Khiemnguyen

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2022

Nguyễn Ái Quốc làm báo Le Paria

 Báo « Le Paria » ra số đầu tiên tại Pari ngày 1/4/1922, tồn tại cho đến tháng 4/1926. Báo ra được 38 số. (Le Paria vẫn được dịch là Người cùng khổ, nhưng tên viết bằng chữ Hán đầu báo là Lao động báo). Với nội dung chống chủ nghĩa thực dân, kêu gọi đoàn kết các dân tộc thuộc địa, với mục tiêu tôn chỉ là « vũ khí chiến đấu với sứ mạng đã rõ ràng là giải phóng con người » (Lời kêu gọi nhân báo ra số đầu).

 
Báo Le Paria (Người cùng khổ) số 2 ra ngày 01/5/1922, cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, xuất bản tại Pari (bản scan trưng bày tại phòng số 3, hệ thống trưng bày cận - hiện đại, Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Để có thể thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của nhân dân các thuộc địa, để có một bộ tham mưu tổ chức và lãnh đạo thống nhất cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở các thuộc địa, được sự đồng tình và ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cùng với đại biểu thuộc địa của Pháp đứng ra vận động thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa - một hình thức mặt trận của các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân Pháp thống trị, liên minh với giai cấp vô sản ở chính quốc cùng đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Sau nhiều lần gặp gỡ trao đổi, cuộc họp ngày 26/6/1921 của các chiến sĩ chống chủ nghĩa thực dân Pháp ở nhiều nước đang sinh sống ở Pari đã bàn việc thành lập hội, xây dựng chương trình, điều lệ và cử Ban Chấp hành. Ngày 20/7/1921, Ban Chấp hành hội đã thông qua các văn bản và nộp Điều lệ hội cho nhà chức trách xin cấp phép hoạt động. Cuộc họp ngày 28/5/1922 thông qua Tuyên ngôn của hội do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và nhấn mạnh: "Chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em. Hội Liên hiệp thuộc địa thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong công cuộc ấy... Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại"[1].

Từ những hoạt động và uy tín của mình, Người đã được bầu vào Ban Chấp hành Hội Liên hiệp thuộc địa. Thời gian đầu (1922-1923), Hội Liên hiệp thuộc địa có khoảng 200 hội viên, hoạt động mạnh mẽ, sôi nổi và có ảnh hưởng rộng rãi. Hội những người Việt Nam yêu nước là một đoàn thể trong Hội Liên hiệp thuộc địa. Tuy nhiên, thời gian sau, do nhiều nguyên nhân tác động như sự cản trở và phá hoại của Bộ Thuộc địa, sự eo hẹp về tài chính... hoạt động của Hội giảm dần. Đến tháng 6/1926, Hội Liên hiệp thuộc địa ngừng hoạt động.

Hội Liên hiệp thuộc địa xuất bản báo Người cùng khổ (Lơ Paria, Le Paria) làm cơ quan ngôn luận. Nguyễn Ái Quốc được phân công làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút của tờ báo. Le Paria  số 1, ngày 1/4/1922, đăng lời kêu gọi, nêu rõ tôn chỉ, mục đích và nhấn mạnh: "Le Paria đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu, mục đích của báo chắc chắn sẽ đạt được: đó là giải phóng loài người"[2].

Đặt tên báo là Le Paria - Người cùng khổ là cách chơi chữ rất sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc và các cộng sự: Ấn độ giáo của xã hội cổ đại Ấn Độ, chia xã hội Ấn độ ra thành 5 đẳng cấp là Bà la môn, Sát đế lị, Vệ xá, Thủ đà la, Chiên đà la, trong đó Chiên đà la (Paria) là giai cấp người cùng khổ. Ấn Độ giáo coi họ là đẳng cấp hạ tiện nhất. Họ phải làm các nghề hạ tiện nhất, bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người, bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, bị coi là thứ ti tiện, vô cùng khổ nhục, tối tăm, không được chạm tay vào người thuộc các đẳng cấp khác, thậm chí không được giẫm lên cái bóng của những đẳng cấp trên.  

Tờ báo được in bằng chữ Pháp trên khổ giấy 36 x 50cm. Phía trên, bên cạnh tên chính của tờ báo bằng chữ Pháp: Le Paria còn có tên báo bằng chữ  rập ở bên trái và chữ Hán ở bên phải: Lao động báoĐầu tiên báo lấy tiêu đề “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa”, sau đó đổi thành “Diễn đàn của vô sản thuộc địa”, rồi sau lại đổi là “Cơ quan của nhân dân bị áp bức các thuộc địa”

Địa chỉ ban đầu của tờ báo: số 16 phố Giắccơ Calô (Jacques Calot), Pari VI, Từ số 8 (tháng 11/1922) trên báo ghi trụ sở: số 3 phố Mácsê đê Patơriácsơ (Marché des Patriarches), Quận 5, Pari. Nơi này cũng  là trụ sở của Hội Liên hiệp thuộc địa, nơi Nguyễn Ái Quốc chuyển đến ở từ ngày 15/3/1923 đến ngày 13/6/1923, trước khi rời nước Pháp sang Liên Xô. 

Từ khi ra đời đến khi đình bản, báo Người cùng khổ ra được 38 số, Báo Le Paria tồn tại trong 4 năm (4/1922 đến 4/1926) trong những điều kiện hết sức khó khăn về tài chính và phương tiện hoạt động, lại luôn bị cảnh sát theo dõi, đe dọa, gây khó dễ. Nguyễn Ái Quốc là một trong những người lãnh đạo chủ chốt của báo, Người làm chủ nhiệm, chủ bút, giữ quỹ và kiêm cả việc phát hành, bán báo. Làm việc không mệt mỏi, Nguyễn Ái Quốc đóng góp cho sự tồn tại và phát triển của báo bằng cách viết nhiều bài cho báo, thậm chí còn dành cả phần tài chính eo hẹp của mình cho báo.

Nguyễn Ái Quốc phụ trách tờ báo từ số 1 đến số 15 (6/1923). Từ số 1 đến số 14, Nguyễn Ái Quốc làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, làm cả việc phát hành và đi bán báo. Người còn tham gia chuẩn bị cho các số 15, 16, 17 trước khi đi Liên Xô, rồi Trung Quốc. Trong thời gian ở hai nước này, Người vẫn gửi bài về đăng Báo Le Paria và gửi tiền ủng hộ báo.

Đầu năm 1923, trong Truyền đơn cổ động mua Báo Le Paria, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc” (Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t.1, tr.496)  .

Trên báo Le Paria, số 14 (tháng 5/1923), Người đã viết trong bài “Kỷ niệm Báo Le Paria” rằng: “Một nǎm đã trôi qua kể từ khi Báo Le Paria ra đời. Các bạn quan tâm đến số phận của tờ báo ngay từ buổi đầu, nhân dịp kỷ niệm này, cảm ơn tất cả những ai đã can đảm với diễn đàn nhỏ bé này, bảo vệ nhân dân các thuộc địa” (Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t.1, tr.497)

Tháng 4-1926, Báo Le Paria ra số 38 đăng lời giới thiệu tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc. Đây là số cuối cùng của báo. Tùy vào từng thời gian và khả năng tài chính mà số lượng in báo Le Paria không cố định, dao động từ 1.000 đến 5.000 bản, cá biệt có những số in hơn 5.000 bản. Có 50% số lượng báo in ra được lan truyền qua các nước thuộc địa của Pháp.

 
Sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc, xuất bản tại Pari, Pháp, năm 1925. (Trưng bày tại phòng số 3, hệ thống trưng bày cận - hiện đại, Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Bằng nhiều ngả đường khác nhau, trong đó chủ yếu là đường biển, Người cùng khổ cũng xuất hiện ở Việt Nam và được các trí thức yêu nước hân hoan đón nhận. Họ bí mật truyền tay nhau và cùng chung  một niềm vui là ở bên nước Pháp xa xôi đã và đang có một tổ chức tập hợp và cổ vũ cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc mình. “Đó là luồng gió mới thổi đến nhân dân các nước bị áp bức” (Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, nxb Thanh niên, H, 2012, tr.51).

Trên báo Le Paria, Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài thuộc nhiều thể loại khác nhau (gần 40 bài) như: Xã luận, bình luận, tin tức, dịch thuật, tiểu phẩm, truyện ký, tranh vẽ... Có số báo Người viết 2 bài, 3 bài, thậm chí 4 bài, cùng tranh vẽ. Những bức tranh, ký họa của Người đăng trên báo ký tên Nguyễn Ái Quốc và một số bút danh khác. Nội dung các bài viết này tập trung vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Đông Dương và các thuộc địa khác.

Từ đó, giúp người đọc nhận thức rõ hơn về sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân nói chung và thực dân Pháp nói riêng; về mâu thuẫn không thể điều hoà giữa chủ nghĩa thực dân với nhân dân lao động tại các thuộc địa; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và chính quốc. Cũng từ những bài báo đó, Nguyễn Ái Quốc đã góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân ở các thuộc địa, thức tỉnh phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Đồng thời, thông qua nội dung các bài báo, bước đầu chỉ ra yêu cầu cần thiết của việc thực hiện đoàn kết giai cấp và đoàn kết quốc tế, giữa nhân dân các thuộc địa, giữa thuộc địa với chính quốc và coi đó là những điều kiện bảo đảm cho cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Tuy tồn tại có hơn 4 năm, ra được có 38 số, nhưng báo Người cùng khổ đã làm tròn vai trò người mở đường, người tổ chức và cổ vũ cho phong trào tranh đấu chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Tròn 100 năm đã trôi qua, nhân dân Việt Nam chúng ta đã từ thân phận người nô lệ đã trở thành công dân của một nước độc lập, tự do, nhưng đâu đó trên trái đất này, trong một xã hội tuy rất phát triển nhưng khoảng cách giầu nghèo và bất bình đẳng trên thế giới vẫn ngày thêm sâu sắc, do đó giá trị lí luận và thực tiễn của báo, trong đó tinh thần đấu tranh để giải phóng con người vẫn còn nguyên giá trị.

Minh Hằng

Nguồn: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3097/73006/nguyen-ai-quoc-lam-bao-le-paria.html

BỘ SƯU TẬP BÁO CHÍ CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG XUẤT BẢN TRƯỚC THÁNG 12/1945 HIỆN LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA

 Trần Thị Thu Hà (Ths. Phó Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).

The Journals Published By the Revolutionary Organizations before December 1945 Trần Thị Thu Hà Throughout Vietnamese revolutionary movement led by the Vietnam Communist Party, journals were regarded as effective method, contributing considerably to enhancing the development of the revolution. Prior to December 1945, several revolutionary journals had been issued. The main goal of this article is to make an introduction to the journal collection stored in the Vietnam National Museum of History. The collection includes the journals published by revolutionary organizations, precursors of the Communist Party. The author has examined, classified the famous journals such as The Youth, The Workers and Peasants, The Hammer and Sickle... It could be said that this collection is precious database, providing the information for the study of the revolutionary process, and the history of journalism of Vietnam.

 Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi báo chí là một vũ khí cách mạng, là Người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể, và người tổ chức tập thể của cách mạng. Trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng để giành và bảo vệ độc lập dân tộc, báo chí cách mạng trong đó có báo chí của Đảng được xem là một vũ khí quan trọng tham gia chiến đấu, thúc đẩy cách mạng Việt Nam phát triển và giành thắng lợi. Báo chí cách mạng những năm 1925 - 1945 đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ những năm tháng khởi đầu tạo dựng phong trào cách mạng, tổ chức những cuộc đấu tranh đầy hi sinh gian khổ trong suốt hàng chục năm để tiến tới cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945, báo chí của Đảng luôn luôn là một vũ khí sắc bén góp phần hiệu quả vào việc tuyên truyền, tổ chức, cổ động các chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước chiến đấu. Thời kỳ này, các nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng rất quan tâm đến báo chí, đối với các báo và tạp chí của Trung ương, một số nhà lãnh đạo đã quyết định việc ra báo, viết bài, sửa bài, tổ chức in và phát hành…các đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp... đều là những cây bút xuất sắc của báo chí cách mạng. Báo chí của Đảng đều được các đảng viên và quần chúng hết sức ủng hộ. Các cơ sở cách mạng đùm bọc, bảo vệ, giữ bí mật, nuôi cán bộ làm báo, tìm mua phương tiện, vật liệu in báo, bố trí địa điểm in, tổ chức cất dấu, phát hành, sẵn sàng chủ động đối phó khi địch phát hiện. Đảng viên và quần chúng còn cung cấp tin tức, tình hình cho báo, vận động người đọc, góp tiền mua báo, ủng hộ báo… làm mọi việc để tờ báo sống. Báo chí cách mạng nói chung, báo chí của Đảng nói riêng, trước tháng 9/1945 chủ yếu xuất bản và phát hành bí mật, trừ thời kỳ vận động Dân chủ (1936-1939). Trong hoàn cảnh hoạt động bất hợp pháp, luôn bị địch lùng sục, khủng bố, báo chí của Đảng không được lưu giữ nên bị mất mát, phân tán khá nhiều. 

Do tình hình như vây, nên hiện nay ở trong nước, báo chí của Đảng được lưu giữ phân tán ở khá nhiều cơ quan, gia đình, cá nhân. Có báo đủ bộ, có báo thiếu nhiều, có báo thiếu ít, có báo không còn. Ở nước ngoài, báo chí của Đảng cũng được lưu giữ phân tán ở nhiều kho lưu trữ khác nhau: Cục Lưu trữ Nhà nước Liên bang Nga, Kho Lưu trữ Quốc gia Pháp, Kho Lưu trữ của Bộ Thuộc địa Pháp ở Paris, ở Aix en Provence, Thư viện Quốc gia Pháp…Có những tờ báo là bản gốc, có tờ là bản ảnh chụp của mật thám Pháp (không còn bản gốc), có tờ là bản dịch đánh máy từ tiếng Việt ra tiếng Pháp của mật thám Pháp trước kia… 

Bài viết này nhằm giới thiệu “Sưu tập báo chí của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam xuất bản trước tháng 12/1945” hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Khái niệm Đảng Cộng sản Việt Nam ở đây bao gồm cả các tổ chức tiền thân như Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Khái niệm Trung ương Đảng ở đây bao gồm cả các Ban của Trung ương Đảng như Ban Công vận, Ban Nông vận, Ban Tuyên truyền… vì tiếng nói của các Ban này cũng là tiếng nói chính thức của Trung ương. Do đó sưu tập này không đề cập đến báo và tạp chí của các Xứ ủy, Tỉnh ủy, chi bộ cơ sở, của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng khác của Đảng. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy báo và tạp chí của Trung ương Đảng xuất bản trước tháng 12/1945, ít nhất có các báo sau: 

1 - Thanh Niên, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925-1929); 

2 - Công Nông, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1926); 

3 - Kờ Đỏ, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1929); 

4 - Bonsovich, Đông Dương Cộng sản Đảng (1929); 

5 - Búa Liềm, Đông Dương Cộng sản Đảng (1929-1930); 

6 - Cờ Cộng Sản, Đông Dương Cộng sản Đảng (1929); 

7 - Cờ Đỏ, Đông Dương Cộng sản Đảng (1929); 

8 - Liềm, Đông Dương Cộng sản Đảng (1929); 

9 - Công Hội Đỏ, Đông Dương Cộng sản Đảng (1929); 

10 - Lao Động, Đông Dương Cộng sản Đảng (1929); 

11 - Cờ Đỏ, An Nam Cộng sản Đảng (1929); 

12 - Bonsovich, An Nam Cộng sản Đảng (1929); 

13 - Tranh Đấu, Đảng Cộng sản Việt Nam (1930); 

14 - Đỏ, Đảng Cộng sản Đông Dương (1930); 

15 - Cộng Sản, Đảng Cộng sản Đông Dương (1931); 

16 - Cờ Vô Sản, Đảng Cộng sản Đông Dương (1931); 

17 - Tạp chí Bonsovich, Ban chỉ huy Hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương (1934-1936); 

18 - L’Avant-Garde, Đảng Cộng sản Đông Dương (1937); 

19 - Le Peuple, Đảng Cộng sản Đông Dương (1937); 

20 - Dân Chúng, Đảng Cộng sản Đông Dương (1938-1939); 

Thông báo Khoa học số 1 - 2014 89 

21 - Tạp chí Cộng Sản, Đảng Cộng sản Đông Dương (1941); 

22 - Cờ Giải Phóng, Đảng Cộng sản Đông Dương (1942-1945); … 

Sưu tập Báo chí nói chung là một bộ phận quan trọng và có số lượng khá lớn trong kho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Riêng Báo và Tạp chí của Đảng Cộng sản Việt Nam xuất bản trước tháng 9/1945 khi cách mạng chưa thành công cũng đã có gần 200 đầu báo với hàng ngàn hiện vật. Khảo sát các kho của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, chúng tôi thống kê được 135 tờ báo (hiện vật) của Trung ương Đảng. Sau khi kiểm tra thực tế hiện vật và hồ sơ, chúng tôi đã loại bỏ 30 tờ là bản sao chụp ảnh hoặc phục chế, không có bản gốc. Số còn lại là 105 tờ báo bản gốc thuộc 5 đầu báo. (Trong những năm đầu thành lập, việc trao đổi tư liệu lịch sử phục vụ cho việc trưng bày giữa BTCMVN với Bảo tàng một số nước như Liên Xô, Trung Quốc, Rumani, Bungari, Tiệp Khắc…được tiến hành thường xuyên.


Báo Búa Liềm số 3, ra ngày 1-11-1929 đăng bài về Cách mạng tháng Mười Nga.

 Chẳng hạn như ngày 18/10/1960, Bảo tàng Cách mạng Trung ương Liên Xô tặng 343 ảnh tư liệu chụp báo Cờ Vô Sản, Thanh niên, Giải Phóng, Giác Ngộ và một số truyền đơn của Đảng Cộng sản Việt Nam trước năm 1945; ngày 15/1/1960, Bảo tàng Cách mạng Trung Quốc tặng 453 tư liệu trong đó có báo Cứu Quốc số 1357, 1483…). 105 tờ bản gốc thuộc 5 đầu báo này đều được đăng ký trong Sổ Kiểm kê bước đầu của Bảo tàng. 

Mỗi đầu báo có một hồ sơ. Những hồ sơ này không được làm ngay khi hiện vật mới sưu tầm về, mà được làm lại sau này. Báo Tranh Đấu sưu tầm năm 1958, hồ sơ làm ngày 20/5/1972; Báo Búa Liềm sưu tầm năm 1958, hồ sơ làm ngày 20/6/1975; Báo Dân Chúng sưu tầm năm 1959, hồ sơ làm ngày 20/6/1975… Nhìn chung, hồ sơ ghi chép sơ sài, thông tin đơn giản. Chẳng hạn hồ sơ Báo Cờ Giải Phóng (từ số 2 đến số 15) gồm 12 số với 27 tờ gốc mang số ký hiệu liên tục từ 6637/G4966 đến 6648/G5007, ngoài những ghi chép về tình hình hiện vật như: hình dáng, màu sắc, đặc điểm, chất liệu, kích thước, hiện trạng…phần ghi về lịch sử hiện vật chỉ thống kê đơn giản như sau: 

Báo Cờ Giải Phóng - cơ quan tuyên truyền cổ động của Đảng Cộng sản Đông Dương. + Năm 1943: Số 2 ngày 26/8/1943, 4 trang, 1 tờ. + Năm 1944: Số 3 ngày 15/2/1944, 4 trang, 1 tờ. Số 4 ngày 18/4/1944, 4 trang, 2 tờ. Số 5 ngày 14/6/1944, 4 trang, 1 tờ. Số 6 ngày 28/7/1944, 4 trang, 1 tờ. Số 8 ngày 10/11/1944, 4 trang, 3 tờ. + Năm 1945: Số 10 ngày 28/1/1945, 4 trang, 1 tờ. Số 11 ngày 25-3-1945, 2 trang, 1 tờ. Số 12 ngày 12/4/1945, 2 trang, 3 tờ. Số 13 ngày 16/5/1945, 2 trang, 3 tờ. Số 14 ngày 28/6/1945, 2 trang, 8 tờ. Số 15 ngày 17/7/1945, 2 trang, 2 tờ. 

Trước khi sáp nhập hai Bảo tàng, năm 2011, lãnh đạo Bảo tàng chủ trương cho nhập về kho cơ sở những tài liệu, sách báo quý xuất bản trước năm 1954 (được lưu giữ tại Thư viện BTCMVN), trong đó có báo Cờ Giải phóng: Số 20 ra ngày 27/9/1945; Số 21 (30/9/1945); Số 24 (11/10/1945); Bảo tàng Lịch sử Quốc gia 90 Số 25(14/10/1945); Số 26 (18/10/1945); Số 27 (21/10/1945); Số 28 (25/10/1945); Số 29 (28/10/1945). Các số báo đó đều có 1 tờ, 2 trang. Số 20 là một tờ rời có số ký hiệu 29879/Gy 24435, các số còn lại được đóng chung với tập báo Cứu quốc nên khi tách ra lấy chung một ký hiệu 29544/Gy 24100. Tổng cộng hiện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia lưu giữ được 20 số báo Cờ Giải phóng, gồm 35 tờ. Từ báo Thanh Niên (1925) đến báo Cờ Giải Phóng (1945), trong 20 năm thì 17 năm báo chí của Đảng xuất bản trong vòng bí mật, bất hợp pháp. Có 3 năm thời kỳ vận động Dân chủ, căn bản là nửa hợp pháp, đôi khi mang tính hợp pháp. Cũng trong 20 năm ấy, báo chí của Đảng từ một tờ báo khổ nhỏ, ít trang, in số lượng ít từ nước ngoài đưa về trong nước, đến tháng 8/1945, Đảng đã có hàng chục báo và tạp chí in ở trong nước với số lượng nhiều. Báo của Đảng xuất bản ở trong nước trong những năm đầu (1929-1935) có khuynh hướng đặt tên mang nặng tính giai cấp, ít chú ý tới tính dân tộc. 

Từ 1936 trở đi, tên báo chú ý mang tính dân tộc nhiều hơn. Báo chí của Đảng từ in thạch đến in litô, typo, nói chung khuôn khổ các số của một tờ không đều nhau, loại giấy to, nhỏ, tốt, xấu không thống nhất, kỹ thuật in thấp, tờ rõ, tờ bị nhòe, ra không đều kỳ. Để che mắt địch, có những Tạp chí được đóng bìa giả như một cuốn tiểu thuyết. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện chỉ còn lưu giữ được 5 đầu báo do Trung ương Đảng xuất bản trước tháng 12/1945. Cụ thể là các báo: Báo Búa Liềm có ba hiện vật. Báo Tranh Đấu một hiện vật. Báo Cờ Vô Sản có một hiện vật. Báo Dân Chúng có tám mươi hiện vật. Báo Cờ Giải Phóng có hai mươi hiện vật. 

Báo Búa Liềm: Đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc kỳ dự Đại hội lần thứ Nhất của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng vì bất đồng ý kiến bỏ về nước tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng tháng 6/1929. Căn cứ vào thời gian xuất bản giữa các số báo hiện còn, kết hợp tự thuật của một số lão thành cách mạng trong những năm 60 của thế kỷ 20, chúng ta dự đoán số 1 ra ngày 1/10/1929. Báo ra được 9 số. Số cuối cùng là số 9 ra ngày 5/2/1930. Báo Búa Liềm in thạch trên giấy nến, mỗi số ra khoảng 50 bản. Hiện Bảo tàng còn giữ được ba số: Số 3 ra ngày 1/11/1929, Số 4 ra ngày 15/11/1929, Số 5 ra ngày 11/12/1929. 

Báo Tranh Đấu: Sau Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2/1930, các tờ báo của ba nhóm cộng sản trong nước đều ngừng xuất bản để đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng, đường lối chính trị và tổ chức theo tổ chức mới. 

Ngày 5/8/1930, Trung ương Lâm thời (tồn tại từ tháng 2 đến tháng 9/1930) cho ra Tạp chí Đỏ. Mười ngày sau, 15/8/1930, Trung ương Lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam cho ra báo Tranh Đấu. Lúc đó, ở nông thôn nước ta, chữ Hán và chữ Nôm còn khá thịnh hành. Để đông đảo quần chúng được đọc báo Đảng, Trung ương còn cho xuất bản báo Tranh Đấu bằng chữ Nôm bên cạnh bản chữ Quốc ngữ. Những bài viết chữ Nôm chỉ tóm tắt một số bài quan trọng của bản chữ Quốc ngữ, chứ không phải bản dịch nguyên văn từ chữ Quốc ngữ sang. 

Thông báo Khoa học số 1 - 2014 91 Sau Hội nghị Trung ương tháng 10/1930, Tạp chí Đỏ và báo Tranh Đấu ngừng xuất bản. Hiện Bảo tàng còn giữ được một số: Số 1 ra ngày 15/8/1930. Báo Cờ Vô Sản: Sau tháng 10/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra tờ báo Cờ Vô Sản và Tạp chí Cộng Sản làm cơ quan ngôn luận của Trung ương. Sau Hội nghị Trung ương họp ở Sài Gòn tháng 3/1931, cơ quan Trung ương Đảng bị lộ, các Ủy viên Trung ương Đảng lần lượt sa vào tay mật thám Pháp, đến tháng 6/1931, khi Tổng Bí thư Trần Phú bị bắt thì báo Cờ Vô Sản và Tạp chí Cộng sản ngừng xuất bản. Từ đó cho đến tháng 4/1937, Đảng Cộng sản Đông Dương không có báo làm cơ quan ngôn luận ở Trung ương (tháng 6/1934 Trung ương có Tạp chí Bôn sê vich của Ban Chỉ huy Hải ngoại ở nước ngoài. Tháng 5/1937 Trung ương có báo tiếng Pháp L’Avant-Garde xuất bản ở Sài Gòn). Hiện Bảo tàng còn giữ được một số Cờ Vô Sản: Số 3 ra ngày 1/2/1931. Báo Dân Chúng: do Nguyễn Văn Cừ và Hà Huy Tập thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định xuất bản trong một cuộc trao đổi vào tháng 4/1938. Ngày 22/7/1938, số 1 báo Dân Chúng xuất bản công khai ở Sài Gòn không xin phép mà chỉ làm thủ tục khai báo như quy định của Đạo luật về tự do báo chí Quốc hội Pháp đã thông qua từ ngày 29/7/1881. Ngày 30/8/1938, Chính quyền Pháp ở Đông Dương buộc phải chấp nhận báo Dân Chúng ra hợp pháp. Báo Dân Chúng danh nghĩa là cơ quan của lao động và dân chúng Đông Dương, nhưng thực tế là cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ số 1 đến số 12 báo ra nửa hợp pháp, từ số 13 trở đi báo ra hợp pháp. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ sáng lập, trực tiếp phụ trách và viết nhiều bài cho báo. Quản lý báo: Dương Trí Phú, Trần Văn Kiệt, Huỳnh Văn Thanh, Huỳnh Hoa Cương. Trụ sở tòa soạn: từ số 1 đến số 33 ở 51E Colonel Grimaud, từ số 34 ở 43 Hamelin (Sài Gòn). Báo được in ở ba nhà in của Pháp và Việt: SATI, Bảo Tồn, Xưa Nay. Báo Dân Chúng ra được 81 số. Số 1 ra ngày 22/7/1938. Số cuối cùng ra ngày 30-8-1939. Mỗi số trung bình in 6.000 bản. Số đặc biệt kỷ niệm 9 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (số 40-41) in 10.000 bản. Số Xuân 1939 in đến 15.000 bản. Báo Dân Chúng ra không đều kỳ, có khi một tuần một số, khi một tuần hai số, thậm chí có khi một ngày một số (các số 58,59, 60), cũng có khi hai số cách nhau đến ba tuần (số 52 và số 53). Đây là tờ báo ra được nhiều số đứng thứ ba trong toàn bộ báo chí cách mạng ở Việt Nam xuất bản trước tháng 9/1945 (sau báo Thanh Niên, và báo Việt Nam Độc lập). Dân Chúng là tờ báo in với số lượng cao nhất, có nhiều bạn đọc nhất trong các báo in và phát hành ở Việt Nam trước tháng 9/1945. Báo Dân Chúng là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam đấu tranh giành tự do báo chí thắng lợi. Sau khi Dân Chúng ra đời, Chính quyền Đông dương phải ban hành sắc lệnh ngày 30/8/1938, bãi bỏ những điều khoản 2 và 4 của Huấn lệnh 30/12/1898 của Toàn Quyền Đông Dương thì nhiều tờ báo ở Nam Kỳ xuất bản không phải xin phép. Hiện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia còn lưu giữ được gần như đủ bộ bản gốc báo Dân Chúng: có 80 trên tổng số 81 số, chỉ thiếu số 14. Báo Cờ Giải Phóng: Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, Trung ương Đảng chỉ thị báo Dân Chúng tự đóng cửa tòa soạn, ngừng xuất bản. Hơn ba năm sau, Đảng Cộng sản Đông Dương mới lại có báo làm cơ quan Trung ương lấy tên là Cờ Giải Phóng ra số 1 ngày 10/10/1942. Cờ Giải Phóng ra được 33 số. Số cuối cùng (số 33) ra ngày 18/11/1945. Từ số 1 đến số 15 in litô tại nhiều địa điểm bí mật ở các huyện Thuận Thành, Từ Sơn (Bắc Ninh), Yên Lãng (Phúc Yên). Từ số 16 in typo trên giấy trắng tại Hà Nội. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia 92 Từ số 1 đến số 10 báo ra 4 trang, mỗi số cách nhau từ một tháng rưỡi đến bốn tháng, thậm chí mười tháng, không đều kỳ (số 1 ngày 10/10/1942. Số 2 ngày 26/8/1943. Số 3 ngày 15/2/1944. Số 4 ngày 18/4/1944…). Từ số 11 ra ngày 25/3/1945 báo ra 2 trang và khoảng cách mỗi số được rút dần. Báo Cờ Giải Phóng do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách biên tập và là cây bút chính. Tháng 11-1945, báo Cờ Giải Phóng ngừng xuất bản. Trung ương ra báo Sự Thật để thay thế. Số 1 báo Sự Thật ra ngày 5/12/1945. Hiện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia còn lưu giữ được 20 số báo gốc Cờ Giải Phóng, đó là các số: 2, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, 12, 13, 14, 15,20, 21, 24, 25, 26, 27, 28 và 29 Sưu tập báo của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam xuất bản trước tháng 12/1945 là một sưu tập hiện vật quý của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Sưu tập góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu thời kỳ cách mạng Việt Nam cũng như phục vụ hữu ích cho hệ thống trưng bày về giai đoạn lịch sử hào hùng này của dân tộc ta tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. 


Báo Búa Liềm số 4, ra ngày 15-11-1929 đăng bài về Quốc tế Cộng sản.


Báo Búa Liềm số 5, ra ngày 11-12-1929.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

Chúc mừng các Nhà Báo

 Nhân ngày lễ trọng của các nhà báo, xin gửi đến các Thầy giáo, cô giáo, các bậc tiền bối của báo chí; các anh chị em đang làm việc trong lĩnh vực báo chí... nhưng lời chúc mừng tốt đẹp nhất, chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công...



Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thời trẻ từng làm Chủ tịch Báo giới Bắc kỳ


Thời kỳ 1936 - 1939, Võ Nguyên Giáp bận rộn trong nhiều lĩnh vực. Công việc dạy học ở Trường Thăng Long và việc học ở khoa Luật chưa thỏa chí, ông tham gia viết báo cả tiếng Việt và tiếng Pháp. Vẫn lên lớp giảng bài đầy đủ, Võ Nguyên Giáp là cây bút chủ lực, vừa sửa bài vừa viết bài, trình bày cho nhiều tờ báo tiếng Việt (Tin tức, Đời nay…) và tiếng Pháp (Le Travail, Rassemblement…). Nhân danh đại biểu báo Le Travail, ông tham gia đấu tranh trên mặt trận báo chí dân chủ, đồng thời còn giữ vị trí trong Ban lãnh đạo Hội Truyền bá Quốc ngữ khi chưa đầy 30 tuổi.

Báo Le Travail ra ngày 5.2.1937 đưa tin: Đoàn đại biểu của báo Le Travail đến nhà ở của Godart - đặc phái viên của Chính phủ Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương. Trong đoàn có Võ Nguyên Giáp, Phan Tư Nghĩa, Trịnh Văn Phú và Huỳnh Văn Phương. Tại cuộc gặp này, Võ Nguyên Giáp phát biểu với Godart về tình cảnh và yêu sách của nông dân Việt Nam.

Hoạt động của báo Le Travail và nhóm những cây bút chủ lực đòi cải cách dân chủ, cải thiện đời sống mang tính chất chính trị đã thành cái gai trong mắt nhà cầm quyền thực dân. Họ đã tìm mọi cách để dẹp tờ báo khi ra Nghị định ngày 10.3.1937 cấm lưu hành báo Le Travail trên đất Trung kỳ. Cao điểm là vụ kiện của Tuần phủ tỉnh Phúc Yên khiến tờ báo phải đình bản ngày 16.4.1937 sau 7 tháng tồn tại.

Từ Hội nghị văn giới - báo giới đến Mặt trận báo chí dân chủ

Cùng thời gian đó, báo giới Trung kỳ phất ngọn cờ đầu trong việc thành lập Mặt trận báo chí dân chủ toàn xứ. Tiếp theo trên đất Bắc kỳ, số tờ báo và đội ngũ những người viết báo đông gấp 4 lần Trung kỳ đã sôi động chuẩn bị Hội nghị báo giới Bắc kỳ. Một ủy ban hành động nửa hợp pháp trực tiếp chỉ đạo quá trình chuẩn bị tiến tới tổ chức Hội nghị báo giới Bắc kỳ được thành lập. Một cuộc họp đại diện cho 13 tờ báo thống nhất trên hai yêu cầu: một là, đòi tự do báo chí; hai là, đoàn kết các nhà báo trong một tổ chức thống nhất và ra bản Thông cáo chung mời các báo đến họp vào ngày 24.4.1937.

Đúng 18 giờ 30 ngày 24.4.1937, tại hội quán CSA (viết tắt của Cercle Sportif Annamite - Câu lạc bộ thể thao của người Việt Nam) ở số 1 phố Charles Coulier (nay là phố Khúc Hạo), 200 người gồm đại biểu báo giới và một số nhà văn được mời, đã chính thức dự khai mạc hội nghị. Nhà báo Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn) đại biểu giới báo chí Trung kỳ ra dự. Võ Nguyên Giáp tham dự với tư cách vừa là đại biểu của báo Rassemblement vừa là đại diện của Ủy ban hành động nửa hợp pháp của Xứ ủy. Hội nghị cử ban quản trị gồm 3 người, trong đó có Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch. Nhiệm vụ của ban quản trị là giao thiệp với báo giới Trung - Nam để chuẩn bị cho Hội nghị văn giới - báo giới toàn quốc. Ban quản trị sẽ tự giải tán sau khi hội nghị được triệu tập.

Hai tháng sau, hội nghị thảo luận, quyết định nghiên cứu phương pháp đòi lập nghiệp đoàn báo giới; bầu 10 ủy viên chính thức và 5 dự khuyết vào Ủy ban quản lý thường trực, trong đó có 3 nhà báo cách mạng: Khuất Duy Tiến, Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp. Chính quyền thực dân Pháp đã tìm mọi cách phá hoại khiến cho Ủy ban khó lòng hoạt động. Song dù khó khăn, Mặt trận báo chí dân chủ vẫn hình thành, tồn tại qua cuộc biểu tình ngày 1.5.1938.

Võ Nguyên Giáp dùng ngòi bút của mình cổ động đồng nghiệp Khuất Duy Tiến (1910 - 1984) và Trịnh Văn Phú tranh cử vào Viện Dân biểu Bắc kỳ, cổ động đồng nghiệp Phan Thanh (1908 - 1939) và sau đó là Đặng Thai Mai (1902 - 1984) vào Viện Dân biểu Trung kỳ. Ông còn cùng báo giới lên tiếng đòi ân xá tù chính trị, viết bài chống trở lại Hiệp ước 1884. Tuy không đi tới lập nghiệp đoàn vì nhà cầm quyền cản trở, Mặt trận báo chí dân chủ đã góp phần tích cực vào việc tuyên truyền phong trào yêu nước… mà Võ Nguyên Giáp là một gương mặt sáng giá lúc này.

Đến giữa năm 1940 thì Võ Nguyên Giáp hoàn toàn vắng bóng khỏi Hà Nội và 5 năm sau, ông trở về giữa mùa thu, trở thành Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Chính phủ Việt Nam độc lập.

Nguồn: https://thanhnien.vn/van-hoa/dai-tuong-vo-nguyen-giap-thoi-trai-tre-chu-tich-bao-gioi-bac-ky-1433455.html?fbclid=IwAR1nSwsodJj-YWC6qaZ6ZTCAFURENY2B7zxdcXjjnt-_2_kor8IPdnAQ0mY