Khiemnguyen

Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

Báo chí và văn học Nam Kỳ trước năm 1945



Phong trào văn chương ở Nam kỳ (1865 - 1942)


Hải Đường - Chim Hải Yến

Từ ngàn xưa với Sĩ Nhiếp, thái thú người Tàu sang cai trị quận Giao Chỉ (187 226), qua đến Hàn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố nhà Trần, thế kỷ thứ XIII; đời Lê Hồng Đức (1460 - 1497) và mãi đến Triều Nguyễn, gom thâu thiên hạ về một mối, dân tộc Việt Nam trải qua biết bao trang lịch sử, hay cũng nhiều mà dở cũng lắm, nhưng giữ được tiếng Việt Nam, cái hồn chung còn sống mãi đến ngày nay. Đời nọ sang đời kia, cái hồn ấy vẫn bao trùm cả non sông đất Việt và chan thấm trong văn  chương ở khắp ba Kỳ:
“Vơ vẩn tơ vương hồn Đại Việt
 “Thanh tao thép lột giọng Hàn Thuyên ...
Người nào đọc hai câu nầy, dầu người ấy ở vùng núi Nùng sông Nhị, núi Ngự sông Hương, hoặc ở cánh Đồng Nai, lại không bâng khuâng, cảm động?
Vậy, trong văn học sử, chẳng có văn chương Bắc, Trung hay Nam. Người Việt Nam chỉ có văn chương Việt Nam.
Trên giải đất Việt, đời sống của dân ở vùng này, dính dấp mật thiết với dân vùng khác, vì ý kiến về xã hội, chính trị, gây thành phong trào lôi cả một xứ đi. Dầu vậy, mỗi vùng cũng có một phong trào nhỏ và riêng về xã hội, chính trị của nội vùng ấy. Nên văn chương Việt Nam đi đến vùng nào, tuy còn giữ nguyên vẹn bản sắc về sự hòa hợp âm điệu của tiếng Việt Nam, cũng bị ảnh hưởng không nhiều thì ít của vùng ấy. Văn chương Việt Nam, như văn chương của các dân tộc trên trái đất, là bức tranh vẽ cảnh tượng của người Việt Nam, ghi lại cho đời sau những cuộc thay đổi liên tiếp trong xã hội Việt Nam, chép lại các luồng tư tưởng của văn nhơn; văn chương Việt Nam cũng đi theo thời đại như hình với bóng; văn chương Việt Nam là di tích của ngày xưa.
Mây hàng sau nầy chỉ lược khảo các giai đoạn phong  trào văn chương ở Nam kỳ. Phong trào nầy được vẽ lại, phỏng theo sức lôi cuốn mãnh liệt của các văn nhơn có thịnh danh ở đất Bắc và của phái tân học, do Âu học thành tài và khuynh  hướng theo văn học Pháp.
Hơn nửa thế kỷ nay, xã hội đi, văn chương ở Nam kỳ cũng tuân theo luật tiến hóa mà đi, đi kế theo sức phát triển của sanh hoạt mới trong mọi phương diện, đi đến một nơi mà người tạm cho là đầy hứa hẹn: “điều hòa cái khí vị êm đềm của nền học thuật cổ Trung hoa với tư tưởng xán lạn của văn học Pháp”!
*
Văn chương Việt Nam, ở Nam kỳ, từ Trương Vĩnh Ký đến ngày nay, trải qua năm thời kỳ.
Giai đoạn thứ nhứt đi từ 1865, năm sanh của Gia Định báo ở Sài gòn, đến 1917, năm ra đời của tạp chí Nam Phong ở Hà Nội.
Trước khi ba tỉnh phía Đông xứ Nam kỳ lọt dưới quyền bảo hộ (1862), chữ quốc ngữ chỉ để dùng gieo hột giống đạo “Cơ đốc”. Các nhà giảng đạo nhờ quyển sách đầu tiên viết bằng quốc ngữ của cố đạo Alexandre de Rhodes đặng giao  thiệp với dân gian: tự vị Nam Lạp Bồ (Dictionnaire Annamite Latin Portugais). Tự vị này làm căn cứ cho các công trình trước tác bằng tiếng Nam của giáo sĩ trong buổi lạ lùng, bỡ ngợ.
Tháng ba năm 1864. Đoàn sứ giả Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình hòa ước với Hoàng đế Napoléon III, đặng chuộc lại ba tỉnh mất, đã về tới Sài Gòn. Vua Tự Đức có phái theo sứ quan thông ngôn Trương Vĩnh Ký. Trương tiên sanh đi xa, thấy người; trở về nhà, xét mình, rồi mong được theo dõi người. Mà phải làm thế nào bây giờ? Phải có ai ra lãnh trọng trách cổ động, truyền bá quốc ngữ đã; rồi, lần lần, giáo dục quôc dân. Mãi đến 1869, Trương Vĩnh Ký mới được ông Emest Poteau chủ bút và chủ nhiệm tờ Gia Định báo từ 1865, giao chính thức tờ báo đầu của nước Nam.
Chữ quốc ngữ, nhân đó và từ đó, được phổ thông mau lẹ cùng làng, khắp tổng ở xứ Nam kỳ.
Sau chén thuốc độc nhân đạo và anh hùng của nhà chí sĩ Phan Thanh Giản, có một nhóm người hiểu rõ tình thế, thành thật đưa tay hợp tác với chánh phủ mới. Trong đạo binh tiên phong, có Pétrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký, một mực cố gắng, dùng cây viết mở mang dân trí đặng nâng cao trình độ của dân. Đã nhận được là bậc học giả, sáng suốt trong thời, các ông viết sách chữ quốc ngữ vịn theo cốt truyện Tây hay Tàu; các ông dịch sách Tây, sách Tàu ra tiếng ta. Ý tưởng mới lạ, lần hồi được thâu nhập.
Ba nươi mấy năm qua. Lối 1900, ông Canavaggio lập ra tờ Nông cổ mín đàm và lối 1906, ông Schneider cho ra hai tờ Lục tỉnh tân văn và Nam trung nhựt báo. Mấy tờ báo nầy, tuy chẳng giúp được nhiều về mặt tinh thần, chớ có công lớn trong việc phổ thông văn quốc ngữ.
Trong thời đó, những nhà văn là nhà viết báo. Những tay kỳ cựu đã tận tâm trong báo giới phần đông có nho học. Lối hành văn của các ông nhái theo văn thể tàu. Điệu văn cân đối, đọc lên rườm rà êm tai, lại được người cho là hay và bắt chước theo.
Văn học trong thời nầy nhuộm một màu sắc bi quan, gần như chán cả sự đời. Đó là giọng văn lâm ly thông thiết của một hạng văn nhơn “ẩn dật”, ôm chặt chủ nghĩa “giữ sách một mình, ngày tháng vui cùng nước, mây, hoa, cỏ”. Họ gieo rắt trong văn chương “nỗi lòng khó tỏ” của họ.
Tiêu biểu cho phái nầy có cụ Cử Trị và tác giả quyển “Lục Vân Tiên”, cụ Đồ Chiểu.
Cụ Đồ Chiểu đã nói:
“Công danh chi nữa, ăn rồi ngủ,
“Mặc lượng cao dày xử với dân.
Cũng như cụ Cử Trị đã than:
“Uốn khúc sông rồng mù mịt khói,
“Văn que thành phụng ủ xào hoa.
“Tan nhà cám nỗi câu ly hận.
Mấy câu thơ chỉ ra được cái lòng ủ rũ của thi nhân đốì với thế sự, cái mốì thương tiếc thiết tha của thi nhân đối với giang sơn.
Từ 1908 trở đi tới 1917, nhiều nhà văn ở Nam kỳ chịu sức xô đẩy của nhóm trí thức Bắc - Trung, đua nhau dịch truyện Tàu, in thành sách hoặc đăng lên báo.   Nhắc lại trong thời kỳ nầy, dân gian vô sự, thái bình, kiếm sách đọc mua vui. Trong các gia đình, ít lắm, cũng có một vài bộ: Tây Du, Phong Thần, Tống Địch Thanh…
Tiếng nói rằng dịch truyện Tàu, chớ thật sự nhà văn chỉ diễn ý theo họ, nương cốt chuyện mà kéo ra cho dài. Sách dịch bằng thế nầy, mất cả giá trị văn chương vì lốì văn dùng mà dịch không có quy tắc. Người ta chuyên chú về lượng chớ không quan tâm đến phẩm. Dịch giả giúp độc giả giết được thì giờ là mãn nguyện rồi.
Đây là văn xuôi, thứ văn còn phải chịu thay đổi nhiều mới xứng đáng làm nền tảng văn chương một nước.
Về văn vần, có lốì đặt theo điệu “vè”, “thơ”, “phú” và “ca”, gọi “ca trù thể cách”.
Nhà văn nương theo một chuyện thật, xảy ra gần họ, đã làm xôn xao dư luận rồi viết: vè “Đỗ Hữu Phương”, vè “Đốc phủ Ca”, vè “Con Cúc”…
…
Tóm lại, văn chương ở Nam kỳ từ 1865 đến 1917 có tính cách phổ thông chữ quốc ngữ bằng lối dịch sách Tàu và Tây. Cách hành văn còn đạo theo văn thể Tàu: cân đối, rườm  rà, êm tai. Ý tứ diễn ra không có thứ tự và nhứt là còn lờ mờ lắm.
Nếu có bản văn nào đầy ý nghĩa thì giọng văn đi từ lâm ly thông thiết đến cười cợt ngạo đời.
Văn xuôi chưa được dồi dào về hình thức và tư tưởng thì văn vần cũng không tiến được một cách đặc sắc.
Chúng ta tạm cho thời kỳ nầy (1865 - 1917) là thời kỳ phôi thai của văn quốc ngữ ở Nam kỳ.
*
Giai doạn thứ hai đi từ 1918, năm ấy trường Đại học Đông Dương mở cửa, tới năm 1926 hai cụ Phan về nước.
Nhắc lại, Tạp chí Nam Phong, một cơ quan truyền bá danh từ mới và điều hòa phần chữ hán với phần quốc văn, đã sống được một năm (1917). Tạp chí nầy đã tìm đường vào Nam một cách mạnh mẽ. Học sanh, người Nam kỳ ra Bắc ở trường Đại học trong mấy năm, có dịp chịu ảnh hưởng sâu xa của những luồng tư tưởng mới, được diễn ra bằng danh từ mới trong một tạp chí đứng đắn về mặt văn chương: Nam Phong. Trở về Sài gòn, mấy cựu sanh viên cao đẳng đem theo cách viết văn quốc ngữ mới, mới và cái hay trong chỗ mới đó mà phân phát cho gia đình tức là cho xã hội Nam kỳ.
Với Nam Phong, ông Phạm Quỳnh cổ động bảo tồn quốc túy, hòa tân cựu, lập nên một kho tài liệu chín chắn cho những bậc học giả muốn biết đại khái về văn chương học thuật của Tây phương hay tinh thần văn hóa của Đông Á.
Tiếp theo ông, mười năm sau có Hoàng tích Chu một cựu du học sanh ở Pháp, dạn dĩ thực hành lối văn xuôi mới, viết theo điệu văn Pháp trong tờ Đông Tây.
Văn “Nam Phong” khô khan, đầy chữ hán, thi văn “Đông Tây” gọn gàng nhưng hơi “sống sượng” vì nó theo văn Pháp từ ý tứ đến cách hành văn.
Năm 1915 ở Bắc, năm 1918, ở Trung, thi Hương đã bãi. Mộng làm quan đã tàn, các nho sĩ phải tìm nẻo xoay hẳn qua địa hạt quốc văn. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tiêu biểu cho phái “cất bút lông vào hòm sách cũ và bắt đầu cầm bút sắt”. Tiên sanh gieo “cái buồn thảm của một phần tử của giai cấp quý tộc ở thời kỳ sắp trúc đổ” trong văn chương. Tiên sanh “réo rắt cung đàn” ra những tiếng “toàn một điệu buồn bã, tức  bực, ủ ê, chán nản, bi quan” Quyển Khối tình con và những bài “luận thuyết con con, lý thú, ngộ nghĩnh” của Tản Đà đã đăng trong Nam Phong và Đông Dương tạp chí rải mầm lãng mạn trong văn chương Nam kỳ. Ảnh hưởng của Tản Đà đối với lớp tân học đã ra ngoài cái kết quả mong đợi.
Người yêu văn chương ở Nam kỳ đua nhau viết đạo mạo theo lốì “Nam Phong”, réo rắt theo lối “khối tình”, “giấc mộng” hoặc mới mẻ như Hoàng Tích Chu sau nầy. Một nhà văn ở Nam kỳ, ông Đông Hồ đã cho đăng bài lệ ký Linh Phượng ở một số Nam Phong năm 1928.
Ở thời kỳ nầy, văn nhơn ở Nam kỳ còn ít lắm. Văn chương đương chuyển biến dữ dội đặng thành một thứ văn  chương ứng dụng, bền bỉ.
Rủi thay! Một nguồn văn chương đầy ý nghĩ dâm ô, uế trược đổ ra chan cả mấy tỉnh Nam kỳ. Trên giải đất Đồng  Nai, làn văn chương ác hại đó thổi rất mạnh. Tiểu thuyết “tình” điệu “Hà Hương phong nguyệt”, “Người bán ngọc” tiểu thuyết “trinh thám”, “kiếm hiệp” điệu “Một mặt hai lòng”, “Cái nhà bí mật”, “Châu về hiệp phố”, “Lửa lòng” xuất bản dễ dàng và bán chạy như “tôm tươi”.
Người ta, nhứt là con trẻ, phải mê mệt vì hoan nghênh lắm. Và văn chương nầy cũng theo luật tự nhiên mà bị bỏ quên mất.
Sau lễ Đình chiến trận giặc Âu châu (1914 - 1918). Ngày 24/08/1919, nổi lên ở Nam kỳ phong trào “tẩy chay khách trú”.
Lần thứ nhứt, trong lịch sử báo giới Nam kỳ, chúng ta thấy hiện ra lốì văn “đánh lộn”. Các nhà viết báo đồng tâm hiệp lực kêu gào và cổ động buộc người Nam kỳ trong sáu bảy tháng thôi! kết “thành dây đoàn thê để binh vực quyền lợi An nam đối với khách ngoại bang”.
Cũng trong lối đó, Nguyễn Háo Vĩnh, người Nam kỳ đậu cử nhân tiếng Anh, về Sài gòn, ông viết quôc ngữ mắng “Annam điếc hay là cục đất!”. Chủ bút tờ Lục tỉnh tân văn, bây giờ dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Văn Của, bất bình, sanh ra một trận bút chiến “dài nhằng”.
*
...Tờ Thần Chung, gặp thời cuộc, làm việc hăng hái, dùng một lối văn mới mà lôi cuốn người. Những cây viết “cừ” như Phan Khôi, Diệp Văn Kỳ và Nguyễn Văn Bá lo tròn bổn phận.
Lối 1925, quyển Tố Tâm ra đời ở Hà Nội, băng rừng, vượt núi vào Nam kỳ. Nhiều người đọc đi đọc lại nhiều lần, đến thuộc lòng cả bức thơ của Đạm Thủy, Tố Tâm ở trong. Duyên cớ ấy là vì ‘Tố Tâm” mới, mới lắm.
Tác giả nó là ông Hoàng Ngọc Phách, một cựu sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm, gặp “trở lực” của phái “đạo đức”. Ông Phách nhiễm sâu phong vị của óc lãng mạn các thi sĩ Pháp. Tâm lý các vai truyện được tả đúng. Ái tình của họ được diễn đạt một cách châu đáo từ lúc mới sinh đến lúc kết liễu tàn ác một đời người. Tác giả quyển Phê bình và Cảo luận nói: “văn mới, truyện mới, cách bố cuộc có trật tự, có cơ mưu, có lý do, hành động theo tâm lý và giải cấu hợp tự nhiên...   Thật là cuốn sách của người có học và viết nghề”.
“Tố Tâm” tương tự “Khối tình con”, nhưng “Tố Tâm gieo giống lãng mạn bằng phương pháp Âu tây, còn “Khối tình con” gieo bằng văn thể Tầu.
Ông Hoàng Ngọc Phách đi cùng với Tản Đà trong chủ  nghĩa “than mây khóc gió” khi “cánh hồng bay bổng, tin nhạn vắng tênh” và đã làm cho nhiều nhà văn Nam kỳ để ý một cách đặc biệt.
Điệu “văn Tản Đà” Âu hóa ấy được làm khuôn mẫu trong một thời gian khá lâu”.
Kế đó, ông Hồ Biểu Chánh, một văn nhơn Nam kỳ, chuyên môn về lối văn chương tả chân. Nói đến tác giả của những quyển: Tỉnh mộng gia đình, Ngọn cỏ gió đùa, Thầy thông ngôn, Chút phận linh đinh..., nhà phê bình Thiếu Sơn cho ông Hồ là “một người có kinh nghiệm, hiểu rộng, biết nhiều về nhân tình thế thái, có quan sát, đã thâu vào cặp mắt tinh thần được nhiều bức tranh xã hội, một nhà tâm lý đã khám phá được nhiều điều bí ẩn ở tâm giới người đời”.
Lối văn Hồ Biểu Chánh rõ ràng vì thiết thật, diễn ra được một “luân lý xưa” đối chọi lại lối văn Hoàng Ngoc Phách bóng bảy mà lãng mạn. Có người nói điệu văn của tác giả “Tỉnh mộng gia đình” có tính cách dung hòa, nhưng “lượt bượt”, và, cùng với thời gian, sẽ mất. Dầu sao, sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh cũng làm vang động một thời, ông Hồ Biểu Chánh là một nhà văn đáng nhắc nhớ vì cũng cắm đặng một viên đá trên nền tảng văn chương ở Nam kỳ.
*
Vậy thì, văn chương ở Nam kỳ từ 1918 tới 1926, trải qua mấy lần thay đổi, bị những phong trào xã hội in vào. Văn chương đương tìm đàng đặng được phong phú thêm lại bị làn tư tưởng ô uế làm trở nên ủy mị, lỏng lẻo. Nhưng cái ảnh  hưởng sâu xa của văn Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, tuy gieo rắt mầm lãng mạn trong dân gian mà níu văn chương được ở trong vòng trật tự. Lần lần, văn chương đượm màu chánh trị, rồi đi qua lối tả chân của Hồ Biều Chánh. Thời kỳ nầy, văn xuôi ở Nam kỳ đương thay đổi thì văn vần nằm một chỗ.
Văn Pháp khởi sự được làm khuôn mẫu cho văn chương Việt nam rồi; nên cách hành văn đã trở nên gọn gàng và có thứ tự, dễ hiểu.
*
Giai đoạn thứ ba đi từ 1926 đến 1935, ngày báo Sống ra đời, nghĩa là hai năm sau khi tờ Đồng Nai chết.
Đồng Nai là một cơ quan truyền bá tư tưởng mới, theo điệu mới, của hạng người mới, đám trí thức du học ở nước ngoài về Nam kỳ.
Lối năm 1926 - 27 - 28 - 29, thiên hạ đua nhau gởi con, em qua tận Chánh quốc tìm cách học “mau” và “tắt”. Thình lình nạn kinh tế khủng hoảng hãi hùng đưa đến. Từ 1930 trở đi, giá lúa gạo sụt xuống quá sức tưởng tượng. Nhiều điền chủ phải bỏ hoang đất ruộng, chịu thiếu thốn mọi bề, rút cả con cháu đang học ở Pháp về nhà.
Một nhóm tân học, trẻ tuổi, hăng hái xuất hiện. Nhóm người chỉ quen với văn chương Pháp từ lúc còn nhỏ, lại bị thời cuộc ép tập viết quốc ngữ. Sẵn có sức học, sẵn có tư tưởng chín chắn, sẵn có lốì viết theo văn Pháp, các ông cứ viết văn quốc ngữ theo cách hành văn Âu tây. Phái văn nhơn mới gồm có các ông xuất thân ở trường Đại học, nào là y khoa tấn sĩ, nào cử nhân văn chương, cử nhân luật, cấp bằng Đại học triết lý, kỹ sư... hợp thành một khôi tinh vi để làm việc đúng đắn, theo một lối mới, có phương pháp và trật tự.
Các ông muốn phổ thông một thứ văn chương âu hóa mà gọn hơn của Hoàng Tích Chu. Thứ văn chương mới, đi từ cá nhân ích kỷ với Tố Tâm  đến chỗ gia đình xã hội. Văn thể có “mùi khoa học” quyết giết chết cái lối viết của tác giả “nhìn đối tượng bằng con mắt bao quát để tả một cách lờ mờ cái gì có thể tả tỉ mỉ được”
Chịu ảnh hưởng văn Pháp, lối văn “Đồng Nai” là lối văn tả chân, buộc nhà văn “bỏ hàng ngũ mình đi sâu vào xã hội để quan sát”, “làm quen với mỗi lớp ở xã hội, nghĩ với họ, ước vọng với họ, sống cái đời hoàn toàn của họ”.
…
Đó là văn chương đi theo sự sống còn của xã hội, nhứt là xã hội năm 1933: nạn thất nghiệp làm một đám thanh niên có học, không công ăn việc làm, đâm ra chán nản cuộc đời. Cũng vì sự chán nản ấy mà họ đưa ra những ý kiến buốn bã, ủy mị.
Trong lúc nhóm “Đồng Nai” hoạt động thì tờ Phụ nữ tân văn đã ra đời, từ ngày 2 tây tháng năm 1929, đem “phấn son tô điểm sơn hà; làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam”, sau khi tờ Thẩn Chung bị nghỉ, nghỉ luôn...
Tờ Phụ nữ tân văn chiếm một địa vị khá cao trong văn giới ở thời kỳ này. Số độc giả rải khắp ba kỳ. Được như vậy là nhờ có “một văn thể mới, rõ ràng, đọc lên thì hiểu liền, không dùng chữ cao kỳ mà câu văn có lý thú và xác thực” của ông Phan Khôi, một nhà học giả có sức nho học, biết đem “cái học cũ... sẵn có” hòa với “cái học mới vào”.
Những bài của ông viết, đầy tư tưởng, lý luận, đã gây ra một dư luận ngộ nghĩnh về văn chương.
Như tiên sanh kết án phái “học phiệt” (một hạng người cũng sao có học vấn, có tư tưởng, nhưng phải cái tánh tự cao tự phụ quá, dường như muốn chuyên chế dư luận, chỉ lên mặt làm thầy người ta chớ không chịu người ta chỉ trích đến mình bằng một bài tựa đề: “Cảnh cáo các nhà “học phiệt” sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim về sự phê bình cuốn Nho giáo”.
…
Phụ nữ tân văn chẳng những săn sóc nữ giới mà thôi. Phụ nữ tân văn lại còn một cách thiết thật lo cho xã hội; một “hội chợ phụ nữ” long trọng được tổ chức cách châu đáo ở Sài Gòn. Tiền thâu vào quỹ hội chợ được truất ra “lập học bổng”. Việc nầy đã thành thiệt sự và hôm nay cũng kết quả: anh học trò tốt phước được lựa du học bên Pháp vào trường Đại học lâu rồi.
Ảnh hưởng tờ Phụ nữ tân văn đổì với văn chương ở Nam kỳ không ít. Văn nhơn viết ra lối văn mới, dễ, gọn và đầy ý nghĩa.
Ngày 22 tháng giêng 1935, báo Sống ra đời muốn “gây cho cuộc đời ...một sự sống tươi cười, ấm áp, mạnh mẽ, hoạt động hơn... một cuộc đời đầy bông hoa và ánh sáng...”; khuyên “ta luôn luôn phải biết vui sống, biết yêu đời” vì “có biết vui sống, có biết yêu đời thì mới nghĩ làm cho cuộc đời...cho sự sống càng ngày càng sáng sủa vẻ vang”.
Báo Sống chào sự sông với tôn chỉ nhứt định:
Sống “trình bày cho quốc dân cái dư luận, cái khuynh hướng chung của người trong nước, làm cho quốc dân biết cái địa vị, cái thân phận mình trong trường sanh hoạt ganh đua của thế giới; gây cho nước có một nền văn chương sáng sủa, giản dị, vui vẻ, hợp với sự sống trong thời kỳ đó; tùy lúc, đem văn chương mà bày tỏ, tả vẽ những cái hay cái đẹp của phong cảnh non sông, đất nước nhà... để khiến cho ai ai cũng có lòng yêu nòi giống, yêu đất nước một cách giản dị mà thành thật...”. Báo Sống có nhiều bài bàn đến vấn đề thực tế như: “Nghề làm ruộng”, “Dân cày với thầy giáo”, “ vấn đề tơ lụa”... Báo Sống đưa ra một điệu văn nửa cũ nửa mới: cũ của phái nho học chín chắn; mới của phái tân học viết không sống sượng.
Báo Sống chỉ ra được 31 số rồi đến 15 tháng mười 1935 phải đình bản. Tuần báo như Sống đáng lẽ phải sống thêm vì được các bậc học giả ở Nam kỳ chú ý một cách đặc biệt. Báo Sống dầu có một cái duyên ngắn ngủi với nhà văn nhưng nhà văn không bao giờ quên nó và vẫn giữ những cảm tình êm dịu với nó vì nó đã có một khuôn mặt “bảnh bao” trên văn đàn.
Từ 1926 đến 1935, chúng ta có thể nói văn chương ở Nam kỳ tiến nhiều và nhuộm màu sắc quốc gia, xã hội thây rõ rệt...
Sở dĩ văn chương ở Nam kỳ trong giai đoạn nầy được tấn bộ như vậy là vì, một phần, nhờ ảnh hưởng tốt của nhóm “Tự lực văn đoàn” ngoài Bắc.
Các nhơn vật trường sanh như “Lý Toét”, “Xã Xệ”, “Bang Bạnh” của phái Nguyễn Tường Tam tạo ra, các nhân vật ấy được các nhà văn tân học ở Nam kỳ hoan nghênh lắm. Với giọng khôi hài chua cay, với lối văn “Âu hóa” mới của “Hồn bướm mơ tiên’’ nó mở một kỷ nguyên mới trong văn giới Nam  kỳ. Nhà văn đua nhau viết “lối mới” đi một lượt với các tờ Mai, Đồng Nai, Phụ nữ tân văn, Sống, như tờ Đông Dương và với tờ Văn Lang ở mấy năm sau nầy.
Buổi nầy nhà văn dường như biết dung hòa “văn thể tàu” với “văn thể tây” làm ra một thứ văn chương riêng cho người Việt Nam: lối tả tình bằng giọng văn gọn gàng dễ hiểu; tư tưởng xưa và nay quan niệm có thứ tự của khoa học; cốt  chuyện mà nhà văn đưa ra gần giống với cuộc sống còn của thế gian; tâm lý của các nhân vật được hiểu rõ cách tinh tường hơn. Những bộ tiểu thuyết tình, về gia đình, như Mảnh trăng thu, Người vợ hiền đăng ở báo Phụ nữ tân văn trước khi xuất  bản thành sách, cắm được một cột trụ lớn trong văn giới ở Nam kỳ.
Tờ Loa cũng đáng nhắc nhở như tờ Tiểu thuỵết thứ bảy. Hai tờ nầy chiếm một số độc giả cao trong Nam kỳ. Tờ ‘Tiểu  thuyết thứ bảy” được các lớp ở xã hội Nam kỳ đọc một cách mê mẩn. “Mốt” “Cát Tường” và mục “Ồng tơ bà nguyệt” của Loa còn được người ta thỉnh thoảng nói lại.




Chủ Nhật, 13 tháng 4, 2014

Hoài cảm

                                        Chiều buồn len lén tâm tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa
Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa

Quạnh hiu về thấm không gian
Âm thầm như lấn vào hồn
Buổi chiều chợt nhớ cố nhân
Sương buồn lắng qua hoàng hôn

Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa

Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối
Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?

Chờ nhau hoài cố nhân ơi!
Sương buồn che kín nguồn đời
Hẹn nhau một kiếp xa xôi,
nhớ nhau muôn đời mà thôi!

Thời gian tựa cánh chim bay,
Qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vui?
Nhớ thương biết bao giờ nguôi?

Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ?
Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ, thấy nhau lần nữa

Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối
Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?

Chờ nhau hoài cố nhân ơi!
Sương buồn che kín nguồn đời
Hẹn nhau một kiếp xa xôi,
nhớ nhau muôn đời mà thôi!

Thời gian tựa cánh chim bay,
Qua dần những tháng cùng ngày
Còn đâu mùa cũ êm vui?
Nhớ thương biết bao giờ nguôi?

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

Gọi đò

Quê cũ tôi ngày xưa - một cái làng nhỏ nằm ven con sông Đáy, có cái nghề truyền thống là trồng dâu nuôi tằm dệt vải, nên ra ngoài đê là bát ngát những ruộng dâu, thấp thoáng những cái khăn mỏ quạ của đám đàn bà con gái hay lam hay làm. Nói đến nương dâu là nói đến ươm tằm dệt vải, là nói tới cô The cô Lụa, hay những cái tên sến xẩm quê mùa. Là nói tới những cuộc mây mưa bất chợt nhưng hiếm hoi vụng trộm bên sông hay cuối vụ đầy chất thơ, một phần cái Dục, chín phần cái Tình. Cơ mà cũng đa đoan bỏ mẹ.

Nhưng mà thôi, hôm nay tôi tâm trạng nên đéo kể hầu được cái thiên vụng trộm tang dâu ấy, mà tôi sẽ kể chuyện này hầu các anh chị. Vâng, chuyện là thế này …

Làng tôi bên con sông Đáy. Thuở ấy làm gì có cầu, đi lại giao thông họp chợ đều phải qua cái bến đò, chả biết có từ bao giờ, cơ mà người ta gọi là bến Nguyệt. 

Người lái đò trên bến Nguyệt là gã trai tên Lãng. Y là dân ngụ cư, miếng đất cắm dùi chả có, nghèo mạt hạng, quanh năm vận có mỗi cái quần chân què buộc giải rút, lấy con đò rách làm kế sinh nhai kiêm luôn chỗ che mưa che nắng.

Y tới đây chừng 4 hay 5 năm gì đó, thế chỗ sau khi cụ Khìa mất.

Ở quê tôi, vào cái thời loạn lạc ấy, gái trai nên duyên sớm lắm. Chả biết có phải người ta cũng đương phải sống gấp sống vội trong cái oi bức của thời thế hay cái mong manh phận người hay không nữa, nên con gái chừng 14 hay 15 là có nơi có chốn cả, và dĩ nhiên con trai cũng thế. Nếu muộn hơn chừng như hăm mấy ba mươi thì có chăng là người ta cưới thêm vợ lẽ.

Ây vậy mà Lãng chừng gần ba mươi vẫn một mình, mặc dù y thuộc loại to khoẻ sốc vác. Hơn nữa lại có cái vẻ ưa nhìn kiểu rất đàn ông với khuôn mặt vuông chữ điền điểm thêm đôi mắt sáng thông minh.

Đàn bà con gái xứ này mỗi khi qua đò, ai mà chả liếc mắt rồi đôi khi để quên cái nhìn của mình trên cánh tay rắn chắc hay bờ vai rộng lấm chấm mồ hôi đưa đò của Lãng. 

Cơ mà trong cái miên man xa xỉ ấy, thì cái đò cũ rách và phận ngụ cư của y là gáo nước lạnh dội vào mặt làm người ta tỉnh táo và cảnh giác ngay tắp lự.

Nhà của y là con đò. Giang sơn của y là con sông. Và bạn của y – duy nhất là anh Mõ. Anh Mõ thì ai còn lạ gì, lúc nào chả “chiềng làng chiềng chạ "…và dĩ nhiên anh cũng là dân ngụ cư, nhưng là dân ngụ cư duy nhất được ở trong làng.

Lãng vẫn lặng lẽ một mình cần mẫn với công việc, lễ phép với tất thảy mọi người . Những câu nói vẫn thường trực trên mồm : dạ, lạy cụ …dạ chào cậu chào mợ… vâng xin mợ hai hào, cả tiền hôm trước ạ ….

Một chiều mưa cuối hạ, y ngồi thu lu hong quần trong con đò ấy. Vào cái tiết nông nhàn đâm người ta ít việc, chợ phiên họp cũng thưa thớt, chả ai gọi đò. Đâm chán, ngồi tựa vách nứa y suy nghĩ miên man, mơ hồ như ai gọi đâu đây.

Lãng giật mình tỉnh dậy dụi mắt, thì ra là mơ mòng. Nhìn ra ngoài đã thấy tối giời, giăng đã lên nhạt màu. Nhìn xuống xung quanh, những con sóng bàng bạc đang xô nhẹ vào mạn đò mà vỗ óc ách …, mới hay đò đã ở giữa sông….

Lại nghe tiếng gọi “đò ơ oooooơ….”

Lần này thì thật. Chắc chắn. Y vểnh tai nghe tiếng gọi bên kia sông…
- Đò ơi ới ời…..
- Vâng , chờ tí…

Y cuống cuồng bận thắt lại cái dải rút quần màu nâu gụ, rồi khua mái chèo về hướng khách.
Khách là một cô gái, đúng là một cô gái rất trẻ. Dưới ánh trăng ngà ngà, cô chít cái khăn hoa bằng vải lụa, lại vận cái áo bà ba cổ tròn kiểu tân thời, cả cái quần lụa đen sa – tanh nữa. Cô như người thành thị chứ không quê mùa như mấy cái váy đũi hằng ngày vẫn sang sông.

Y mạnh tay chèo cho con đò húc chạm nhẹ vào bờ, rổi nhảy xuống đon đả: lạy mợ, mợ đi đâu muộn thế?
- Vâng, anh cho tôi qua sông. Tôi về thăm nhà.
- Dạ, vâng ạ. Mợ đưa tôi xách cái làn cho nhẹ tay.

Con đò tròng chành ngược qua sông….

Lạ thật, một cảm giác rất lạ. Trong mấy năm đưa đò, hàng nghìn hàng vạn con người qua lại, chả ai khiến y phải tò mò như thế. Cô gái con nhà ai ở cái làng này mà y chưa hề biết? Cách cô ăn mặc thế thì hẳn cô ở thành thị rồi, chắc cô đi lâu ngày mới về.

Con đò trôi nhẹ giữa sông, gió hiu hiu, tiếng mái chèo bì bõm, thi thoảng lẫn tiếng con cá sộp quẫy đuôi đớp mồi lụp bụp.

Cô gái ngồi trên mạn thuyền, cả cái dáng ngồi cũng trang đài quý phái. Cô để tay lên gối vắt chéo chân, điềm nhiên nhìn sông nước.

Dưới ánh trăng mờ, cô có khuôn mặt non tơ, chừng mười lăm mười sáu, hơi gầy. Mà tiểu thư thường hay thế. Gớm, các cô cứ hay thỏ thẻ, yếu đuối nên hay bị giữ chặt trong nhà, lâu lâu mới được ra ngoài nên nhìn mảnh mai và cớm nắng lắm. Nhẽ cô này...?

Dòng miên man suy tư của y bị cắt ngang khi cô gái lên tiếng: anh vẫn thường đưa đò cả buổi khuya thế này à? Lỡ giấc anh tôi ngại quá.
- Vâng, thưa mợ, tôi kiếm cơm bằng nghề này thì khuya hay sớm chả sao.
- Thế thì tốt, vì tôi chỉ thăm thầy u được một hai ngày, mai lại đi. Lỡ có khuya thì phiền anh vậy.

Rồi cô nở nụ cười ý nhị, không dấu được sự ngại ngùng bẽn lẽn.
- Vâng, mợ cứ gọi. Ở làng này ai có việc qua sông cũng thế cả.

Con đò tròng chành nhẹ rồi cập bến sông. Y nhảy xuống trước, buộc dây chão neo lại với cây sào, lễ phép: thưa mợ, sang bến rồi. Mời mợ.

Cô gái khẽ đứng lên, rồi bất chợt vịn mạnh vào vai y theo cái đã tròng chành vô duyên vô cớ của con đò.

Trong thoáng phút giây, một mùi hương thơm nhè nhẹ thoảng qua, cả hai cùng bối rối.

Cô bước nhanh xuống rồi lí nhí: anh cho tôi trả tiền.
Y chỉ lắp bắp: dạ mợ cho xin một đồng ạ.

Chỉ thoáng chút, bóng cô mất hút trên con đường nhỏ dẫn vào cổng làng.

Lãng bật dậy trong tiếng gọi tru chéo bên sông của chị em mụ Doan hàng xén. Mặt trời đã lên cao.


Ơ, lần hiếm hoi y ngủ như chết.

Lật đật chống sào sang sông, y lục lọi lại trật tự thời gian trở về đêm trước, rồi tự cười một mình: ừ, xinh đáo để.

Bất chợt mùi hương, lại mùi hương không thể lẫn vào đâu được, mùi hương của cô gái, chỉ thoang thoảng nhưng khiến người ta ngây ngất, một mùi hương vừa lạ vừa quen.

Lãng quẹt cái đóm vào bếp, rồi ngửa cổ rít điếu thuốc. Lâu lắm mới có dịp ngồi chuyện với anh Mõ, mà anh Mõ thì luôn có rất nhiều thông tin. Cùng là dân ngụ cư, những chuyện ở cái làng này từ xa xưa tới giờ, anh thuộc giống như y thuộc từng luồng nước trên bến sông này, từng đoạn nông sâu, từng mùa đầy cạn.

Thế nhưng hôm nay cả hai ngồi im, chả hiếm khi như thế. Cả cái làng này có bao người, nhẵn mặt cả, có chăng chỉ chuyện đói khát loạn lạc từ nơi xa xôi nào đó.

Hôm nay là ngày thứ hai, y nhớ rõ buổi hẹn đò ấy, phần vì đó là cái nghề, phần vì cái gì thì y cũng đang tự vấn. Và y thấp thỏm chờ.

Những lúc vắng người, công việc quan trọng khác của y là câu cá hoặc giăng lưới. Cái lưới mắt thưa cũng tả tơi như phận chủ. Cá ở đây không nhiều tuy nhiên nếu có cá to mắc lưới thì y còn lo rách lưới hơn là mừng.

 Trăng lên cao dần, nhưng hôm nay chả có con nào cắn câu hay mắc lưới, nếu ngày mai không ai sang sông, không có mẻ cá nào vớt vát, dĩ nhiên cầm chắc uống nước sông cầm hơi.

Đang cơn lo lắng bâng khuâng, tiếng gọi đò trong trẻo cất lên, y nhận ra ngay nên đáp với lại:
vâng, thưa mợ , tôi qua ngay …

Rồi vội vã thu lưới, chống sào hướng vào bờ.

Cô gái không còn bẽn lẽn như hôm trước, cô dạn hơn, chờ mui đò ghé sát, cô nhẹ nhàng bước lên, xách theo tay nải đựng chùm ổi chín, phảng phất hương thơm.

Phải, mùi ổi chín. Nó nhẹ nhàng mà gần gũi lạ lắm
.

Y nghiêng người, căng cơ vai dồn toàn lực đẩy con đò rời mép nước.

Giấu cái nhìn len lén điệu đà cô gái làm thinh, hôm nay cô vấn tóc cao, hở cái cổ non trắng kiêu kỳ, khẽ cúi đầu vân vê tà áo. Dường như cô tránh nhìn y, nên cô dấu cái nhìn xuống cánh mũi xinh xinh.

Để dấu cái sự lúng túng của mình, y phá vỡ sự im lặng.
- Tôi hỏi khí không phải, cụ thân sinh nhà ta là ai ạ?
Một thoáng bối rối, cô gái khẽ cất tiếng: dạ, tôi là con cụ Bân.

Ô, thảo nào. Cụ Bân thì y biết. Nhà cụ giàu nhất nhì làng, cơ mà cụ khó tính lắm, chả ai dám lơ mơ với cụ, đến cụ lý còn phải nể cụ đến vài phần. Cơ mà cụ khép kín lắm, mà ngay cả việc nhắc đến cụ mà người làng còn e dè nữa là…

Thế nên đương nhiên là chưa bao giờ y nghe người ta nhắc đến tiểu thư nhà cụ.

Rồi cô gái ngỏ nhẹ tiếp: vâng, thầy u tôi hiếm con nên có mình tôi, hiềm nỗi xa xôi, nên nhiều khi muốn thăm nom mà chả đặng, phận làm con thật chả ra gì.

Rồi cô đưa mắt nhìn ra xa...

Y nghe như nuốt từng lời, và y còn thấy cả trong đôi mắt đẹp kia dường như có hai giọt nước long lanh chảy xuống.

Cô định kéo vạt áo lên, rồi lúng túng buông ra, đoạn lấy khăn trong túi áo mà che mặt khóc nức nở.

Bờ vai gầy của cô rung lên theo tiếng nấc, cô khóc sướt mướt như chưa từng khóc.

Lãng bối rối ngưng tay chèo. Lại gần cô, anh cẩn thận giữ lễ:
- Thưa mợ, mợ đừng buồn nhiều, mợ thì còn trẻ, thiếu gì thời gian chăm sóc hai cụ. Hơn nữa phúc nhà cụ còn dày nên hai cụ còn khoẻ lắm, tôi biết mà …, như tôi đây này, từ tấm bé cun cút một thân một mình, nào có cha mẹ để mà thương, nhiều khi muốn khóc còn chả được.

Cô gái ngẩng lên, đưa đôi mắt buồn ầng ậng nước nhìn anh như chia sẻ, rồi bất chợt cô chìa tay nắm lấy bàn tay thô ráp của y.
- Vâng, anh nói phải. Tôi lúc nào cũng thương thầy u lắm …

Đò cập bến sông, cô gái dúi vào tay Lãng một đồng rồi bước lên bờ chông chênh.

Y lập cập nói với theo: mợ đi cẩn thận, trời khuya thế này...

Bóng cô gái đã khuất sau rặng dâu xanh.

Con đò bồng bềnh trên sông, cả cái khoang nhỏ vốn rách nát chắp vá, hôm nay như rất lạ lẫm với y. Chỗ nào cũng vương hương ổi chín.

Và y càng bất ngờ hơn, một quả ổi chín to như cái ấm pha trà đặt ngay ngắn bên bậu cửa, rõ ràng có chủ ý.

Y duỗi chân nằm thẳng cẳng rồi vắt tay lên trán mỉm cười, chả hay sóng vỗ con đò bồng bềnh hay chính y bồng bềnh nữa, vì y biết, tối mai cô ấy lại sang đò.

Quãng thời gian đưa đò có hàng nghìn câu chuyện, hàng vạn lý do, nhưng tất cả chỉ là công việc, mà y hoàn thành rất tốt. Nhưng cái hẹn đò này không như hàng trăm cái hẹn đò khác, y thực sự nôn nao, hồi hộp và đợi chờ. Y trông cho thời gian qua nhanh hơn.

Trăng tháng bảy tròn vành vạnh, mới tắt nắng chiều thôi đã thấy trăng lên rồi. Y loay hoay cơi nới lại chỗ ngồi, thu gọn tấm lưới cũ, chỉnh sửa vặn vẹo lại cái sào. Chợt y lo lắng, trong cái nhạt nhoà trên bầu trời lem nhem tối, có dấu hiệu của một cơn mưa khi mây đen đang dâng lên phía đông. Theo kinh nghiệm, biết chắc một cơn mưa sẽ tới, vấn đề chỉ là thời gian.

Sự lo lắng trở nên thực tế hơn bao giờ khi mà những tia chớp loằng ngoằng đe doạ và tiếng sấm bắt đầu rền rĩ theo hướng lan toả của đám mây đen.

Lãng bắt đầu lo lắng, dù chỉ là cơn lo lắng mơ hồ, nhưng nó nhẹ nhàng len lỏi vào những góc khuất nhất trong tâm hồn. Nó như hương ổi chín thơm lừng, ngạt ngào nhẹ nhàng nhưng mơn man lan toả. Trái tim trai của Lãng như đang run rẩy ngọt ngào.

Không ngoài dự đoán, nửa bầu trời đã bị mây đen che phủ, một màu đen thăm thẳm nặng nề. Sấm chớp vang rền, gió bắt đầu gào lên báo hiệu cho một trận cuồng phong phẫn nộ.

Một ánh chớp xanh lè quét vội, tiếp ngay sau là tiếng sét chát chúa bên tai.

Lãng lo thực sự.

Y quýnh quáng cong người, góp hết sức trai chống sào đẩy con đò qua bến chợ. Y cầu mong cô gái nhanh chóng tới hoặc đã đứng chờ.

Con đò ngược gió, tròng chành qua bên kia sông. Gió ầm ầm thổi đánh thức con sóng hiền lành thành hung dữ. Gió quất vào mặt y những cái tát rát rạt.

Với kinh nghiệm từng trải và sức trai vạm vỡ, con đò cũng qua sông, chạm mũi vào triền đất quen thân.

Trời bắt đầu đổ mưa lắc rắc, hạt mưa như quả trừng gà, rơi lộp độp, chỉ dấu của một trận tơi bời.

Không ai đợi y cả, y hoang mang, lo lắng thực sự.

Y nhảy lên bờ, bắc tay lên miệng gọi vống : mợ ơi, tôi tới rồi...
Tôi tới rồi mợ ạ, mợ đâu ròioooooôi…

Chả ai đáp lại, chỉ có con đê vắng im lìm trong màn tối và nương dâu cũng đang oằn mình trong cơn gió quật, lem nhem hiện hữu trong ánh chớp liên hồi.văn

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Trừ tệ tham nhũng – tăng lương quan lại và kiểm soát quan lại – hai phương pháp ấy đằng nào hiệu quả hơn?



… Trước đây lương của quan lại chẳng có bao nhiêu, một viên tri huyện mỗi tháng chỉ được hai quan tiền và hai hộc gạo, một viên tri phủ mỗi tháng được bốn quan tiền bốn hộc gạo mà thôi. Thế mà trong chốn quan trường vẫn giữ được thanh liêm, ít người phạm tội hối lộ. Tới nay lương của quan lại đã nhiều gấp trăm ngày trước, mỗi viên tri huyện hạng ba mỗi tháng được 150 đồng, một viên tri huyện hạng nhì mỗi tháng được 180 đồng. Như vậy mà cái nạn hối lộ vẫn có, đủ rõ sự hối lộ không do ở ít lương.
Có người nói, ngày xưa một khác, bây giờ một khác, không thể đem mà so sánh với nhau. Xưa kia vật dụng rẻ rúng, tiêu pha ít ỏi, quan lại tuy ít lương mà vẫn giữ được thanh liêm vì chi dụng đã đủ. Đên bây giờ đồ ăn thức dụng cái gì cũng đắt gấp mấy ngày xưa, số lương không đủ chi tiêu cho nên mới sinh tham nhũng.
Nói vậy thật vô lý. Bây giờ vật dụng đắt hơn ngày xưa thì số lương quan lại cũng đã cao hơn ngày trước nhiều lắm rồi. Nếu quan lại biết giữ đức thanh liêm, số lương của một mình cũng đã đủ cho một nhà phong lưu dư dụng. Xem như những viên thông phán, giáo học cũng cùng bị cái ảnh hưởng đắt đỏ mà sao ít thấy có người mắc tội tham nhũng như các viên quan lại?
“Quan lại sinh ra tham nhũng bởi nhiều cớ:
- Vì dân ta chưa hiểu pháp luật, gặp việc khó khăn đến mình thì muốn đút lót cho nhanh việc, cho khỏi tội cho nên quan lại mới dễ lấy tiền.
- Vì xã hội ta đương giao thời, học thuật tư tưởng thay đổi, nhiều đạo đức cũ đã bị đánh đổ, đạo đức mới chưa gây dựng nên, cái hồn liêm sỉ đã không còn, cái tệ tham nhũng mới bành trướng.
- Việc giám sát quan lại chưa hoàn hảo, bọn chúng dễ dùng thủ đoạn khôn khéo mà che giấu, vì thế tệ tham nhũng vẫn diễn ra mà ít người biết”.
“Trừ tệ tham nhũng mà chỉ dùng cách tăng lương, chẳng khác gì công nhận sự hối lộ là vô tội.
Muốn trừ tệ tham nhũng phải dùng ngay hai cách:
1.   Phải đưa quyền giám sát quan lại thật sự giao lại cho dân, các hội viên hàng huyện, hàng tỉnh do dân cử có quyền “đàn hạch” (kiểm soát) công việc của quan lại, nếu xét ra việc đàn hạch quả đúng, thì quan lại bị đàn hạch phải chịu trách nhiệm.
2.   Phải có một bộ thanh tra quan lại hoàn hảo và lớn hơn ngày nay để soi xét được hết sự ám muội của những quan lại tham nhũng”.

Bắc Hà
Phổ thông, Số 131, 1930