
Người Khmer: ở vùng cao và làm ruộng rẫy trên cao, ở Ba Thắc, Trà Vinh; sống
theo kiểu phum - sóc và rất nghèo.
Các
khu vực khai phá:
+
Mô Xoài - Bà Rịa - Biên Hòa - Bến Nghé, người Việt là chủ đạo, người Hoa ở Biên
Hòa rất ít ỏi. Lúc này Sài Gòn trở thành thương cảng là vì: (1) Đường vào cảng
thuận lợi, mấy cảng khác như Vàm Nao là cửa quá hẹp nên tàu khó vào; (2) Người
Minh Hương độc quyền cảng và (3) Hàng xuất khẩu đều là hàng rời.
+
Mỹ Tho - Long Hồ: là khu vực an ninh, có dinh Long Hồ lớn dùng làm nơi tập kết
lực lượng phản ứng nhanh, bảo vệ biên cương phía Nam Tổ quốc. Tiền Giang - Hậu
Giang là vùng chuyển quân lên Cao Miên. Vùng này đất đai màu mỡ, nhiều nước
ngọt.
+
Ba Giồng: là nơi người Việt và người Hoa từ Vũng Gù, Vàm Nao vào khai phá, lập
làng xóm sung túc. Chúa Nguyễn lập kho Cam Lạch để thu thuế (1741) và chuyên
chở lúa từ đây ra Phú Xuân, Trung Hoa để buôn bán. Năng suất lúa nơi đây đạt
loại cao nhất: 1 giạ = 300 giạ lúa; ở Pháp, Anh thì 1 giạ = 100 giạ lúa thôi.
+
Mang Khảm - Hà Tiên: có người Việt sinh sống (có nhiều ở Campuchia, Thái Lan).
Do họ Mạc cướp quyền buôn bán của người Khmer nên họ nổi loạn - dọa giết, ông
ta trốn sang Bangkok lánh nạn. Về sau rút về Hà Tiên rồi dâng vùng đất này cho
chúa Nguyễn.
+
Kinh tế:
Nông
nghiệp: trồng lúa và hoa màu trên 3 loại ruộng:
-
Ruộng cao (sơn điền): có nhiều ở Mô Xoài, Vàm Cỏ Đông, Bà Rịa, Long Hồ; gieo
lúa trên ruộng này phải vào trời mưa. Canh tác: chặt và đốt cây để làm rẫy, làm
xong 3 - 4 năm thì rút đi nơi khác.
-
Ruộng trũng (thảo điền): tập trung đông dân Việt ở Gia Định, sông Tiền, Bến
Tre, Long Hồ và Mỹ Tho, Sóc Trăng, Rạch Giá, Cà Mau; canh tác trên ruộng ít lầy
lội, dùng trâu khỏe để cày cấy.
-
Ruộng sâu (trũng nhiều): dùng sức người là chính. Phảng là sự sáng tạo của
người khai phá (kết hợp giữa phảng cỏ của Khmer và rựa của Ngũ Quảng để khai
thác, vỡ hoang và đắp bờ để cấy.
Ruộng
thảo điền được chú trọng; ngoài ra họ cầy cấy lúa theo ruộng thụt (2 - 3 năm),
phạt cỏ giúp đất đai tơi xốp và màu mỡ, ra lúa có năng suất cao.
Lúa
có hai loại: lúa canh và lúa thuật
+
Lúa canh: không dẻo, hạt nhỏ, mềm và thơm.
+
Lúa thuật: dẻo, hạt tròn và lớn.
Ngoài
ra, người Nam Bộ còn sáng tạo nhiều loại lúa khác như lúa bắt chim, lúa cà nhe,
lúa trò cau, lúa Tàu, lúa nếp (nếp than, nếp cẩm), lúa Chiêm và lúa trảng cao
(trồng ở ruộng trũng). Do có nhiều sáng tạo trong kỹ thuật, lúa được gặt hái
tốt nên số vụ lúa tăng lên nhiều, lúa đủ dùng trong ngày. Lúc trước, lúa cày 1
vụ, về sau tăng lên 2 - 3 vụ/năm; nhìn chung có hai vụ chính:
+
Vụ mùa (vụ chính): thu hoạch bông lúa chưa chính tới, nhưng năng suất lại cao.
Lúc đó, người ta dùng lúa làm bánh cho các lễ hội Ok Om Bok (Khmer, mừng lúa
mới).
+
Vụ chiêm (vụ phụ): thu hoạch chủ yếu là lúa chiêm (khó nấu thành gạo), lúa nếp
hương (có hoa vàng rất thơm, ăn rất ngon). Các loại lúa này khi thu hoạch đều
cho năng suất cao: 1 hộc giống gieo vào ruộng thì thu được 300 hộc lúa; Pháp
thì 1 hộc thu được 6 hộc lúa, Mỹ thì 1 hộc thu được 3 hộc lúa.
Nam
Bộ đã trở thành vựa lúa lớn của thế giới hồi đó. Về canh tác, người ta căn cứ
theo thời vụ và thời tiết để chọn giống thích hợp cho canh tác. Nhìn chung thì
như sau:
Gieo
mạ (sạ)
|
Cấy
|
Gặt
|
|
Ruộng
sớm
|
tháng
4
|
tháng
6
|
tháng
10
|
Ruộng
muộn
|
tháng
5
|
tháng
7
|
tháng
11
|
Các hình thức
người Nam Bộ canh tác ruộng lúa:
+
Đào kênh mương: để thau chua, rửa mặn và tạo nước ngọt, đưa nó về ưới ruộng lúa
+
Bừa: cày đất bùn (có nước làm xốp, tạo thành bùn lỏng) thành những rãnh nhỏ để
gieo mạ.
+
Cấy: cầm mạ (mạ: bó lúa nhỏ, xén phía đầu để cây dễ mọc lên) cắm vào những lỗ
được người nông dân chọn sẵn (lỗ được đục bằng ngón tay), cắm thẳng hàng khi
ruộng sấp nước (10 - 15 cm nước) và cắm mạ vào bằng hai ngón tay.
Ngoài
lúa, người dân Nam Bộ còn canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau, tiêu biểu là
cau. Câu “nhất thóc nhì cau” đã chứng minh điều này. Cau là mặt hàng bán rất
chạy ở những nơi có đông người Hoa cư trú; cau dùng làm nước uống.
Thủ
công nghiệp: bắt đầu có sự phân công lao động, chuyên
môn hóa sản xuất dẫn đến xuất hiện nhiều ngành nghề mới. Triều đình lập ra 62
ty, công tượng để sản xuất. Các làng Nam Bộ lúc này đã trải dọc theo các kênh,
mương để phù hợp với sự biến đổi mới. Trong làng xã, phương pháp móc lõm được
áp dụng ngay trên các giồng đất cao (đắp đất, chia ruộng thành nhiều khoảnh
khác nhau), do đó đất đai ngày càng mở rộng ra nhiều hơn (dân cư dùng năng lực
ít, công cụ thô sơ để cải tạo triệt để). Đất đai màu mỡ, kỹ thuật canh tác
phong phú và linh hoạt nên tạo ra nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng; nhiều
loại hàng hóa đã được đưa ra để trao đổi và buôn bán. Tùy theo thời tiết và mùa
vụ mà người ta bán được hay không bán được; sản phẩm họ làm ra không chỉ dùng
để ăn - uống và sinh hoạt, mà còn dùng để buôn bán. Nắm bắt được sự phát triển
này, Chúa Nguyễn tìm cách lôi kéo cư dân nơi khác về đây lập nghiệp. Kết quả,
Gia Định trở thành vựa lúa lớn của triều đình Phú Xuân (đủ ăn cho hàng vạn
lính). Thương lái từ Ngũ Quảng đưa nhiều sản phẩm, trong đó có vải Thanh
Hà về Gia Định trao đổi buôn bán.
Nhiều
thị tứ xuất hiện (chợ búa, cảng thị). Bãi Xàu là thương cảng lớn nhất. 1772 - 1778
sau khi Cù Lao phố bị sụp đổ thì Sài Gòn đã trở thành thương cảng lớn nhất của
Đàng Trong và phát triển thịnh vượng. Trong lịch sử phát triển cuả thế giới đã
từng có thành thị. Ở phương Tây, thành thị là nơi tập trung cư dân, nơi buôn
bán; thành thị phương Đông là trung tâm chính tri, quân sự quan trọng; “Châu
Thành” là ví dụ cụ thể (10 tỉnh có huyện Châu Thành). “Châu Thành” là vành đai
nông nghiệp bao quanh thành phố, cung cấp nhân vật lực cho thành phố.
Đến
cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh cho phép những người “có vật lực” được huy động
tội phạm, binh lính Nguyễn đi thành lập các đồn điền. Mục đích của
thành lâp đồn điền là khuyến khích khai hoang, an ninh, tạo
nguồn cung cấp lương thực cho lính đồn trú, tội nhân được đưa vào Nam Bộ khai
hoang. Ngoài ra, ông cũng lập 9 kho trữ lương thực để cung cấp lương thực cho
vùng Thuận Hóa, cung cấp nguồn dự trữ quân sự. Việc thành lập đồn điền vào
cuối thế kỷ XVIII đã củng cố chủ quyền của người Việt, xác lập sở hữu lớn về
ruộng đất và thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thời Nguyễn Phúc Ánh, ông
cho xây dựng thành Bát Quái là trung tâm lớn của Nam Bộ và đô thị cảng Sài Gòn
trở thành trung tâm buôn bán tấp nập trong thời gian này. Sài Gòn - Gia Định đã
trở thành thương cảng lớn, là nơi tập trung đông cư dân, nhất là người Hoa –
chuyên về hoạt động thương mại vì lý do:
+
Thương càng Sài Gòn là cảng tốt, đường vào cảng sâu gần 15 m (tàu bè ra vào
được) nhưng dân cư không động nên nhường vị trí này lại cho cảng Cù Lao phố.
Trong thời gian đó, Sài Gòn chưa có chợ có quy mô lớn mà chỉ có vài chợ nhỏ như
chợ Nguyễn Thực, chợ Điều Khiển do người Việt lập ra. Khi người Hoa vào, họ mở
rộng và nâng cấp chợ lớn dần lên: Chợ Bến Thành (1778)
Cảng
Bãi Xàu ở Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) là nơi tập trung nhiều thương lái người Hoa buôn
bán sang nước ngoài. Ngay tận Ba Thắc có nguyên đội tàu người Hoa kinh doanh;
khi nước lên cao thi xuất cảng đi buôn bán ở bên ngoài. Cảng Mang Khảm (Hà
Tiên) được người Hoa di cư vào và thành lập ra phố chợ (phố lớn) để xuất khẩu
nông sản (thốt nốt, tiêu…) vào Chân lạp. Ở Mang Khảm, người Hoa lập nhiều kho
hàng; lúa gạo từ sông Tiền, sông Hậu đổ vào cảng thông qua hệ thống kênh rạch
chằng chịt.
-
Đô thị cảng về mặt địa lý thì nó sát và gần với hệ thống kênh rạch (hậu phương
của cảng) là nguồn nguyên liệu cung cấp cho mọi hoạt động của thương mại có yếu
tố của kinh tế hàng hóa. Cảng phát triển được do ảnh hưởng của văn minh sông
nước (yếu tố biển – Phù Nam). Thời Nguyễn Ánh, ở đầu rạch Thị Nghè người
ra lập một xưởng đóng tàu lớn xuất đi khắp nơi (cảng Ba Son, lập tháng 4/1863
tại nơi đó). Ông ta thuê kỹ sư hải quân Pháp, Bồ Đào Nha đóng tàu và nhờ đó đã
đánh bại được Tây Sơn. Tây Sơn chiếm Gia Định, nhưng không giải quyết được vấn
đề Gia Định nên bị sụp đổ. Nguyễn Ánh có chính sách rộng mở, đáp ứng yêu cầu
của nền kinh tế hàng hóa; nhưng khi lên ngôi thì ông ta dè dặt, “Bế quan tỏa
cảng”.
Phương
thức khai thác: từ thế kỷ XVII - 1790 thì có 2 phương thức canh tác
+
Quy mô nhỏ: dùng quảng canh và thâm canh. Do quy mô không lớn, đất không sâu
nên ít đầu tư về vốn và kỹ thuật - chưa biết nhiều về nông nghiệp. Dân Bắc -
Trung là bậc thầy về thâm canh nên đầu tư vào có năng suất cao. Theo Lê Quý
Đôn, những người khai thác đất đai theo quy mô nhỏ thường bắt dân tộc thiểu số
làm nô lệ.
+
Quy mô lớn: thuộc về “người có vật lực” (có 50 - 60 điền nô, 300 - 400 trâu
bò), gắn bó với nghề nông và dùng quảng canh thay cho thâm canh, phương thức
này kéo dài đến thời Pháp thuộc. Ở Gia Định, kinh tế phát triển sớm do sở hữu
lớn về ruộng đất cao, có toàn quyền thuê nhân công về làm việc và buôn bán sản
phẩm. Khi xuất hiện các cảng thị thì hoạt động kinh tế được đẩy mạnh; hình
thành đội thủy binh mạnh để chống lại Tây Sơn. Ở Gia Định, buôn bán hai chiều
tăng mạnh - nhất là lúa gạo (1 quan = 10 tiền (tương đương 4 đấu gạo). Nhà nước
thu thuế thương phẩm.
Về
thương mại, xuất hiện nhiều cảng thị lớn mà nổi bật
là cảng Sài Gòn. Sài Gòn là thương cảng tự nhiên với các sông lớn điều hòa
thuyền bè, là nơi tập trung lúa gạo ngày một đông để xuất đi, tạo mối liên kết
và giao lưu sông rạch. Thông qua hệ thống giang cảng Sài Gòn - Chợ
Lớn, Sài Gòn có ưu thế gắn với hệ thống các chợ, có kho cất giữ và thu gom
lúa gạo đi khắp Nam Bộ.
3. Khái quát lịch
sử vùng đất Nam Bộ thời Nguyễn
Thời
kỳ này, Gia Long đã xác lập vững chắc chính quyền và tiếp tục khai phá Nam Bộ
trên cơ sở các Chúa Nguyễn đạt được trong thế kỷ XVII - XVIII. Các vua Nguyễn
củng cố quân điền, cho dân tự do khai phá Nam Bộ và trợ cấp cho họ dễ khai phá
(25 sắc lệnh trừng phạt quan lại, tạo điều kiện cho dân mở đất). Tùy theo diện
tích khai hoang, quan mộ nhiều dân khai phá thì được thưởng, quan tham nhũng và
hối lộ thì bị trừng phạt nặng. Để khai khẩn, vua cho đào kênh Thoại Hà
(1818, từ Long Xuyên đến Rạch Giá), kênh Vĩnh Tế (1819 - 1821, từ Châu Đốc đến
Rạch Giang - Hà Tiên). Với mục đích:
-
Mở mang đất đai để khai thác, phát triển về sản xuất lương thực và thu tô thuế.
-
Đảm bảo an ninh quốc phòng; nhất là biên giới phía Tây. Đào kênh và lập đồn
điền giúp triều đình kiểm soát, khống chế và đề phòng sự xâm nhập từ bên ngoài
và sự chống đối của dân địa phương.
-
Phát triển địa chủ, tạo chỗ dựa cho vua Nguyễn ở Nam Bộ.Quản lý hành chính:
theo mô hình Thuận Hóa. Mang Khảm đổi thành trấn Hà Tiên; Phiên Trấn - Trấn
Biên là địa điểm quan trọng vì gắn với người Hoa Minh Hương dựng nghiệp ở miền
Nam đã lâu. 3 người Hoa Minh Hương nổi tiếng là Ngô Nhân Tịnh, Trịnh Hoài Đức
và Phan Thanh Giản. Năm 1836, vua Nguyễn cho thành lập các đạo (tương đương cấp
quận - mang tính quân sự), gắn với đồn điền và lương thảo. Các đạo lớn lúc đó
là Châu Đốc, Tân Châu, Trường Đồn.
Năm
1831 - 1832, Minh Mạng lập “dinh điền” để tập trung sở hữu lớn về ruộng đất
(không công điền). Dinh điền là vùng đất có dân cư hòa nhập sau, mục đích chính
là khai hoang mở đất. Thời các vua Gia Long và Minh Mạng, triều đình quan tâm
hệ thống thủy lợi (đào kênh ở những ví trí quan trọng), giúp tàu bè xuôi ngược
nhộn nhịp. Đóng góp của nhà Nguyễn chính là sự nỗ lực của nhân dân, cùng với
tài “kinh bang tế thế” của Nguyễn Văn Thoại, Lê Văn Duyệt. Khi Pháp xâm lược
Nam Kỳ, chúng thấy địa bạ của vua năm 1836 là chính xác, nhất là những vùng có
vị trí đặc biệt như An Giang, Châu Đốc; đơn vị hành chính lớn nhất là tỉnh An -
Hà. Nhà nước chia thành nhiều tỉnh, đây là cách tập trung cao độ quyền
lực. Dân số sau năm 1883 là 1.020.000 người; trong đó Việt: hơn 1 triệu;
Hoa: 62.000 người; Khmer: 162.000 người; Pháp: 600 người; phương thức canh tác
của người Việt chủ yếu ảnh hưởng của Khmer.
Cơ
sở pháp lý: Hiệp ước 1845 - 1849 thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Đại Nam; Hiệp
ước 1862 nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Việc bày Chân lạp không phản
đối gì.
4. Khái quát lịch
sử vùng đất Nam Bộ thời Pháp thuộc
Mục
tiêu chính sách và biện pháp khai thác của Pháp có điểm khác biệt so với thời
Nguyễn. Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp từ tuyên bố của De Lagrandière năm 1867,
Hiệp ước Sài Gòn 1874 khẳng định lại tuyên bố năm 1867. Cùng với việc xác lập
bộ máy chính quyền thực dân (từ 1862 là thời quân sự; 1879 là dân sự), Pháp
thiết lập ở Nam Kỳ chế độ trực trị vì nơi đây là thuộc địa giàu có, điều kiện
tự nhiên phong phú. Người Pháp khai thác tối đa những điều kiện tự nhiên để
phục vụ cho chiến tranh; sau kế hoạch Doumer 1897 thì Nam Kỳ trở thành nơi phục
vụ cho cuộc khai thác thuộc địa của chúng (1897 - 1914); (1917 - 1929).
Thời
gian đầu ở Nam Kỳ, người Pháp thực hiện Kế hoạch Leroy - Beaulieu,
tổ chức bán đấu giá đất cho người khai phá; tổ chức khai thác thuộc địa với tư
cách Nam Kỳ là thuộc địa nông nghiệp có sự phát triển thuận lợi của ruộng đất,
kênh rạch và sông ngòi. Mục đích: khai thác tối đa kinh tế vùng đồng bằng
sông Cửu Long, mở cửa thị trường tư bản chủ nghĩa để xuất khẩu lúa
gạo như là điều kiện để tồn tại, bù đắp chiến phí và tiếp tục chinh phục nốt
các vùng đất còn lại ở miền Nam.
Cùng
với việc ký kết hiệp ước Harmand, Pathenotre và thành lập Liên bang Đông Dương
năm 1887, việc mở rộng xuất khẩu gạo, nông sản và hàng hóa ở Nam Kỳ đã có ảnh
hưởng sâu sắc đến hoạt động khẩn hoang, khai phá vùng đất Nam Bộ của Pháp. Việc
tư bản Pháp tổ chức các đồn điền lớn đã kéo theo sự thành lập, tồn tại song
song hai loại đồn điền: đồn điền trồng lúa và đồn điền cao su - nét mới trong
khai phá Nam Bộ của Pháp. Để thực hiện, Pháp có các biện pháp sau:
+
Phát triển giao thông thủy ở bờ Nam Sông Hậu. Pháp cho đào 5 kênh lớn: kênh Hà
Tiên (Hà Tiên - Châu Đốc); kênh Rạch Giá (Rạch Giá - Long Xuyên); kênh Xà No
(Cần Thơ - sông Cái Lớn), kênh Bạc Liêu - Cà Mau nối với rạch An Xuyên; kênh
Bãi Xàu - sông Hậu. Những việc đó làm hình thành hệ thống kênh nối với các sông
lớn. Vào năm 1890 thì chính quyền Pháp ở Nam Kỳ tiếp tục mở rộng các kênh
như kênh Rạch Giá, kênh Hà Tiên, khai thông kênh Cần Thơ - Sóc Trăng,
kênh Sa Đéc - Trà Vinh.
+
Tổ chức nạo vét, mở rộng các kênh rạch tại khu vực giữa sông Tiền - sông Hậu
như: rạch Vàm Nao, rạch Cái Tài Thượng, rạch Lấp Vò (sông Tiền - Sa Đéc), rạch
Măng Thít (Rạch Giá - Cà Mau). Phía trên sông Tiền, Pháp mở rộng kênh Bảo Định
nối Mỹ Tho với Vàm Cỏ Tây, nối với Vàm Cỏ Đông qua rạch Bo Bo, nối với Sài Gòn -
Chợ Lớn qua rạch Bến Lức; kênh Duperré nối Mỹ Tho ngang qua Chợ Gạo tới Vàm Cỏ
Đông, thông với Sài Gòn qua kênh Rạch Cát.
Thông
qua hệ thống kênh nối với các sông lớn, lúa gạo được vận chuyển vào giang cảng
Chợ Lớn, qua các kho bãi Bến Nghé, kênh Tàu Hủ để vào cảng Sài Gòn, làm hình
thành hệ thống giao thông liên hoàn. Ở Sài Gòn, Pháp cho xây dựng nhà máy xay
gạo đầu tiên; khơi thông ngoại thương; lợi dụng sự thuận lợi của dòng chảy như
mắc cửi của hệ thống kênh đào Nam Kỳ để phát triển vùng đất này. Ngoài hệ thống
kênh đào, Pháp cho phát triển đường sắt, đường bộ. Người Pháp mở 3.000 km đường
bộ với các tuyến chính: Sài Gòn - Mỹ Tho; Sài Gòn - Biên Hòa, Thủ Dầu Một; Sài
Gòn - Tây Ninh, Tân An - Gò Công; Gò Công - Mỹ Tho; Mỹ Tho - Vĩnh Long; Trà Vinh
- Tiểu Cần; Bạc Liêu - Sóc Trăng - Cần Thơ - Long Xuyên.
-
Tăng cường nhân lực trong khai thác thuộc địa, người Pháp thất bại. Ở Sài Gòn
vào năm 1937 thì chỉ có 12.245 thương gia, 705 viên chức Pháp cư trú ở
thành phố này, cho nên không thu hút được người Pháp vào khai phá thuộc địa Nam
Kỳ. Kế hoạch đưa 1 triệu dân vào khai phá cũng tỏ ra không hiệu quả. Ở Cần Thơ
chỉ có 350 người đến (phần lớn do Pháp dụ dỗ mà đến), không thạo nghề nông và
không biết làm ruộng. 23.000 người Việt mà Pháp đưa đến cũng không thạo nghề
nông (quen sống ở đô thị) đây cũng là thất bại. Về thành phần người được Pháp
chiêu mộ, chỉ có người Việt là Pháp làm được, người Hoa thì không. Sở dĩ Pháp
không dụ được người Hoa là vì sợ khi dùng họ, họ sẽ lấn quyền, lấn át quyền lợi
của người Pháp Đông Dương. Người Pháp vốn không thích người Hoa vì sợ họ lập
bang hội, có võ nghệ và hay dính dáng đến chính trị. Người Hoa rất gian trong
trốn thuế, hàng giả và ăn ở mất vệ sinh, hay giấu nghề. Người Hoa không thích
nông nghiệp (nông nghiệp sản xuất đủ dùng) mà chỉ chú trọng đến buôn bán, lừa
đảo (dùng “chành” gạt một ít sản phẩm ra thì đủ). Do vậy, trở ngại lớn nhất của
Pháp là không tìm được nhân công. Mặc dù chính quyền Pháp hết sức ưu ái nhưng
không ai tới khai phá, đành phải dùng người Việt tại chỗ để khai thác.
Phương thức khai thác Nam Kỳ của Pháp:
-
Dùng tư bản người Pháp như một lực lượng đóng vai trò chủ yếu trong khai thác
Nam Bộ. Trong thời kỳ đầu (1897 - 1914) - khai thác thuộc địa lần thứ nhất, do
bản thân nhà nước Pháp là “đế quốc cho vay lãi” nên rất keo kiệt; đưa vốn ra
thì ít mà lại muốn thu lợi nhuận thật nhiều. Vào nửa cuối thế kỷ XIX khi mà
Pháp chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, chính quyền xuất 60 tỉ franc đầu
tư ra nước ngoài mà trong đó: 30 tỷ cho Nga; 26 - 27 tỷ là cho các nước châu Á
(nhất là Trung Đông), 2 - 3 tỷ còn lại là cho các thuộc địa. Theo kế hoạch
Doumer năm 1897, Pháp chỉ đầu tư vào Việt Nam là 300 triệu franc, một số rất ít
ỏi so với đầu tư ở các nước khác. Riêng vùng Nam Bộ là vùng chúng đang khai
thác, Pháp có thể đã đầu tư vào đó gần 200 triệu franc để khai thác. Tuy nhiên,
do có thể không biết chi tiêu hay do sợ mất số tiền khá lớn này (sợ lỗ nhiều
hơn lời), người Pháp rất ngại không muốn đầu tư nhiều vào Nam Bộ - vùng đất
giàu tiềm năng nhất. Ngoài ra, việc thuê nhân công vào cũng làm Pháp tốn rất
nhiều tiền; cho nên Pháp đã không dám tổ chức khai hoang, không muốn mộ dân đi
khai hoang Nam Bộ. Mục đích cuối cùng là Pháp chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà
thôi - đầu tư ít nhưng muốn có lợi nhiều. Trong thời gian này, do nhà nước đầu
tư còn hạn chế nên việc khai phá Nam Bộ diễn ra chậm chạp. Các kế hoạch bán đất
không giới hạn mặc dù đã được đưa ra để tạo điều kiện cho tư nhân Pháp đầu tư
vào để tăng ngân sách, nhưng thực hiện khá chậm chạp, cho nên kết quả quan
trọng là hình thành tầng lớp đại điền chủ người Việt, có sở
hữu lớn về ruộng đất nhưng không biết làm nông, không giúp hiệu quả gì trong
khai thác. Do cơ chế khai thác tự do nên Nam Bộ là vùng đất Pháp trực tiếp khai
khẩn. Các nghị định 1913, 1926 của các Toàn quyền Sarraut và Robin cho phép bán
đấu giá đất đai bị hoang hóa. Đất khi bán đấu giá là trên 10 ha và không hạn
định số lượng bán. Đất đai được phép buôn bán, kinh doanh với điều kiện phải
khai khẩn, nộp thuế.
-
Đầu tư hạ tầng: đường bộ, đường sắt và kênh rạch. Pháp giao đất cho dân ta khai
thác, tạo sở hữu lớn về ruộng đất, tạo năng suất để xuất khẩu lúa gạo.
Từ
cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, Pháp đưa 4 tỷ franc vào và đầu tư có
chiều sâu. Pháp đầu tư kỹ thuật nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế như đầu tư phân
bón, cây trồng, cho kỹ sư giới thiệu giống mới... nhằm mục đích vực dậy kinh
tế, tạo điều kiện để Pháp tiến hành các phương án khai thác hiệu quả Nam Bộ
hơn. Trên các vùng chính ở đồng bằng sông Cửu Long, Pháp tiến hành cơ khí hóa
nông nghiệp: dùng xán cạp, máy đào kênh (có từ 1890) để phát triển hệ thống
kênh rạch ở Nam Bộ. Kết quả, Pháp tạo ra hai hệ thống kênh chính (1.360 km),
kênh phụ (2.500 km) nhằm mục đích điều tiết, thau chua rửa mặn. Ngoài ra, Pháp
cũng cử các cơ quan đi nghiên cứu nông nghiệp Nam Bộ để chọn giống cây trồng,
vật nuôi, cơ khí, phân bón để áp dụng vào thổ nhưỡng Nam Bộ. Mặc dù chính quyền
hết sức ưu đãi, nhưng tư bản Pháp vẫn không đến đầu tư nhiều vì không quen canh
tác nông nghiệp - đất hoang hóa nhiều. Hơn nữa ở Pháp, đất hoang của nó cũng
còn quá nhiều nên nó chú trọng đầu tư nước mình trước (tham nhũng, khủng hoảng
chính trị ảnh hưởng đến cơ may của Pháp ở thuộc địa). Đầu tư không đồng bộ ảnh
hưởng đến các quy luật, tính chất và từng loại thích hợp.
Vào
năm 1897 ở Đông Nam Bộ, Pháp đưa cao su (gốc từ Brazil) vào Việt Nam, trồng tốt
như người Anh ở Malaya; nhiều công ty, đồn điền cao su mọc nhiều.
Sở
hữu lớn về ruộng đất chính là nguyên nhân cản trở việc khai thác Nam Bộ trên
quy mô lớn của Pháp; vì phương thức canh tác bất hợp lý, mang tính cướp đoạt;
chế độ cấp đất đai cho nhân dân khai hoang theo kế hoạch Leroy - Beaulieu (cho
phép khai phá trong 5 năm - quá thời gian đó thì đất sẽ bị sung công) làm tình
trạng mất đất càng nhiều hơn. Hơn nữa, bản thân các địa chủ có sở hữu lớn về
ruộng đất thì lại không biết khai hoang, không biết gì về nghề nông nên không
đầu tư theo chiều sâu; cho nên phương pháp khai thác chủ yếu vẫn là dùng tá
điền, nộp tô thuế. Quảng canh là phương thức canh tác chính (không kỹ thuật, phân
bón), thực lực đầu tư của tá điền không có, kỹ thuật canh tác giống mới quá đắt
đỏ, phân bón chưa phù hợp, do người Pháp không thể đầu tư toàn diện.
Kết
quả:
+
Nhà nước thực dân khai phá thành công ở Tân An, Mỹ Tho, Cần Thơ và Rạch Giá.
Ruộng đất ở các nơi này khai hoang nhanh, ruộng hoang không nhiều (ít ngập mặn
hơn); đào nhiều kênh như kênh Rạch Giá - Long Xuyên, kênh Frerès - Bocquillon,
kênh Saintenoy, kinh Maspéro, kinh Ô Môn, kinh Ba Lang... để điều tiết lượng
nước, thoát nước ra biển. Theo thống kê, diện tích khai hoang tăng nhanh:
10.664 ha (1881), 20 vạn ha (1921), 38,2 vạn ha (1942), 66 vạn ha (1946). Rạch
Giá là vùng đất mới, thổ nhưỡng và kênh rạch tốt nên khai phá nhanh, tư bản
Pháp - bản xứ bỏ vốn thực hiện.
Năm
1893, các công trình kênh đào và nạo vét sông tháo nước đều được Pháp lập thành
kế hoạch giao cho các công ty tư nhân khai thác, lãnh thầu dưới sự kiểm soát
của Nha công chính Đông Dương. Kết quả thì Pháp vét 824.000 m3 (1890
- 1900) => 7.233 m3 (1920 - 1930) để đào kênh. Họ đào
được 1.300 km kênh chính, 2.500 km kênh phụ, phí tổn là 48 triệu franc
Riêng Đồng
Tháp Mười, việc khai phá bị thất bại do nhiều nguyên nhân: tình trạng đất
bỏ hoang nhiều, phèn nặng và đất “không chân” nhiều nên khó thoát nước khi nước
lên (Pháp cố gắng đào kênh An Hạ, Bãi Vồn để thoát phèn; trồng lúa vào), coi
như thất bại, 1 - 2 vụ không lời lãi gì. Một nguyên nhân khác đó là Pháp không
có sự nghiên cứu toàn diện, không hiểu thổ nhưỡng Đồng Tháp Mười (phèn nặng,
dùng kênh tháo phèn nhưng không ăn thua) dẫn đến thất bại.
Dù
thất bại, nhưng Pháp cũng một phần nào khai khẩn được vùng Đồng Tháp Mười với
việc cho đào nhiều kênh, mở rộng kênh mới, như sau:
Việc
mở rộng, khai thông các kênh để phục vụ vận chuyển lương thực vào Sài Gòn. Theo
ghi chép của Sơn Nam, Pháp vào năm 1866 đã cho mở rộng kênh Bảo Định, kênh Bến
Lức, kênh Chợ Gạo và kênh Trà Ôn (1875). Tổng đốc Trần Bá Lộc thời kỳ
này cũng ra tay đào kênh - đào kênh Tổng đốc Lộc (thời kháng Pháp đổi
thành kênh Nguyễn Văn Tiếp). Cuối thế kỷ XIX, tham biện Tân An
là Helgouach và Lagrange (1897 - 1902) đã cho đào các kênh nhánh (kênh 25,
26, 27, 28) để mở rộng kênh Tổng đốc Lộc; kênh Lagrange (về sau đổi thành kênh
Dương Văn Dương - chiến sĩ Bình Xuyên thời kháng Pháp). Đầu thế kỷ XX, Pháp cho
đào và mở rộng các kênh mới: kênh Lấp Vò (1904 - 1906), kênh Măng Thít.
Năm 1907, Tổng thanh tra Công chính Pouyaune cho mở rộng các kênh Lagrange,
Tổng đốc Lộc, Đá Biên (huyện Thạnh Hóa, Long An), Lacombe (1918). Từ 1923 -
1925, đào kênh nối rạch Thương Mại với sông Mỹ Tho. Từ 1921 - 1924, cải tạo mở
rộng kênh Tổng Đốc Lộc và kênh số 4. Tính đến năm 1930, khối lượng đào
kênh bằng tàu cuốc ở đồng bằng sông Cửu Long là 155 triệu m3, khối
lượng này gia tăng đều đặn hàng năm. Sang đến năm 1936, Pháp đã cho đào 1.360
km kênh chính, 2.500 kênh phụ và hàng ngàn km kênh nhỏ với kinh phí lên đến 58
triệu đồng.
Pháp
xúc tiến các dự án đào kênh ở Đồng Tháp Mười:
-
Dự án nghiên cứu các con sông ở Tân An của Gaudary năm 1907.
-
Dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Bolliet và Saraudy năm
1907.
-
Dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Gripeix và Baillie năm 1910.
-
Dự án mở rộng và hoàn thiện các con kênh phía hạ lưu Hồng Ngự của
Bénaberg năm 1916.
Khối
lượng đào kênh tăng lên rõ rệt, chỉ trong 9 năm (1905-1913), khối lượng đào
kênh bằng tàu cuốc đã lên đến 37,5 triệu m3. Nhưng do ảnh hưởng
của chiến tranh Thế giới thứ nhất, hợp đồng phải thay đổi rất nhiều lần và gia
hạn lại trong các năm 1927, 1928, 1929. Tình hình đó, càng làm cho công cuộc
đào kênh ở Đồng Tháp Mười càng ảm đạm hơn.
Nhận
xét:
-
Chỉ huy đào kênh: lúc đầu là đô đốc; sau là các công ty thủy nông như Công
ty đào sông và các việc công chính Đông Dương (1901), Công ty kĩ nghệ
tại Đông Dương, Công ty Montvenoux (1893)... Song, Đồng Tháp Mười là vùng
đất còn hoang vắng, đầy phèn, khó canh tác, đầu tư tốn kém nên chỉ một vài cá
nhân có địa vị trong chính quyền Pháp vì lợi ích riêng đứng ra chỉ huy
đào. Kênh Tổng Đốc Lộc là do chính Trần Bá Lộc bỏ chi phí ra đào từ khâu
lên kế hoạch, thiết kế đo đạc, thuê mướn nhân công… thực dân Pháp chỉ đồng ý
cho Lộc huy động dân phu. Sau Trần Bá Lộc là những viên Tham biện người Pháp
như Helgouach và Lagrange,
nhận thấy được lợi nhuận từ việc đào kênh đã tổ chức đào nhiều kênh mới trong
vùng này (các kênh 25 – 26 – 27 – 28, kênh 12, kênh Lagrange…). Cùng đó là một số điền chủ tư nhân đầu
tư đào những kênh nhỏ nối vào các kênh chính để phục vụ cho sản xuất nông
nghiêp.
-
Lực lượng đào kênh: lúc đầu là người Pháp với phương tiện đào kênh hiện đại
(xáng múc, tàu cuốc), Nhưng có lẽ vì mục đích chính trị (kiểm soát người
bản địa đang căm hờn bởi sự xâm lược của thực dân Pháp trên quê hương họ), sự
nghi ngờ trong đầu tư mà không đem lại lợi nhuận như mong muốn (đang trong giai
đoạn thử nghiệm) nên chính quyền thực dân sử dụng dân phu người Việt (rẻ hơn)
khá nhiều cho việc đào kênh. Dân phu làm việc mệt nhọc “phải phát cỏ,
đào tay, dùng xe trâu để tiếp nước và lương thực cho hàng trăm phu tại giữa
đồng, nhiều người chết vì sốt rét và dịch tả”; trong điều kiện khắc nghiệt
(thiếu nước ngọt, rắn độc, muỗi, đỉa, nước nhiễm phèn…) nhưng công cụ thì thô
sơ như cuốc, xẻng, phảng, sọt… thế mà “chẳng được trợ cấp thức ăn, thuốc men
gì cả”. Làm việc cực như thế nhưng Pháp trả lương ít ỏi: dân phu nghèo khổ
tiền công có 10 - 15 xu; có nơi trả 2 - 3 hào song rất ít. Trong khi đó, bọn kỹ
sư và nhà thầu Pháp lại lĩnh lương cao: 5.000 đồng Đông Dương/năm, gấp 30
lần một viên chức trung bình và gấp 100 lần một viên chức nhỏ người Việt. Ngay
cả Tổng đốc người Việt chỉ lĩnh lương và phụ cấp là 300 đồng = 750 franc - 1
đồng Đông Dương = 2,5 franc.
Mục đích đào kênh ở Đồng Tháp Mười:
-
Do đặc thù về địa hình, địa mạo; nơi hoang vắng và luôn bất ổn, nên đào kênh
với kỹ thuật thô sơ.
-
Kiểm soát an ninh, phát triển kinh tế - xã hội.
-
Phục vụ cho tham vọng mang nền văn minh phương Tây sang nước ta để về lâu dài
không ngoài gì khác là “khai hoá và khai thác”.
Người
Pháp thành công ở Nam Bộ với việc đào 2 hệ thống kênh:
-
Trục Tây sông Hậu: có 5 kênh, lớn nhất là kênh Thốt Nốt.
-
Trục Long Xuyên - Cần Thơ, giao nhau ở ngã Bảy.
Các
kênh đào lớn như Rạch Giá, Xà No, Long Mỹ; hình thành hệ thống đồn điền với 37
đồn điền ở miền Đông (lớn nhất là 1.000 ha). Miền Đông là nơi có đất bazan, đất
xám là đất cao và không màu mỡ, mà trong bazan co ocid sắt - đá ong hóa
(laterit) là đất xám.
Đặc
trưng khai phá Nam Bộ:
-
Nhịp độ khai thác nhanh: Pháp khai thác 80 năm bằng triều đình 200 năm mới khai
phá xong Nam Bộ, đầu tư hàng hóa và kỹ thuật là yếu tố chính đẩy nhanh việc
khai phá. Tư bản đầu tư mạnh trong lần khai thác thuộc địa thứ 2 đã làm diện
tích khai phá tăng 10 lần.
-
Khai phá tối đa, gần hết và đất chuyển nhượng không nhiều. Từ 1919 - 1929, toàn
bộ vùng Gia Định, Gò Công, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An, Sa Đéc, Trà Vinh, Rạch Giá
đã khai phá xong.
-
Có tác động của tư nhân Pháp vào nhiều.
-
Người Việt có cống hiến lớn trong khai phá Nam Bộ. Họ hiểu thổ nhưỡng, thời vụ
và đất đai nên dễ canh tác, sản xuất (Hoa, Khmer không quen); kênh đào chưa
dày, thiếu hệ thống kênh phụ thoát nước, nên không tác dụng; đất hoang nhiều,
chưa đủ kinh phí để khai phá.
-
Hình thành điền sản lớn, sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất. Ruộng hoang nhiều nên
Pháp cho dân tự do khai phá, không hạn định. Do là sở hữu lớn có phương thức
canh tác điền sản khá mạnh, tá điền bị bóc lột nhiều hơn. Đại diền sản lớn làm
tăng thêm quyền chiếm hữu ruộng đất của địa chủ. Mỗi đại điền sản có diện tích
không lớn (3 - 5 ha), nhưng đủ cho nông dân nộp tiền, thuế đất (không đầu tư), miền
Tây là lạc hậu. Sở hữu lớn thực chất là sản xuất nhỏ, không thoát khỏi kinh tế
tiểu nông; ruộng nhiều nhưng người ít, khó đầu tư.
Tính
chất:
-
Là thuộc địa khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào lĩnh vực tư nhân và đặt dưới sự
tự do kinh doanh.
-
Không phải thuộc địa di dân, nhà nước đầu tư trực tiếp.
-
Phát công cho tư nhân 1.500 ha nhượng địa, sau Thế chiến I thì Pháp kiều bỏ
nhượng địa; tuy nhiên nó khai phá được 2,2 triệu ha, trong đó đồn điền trồng
lúa 10 vạn ha, đồn điền cao su 98 vạn ha (1930). Ở đồn điền cao su thì Pháp chỉ
khai thác sinh lợi là 32.500 ha, sản xuất 10.000 tấn mủ cao su.
Sở
hữu:
-
Địa chủ: sở hữu nhiều ruộng đất. Có 63.000 địa chủ lớn sở hữu ruộng đất trên 10
ha (chiếm 2% số dân, nhưng hưởng 45% diện tích canh tác); địa chủ vừa và
nhỏ sở hữu 5 ha ruộng đất, chiếm 15% diện tích canh tác. Ngoài ra còn 183.000
tiểu chủ, chiếm 72% dân số. Việc sở hữu càng lớn của địa chủ tạo cơ hội có lợi
cho Pháp lập điền sản lớn.
-
Nông dân: 354.000 gia đình nông dân không có ruộng đất, chiếm 57% dân số. Vùng
Rạch Giá, Hà Tiên thì dành cho dân Bắc Kỳ định cư nhưng chỉ lôi kéo được vài
nghìn người vào khai khẩn.
-
Hoa kiều: chính quyền thực dân Nam Kỳ tạo điều kiện cho người Hoa hoạt động lớn
ở Nam Bộ. Ở Nam Kỳ có 85.000 Hoa kiều sinh sống, tập trung nhiều ở các thành
phố lớn: Sài Gòn (100.000/250.000 dân), Hải Phòng (19.000/124.000 dân), Hà Nội
(5.000/128.000 dân), Nam Định (1.500/23.000 dân).
Tác
động:
-
Các địa chủ không trực tiếp canh tác ruộng đất mà giao cho nông dân canh tác. Ở
Nam Kỳ, 85% ruộng đất (1.800.000 ha) chia thành các lô ruộng đất cho tá điền
cày thuê (khoảng 5 - 10 ha). Năm 1939, Việt Nam có 6.800 đại địa chủ, riêng Nam
Kỳ là 6.300 người - còn lại là 500 người; quyền sở hữu lớn về ruộng đất thuộc
về tay địa chủ Nam Kỳ (Trương Văn Bền 1.800 ha, Trương Đại Danh 8.000 ha). Địa
chủ giao ruộng đất cho tá điền, cho vay cắt cổ. Những loại ruộng đất này khi
thu hoạch sản phẩm - chủ yếu là gạo thóc - thì đem bán cho Hoa kiều hay tư bản
Pháp để thu lợi, nhưng lợi tức thu được không đóng góp gì vào sự phát triển
kinh tế thuộc địa. /.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét