Khiemnguyen

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Book Dư luận xã hội (phần 3)

(Nguyễn Bùi Khiêm)
II.1.1 Các cơ sở chung
a. Văn hóa (đặc biệt là văn hóa truyền thống) là cơ sở quan trọng trong
việc hình thành nên dư luận xã hội. Như ở phần trên chúng tôi đã trình bày, dư
luận xã hội là một dạng biểu hiện của ý thức xã hội, một cấu trúc tinh thần -
thực tiễn, như vậy dư luận xã hội bao gồm cả tập quán, truyền thống xã hội,
những phán xét về giá trị, chuẩn mực,... những nhân tố căn bản cấu thành nên
một nền văn hóa. Bên cạnh đó, nếu như thái độ của cá nhân và cộng đồng là hạt
nhân hình thành nên dư luận xã hội thì văn hóa là nền tảng để hình thành nên
nhân cách cá nhân, cộng đồng, và từ đó nảy sinh thái độ của họ.
Văn hoá là một khái niệm phức tạp, có thể được hiểu theo nhiều cách
khác nhau tuỳ vào cách tiếp cận. Tuy nhiên, trong những nghiên cứu cụ thể,
các nhà nghiên cứu luôn tìm ra một khái niệm thao tác để khuôn định phạm vi
nghiên cứu văn hoá của mình. Trong một chừng mực nào đó, các nhà xã hội
học thường nhấn mạnh đến văn hóa như là cách ứng xử, chia xẻ những giá trị
chung của một cộng đồng nhất định. Bằng hàng loạt các giá trị mà cộng đồng
theo đuổi, cộng đồng có những cách ứng xử và hình thành những thái độ nhất
định đối với các giá trị đó. Ở mỗi bối cảnh nhất định, mỗi xã hội nhất định, một
số giá trị nào đó được đề cao, hướng sự quan tâm của cộng đồng vào nó, dư
luận xã hội vì thế cũng được định hướng. Với các xã hội Việt Nam trước thế kỷ
20, khi mà các phương tiện thông tin chưa phổ biến, với cách ứng xử phổ biến
là truyền miệng dưới các dạng thơ, ca, hò, vè thì dư luận xã hội được hình
thành theo các con đường của văn nghệ dân gian. Với xã hội Pháp vào nửa sau
thế kỷ 19, dư luận xã hội lại được hình thành bằng những câu chuyện ngồi lê
đôi mách, qua sự tụ tập của quần chúng ở những tụ điểm sinh hoạt công cộng
như những tiệm café chẳng hạn (xem Robert Darnton). Cũng như thế, dư luận
xã hội ở một quốc gia Tây âu được hình thành có thể khác với cách mà dư luận
xã hội ấy hình thành ở một quốc gia Đông Á hay một bộ tộc nào đó ở châu Phi.
Mỗi một cộng đồng đều mang một bản sắc văn hóa nhất định, qua đó,
phân biệt với các cộng đồng khác. Cách thức hình thành dư luận từ cộng đồng
cũng theo những cách riêng biệt. Thông tin của những nhóm tiểu thương hình
thành cơ bản khác với thông tin được tạo ra từ các nhóm trí thức. Cách lan
truyền và độ tin cậy cũng khác nhau, mục đích và mối quan tâm cũng không
giống nhau. Những dư luận xã hội được hình thành từ những thông tin này cũng
mang những đặc trưng khác.
Dư luận xã hội có thể được hình thành theo hai chiều: từ trên xuống (từ
giai cấp cầm quyền, những người lãnh đạo xã hội) và từ dưới lên. Dù rằng, dư
luận xã hội kiểu này có bản chất chính trị, song, văn hóa cũng đóng một vai trò
quan trọng. Cách mà người ta mong muốn thông tin trở thành dư luận xã hội -
từ cả hai chiều - có nhiều nét văn hóa. Chẳng hạn, những thông tin từ dưới lên
muốn được trở thành dư luận xã hội để được tầng lớp cầm quyền xã hội quan
tâm, có thể được đề đạt công khai hay được ngụ ý dưới các dạng ngôn từ nhất
định là có ý nghĩa văn hóa. Một xã hội đề cao cá nhân thì những thông tin có
thể được đưa ra trực tiếp qua các phương tiện trung gian (truyền thông) và trở
thành dư luận, trong khi đó, một xã hội đề cao tính cộng đồng thì thông tin lại
có thể được bàn bạc kỹ ở mức độ cộng đồng trước khi có thể trở thành một
thông tin cơ sở cho việc hình thành dư luận xã hội.
Văn hóa được xem là cơ sở hình thành dư luận xã hội còn bởi lẽ, dư luận
xã hội mang bản sắc văn hóa. Xét theo chiều thời gian, dư luận xã hội biến đổi,
thay đổi sự quan tâm của nó mang bản chất văn hóa, theo sự quan tâm của cộng
đồng, những chuẩn mực, giá trị mà cộng đồng đó hướng tới, những gì mà họ
cho rằng nên theo và không nên theo. Chúng ta đều thấy rằng, những vấn đề
của xã hội ngày hôm này khác nhiều so với những vấn đề mà các xã hội trước
gặp phải và cũng sẽ khác với những vấn đề của xã hội tương lai. Mỗi thời kỳ,
các xã hội gặp nhiều vấn đề riêng của các xã hội ấy và có những cách nhìn
nhận, đánh giá, giải thích riêng. Người nông dân Việt Nam những năm trước
đổi mới có những mối lo khác với những người dân những người dân Việt Nam
hiện nay, cũng như vậy khi xem xét các đối tượng khác với những trật tự thời
gian khác.
Xét theo chiều không gian, những nhóm xã hội khác nhau có những tiểu
văn hóa khác nhau, những tiểu văn hóa này được vận hành trong một nền văn
hóa chung, dư luận xã hội lại được đề cập trong mọi nhóm xã hội, và được các
nhóm thể hiện thái độ bằng hệ quy chiếu văn hóa của họ. Ví dụ, xét về khía
cạnh tôn giáo, những người theo tôn giáo có thể có dư luận khác với những
người không theo tôn giáo về một số vấn đề có liên quan đến đức tin tôn giáo
của họ,...; xét về khía cạnh trình độ học vấn: Những người trí thức có thể hình
thành nên những dư luận khác với những người có trình độ học vấn thấp hơn về
một số vấn đề cụ thể do khả năng nhìn nhận vấn đề khác nhau giữa họ; xét về
tiêu chí vùng miền: Những người Việt Nam có thể hình thành nên những dư
luận xã hội khác với người dân Mỹ về nhiều vấn đề;... Vì vậy, khi nghiên cứu
dư luận xã hội trong bối cảnh xã hội Việt Nam, người ta cũng có thể thấy hoặc
cũng cần chú ý đến những dư luận xã hội mang "màu sắc" Việt Nam. Chẳng
hạn, những phản ứng xã hội hình thành nên dư luận xã hội sẽ nhanh khi những
vấn đề, quá trình xã hội nảy sinh đụng chạm đến những vấn đề mà văn hóa Việt
Nam coi trọng (những chuẩn mực đạo đức như trọng xỉ, những quan hệ trong
gia đình như hiếu, đễ, hay công - dung - ngôn - hạnh của phụ nữ,...).
Dư luận xã hội là một thực thể tồn tại độc lập nhất định, nó vừa được tạo
thành bởi các nhóm xã hội, vừa gây áp lực để hình thành nên thái độ đối với
nhóm xã hội ấy, vì thế, bản thân nó cũng hình thành luôn một văn hóa. Người
ta luôn cho rằng, khi dư luận xã hội xuất hiện về một vấn đề gì đó cũng có
nghĩa là trong xã hội có "vấn đề", "vấn đề" ấy là một trong những đối tượng của
xã hội học. Xét về khía cạnh văn hóa, bản chất của vấn đề này có những lý do
từ văn hóa.
b) Kinh tế
Không chỉ những người theo học thuyết của Marx (thường được xem là
hay chú ý đến nguyên nhân kinh tế trong các giải thích) mà mọi nhà nghiên cứu
về dư luận xã hội đều đồng ý với nhau rằng, kinh tế ảnh hưởng quan trọng đến
việc hình thành dư luận xã hội vì kinh tế là vấn đề quan trọng trong quá trình
sinh tồn của mỗi cá nhân nói riêng và xã hội nói chung. Kinh tế là vấn đề rất
nhạy cảm của cuộc sống cộng đồng, vì thế, chính ở đây nảy sinh nhiều nhất
những tranh cãi xã hội, những xung đột lợi ích, đó là những tiền đề để hình
thành dư luận xã hội.
Con người tồn tại trước nhất, xét về một khía cạnh nhất định, đó là con
người kinh tế (homo-economicus). Bản chất của một con người kinh tế là vì
bản thân sự sinh tồn cho chính mình, vì thế, mọi xung đột có liên quan đến lợi
ích của cá nhân anh ta đều nhận được những phản ứng, thái độ quan tâm cao.
Một sự kiện xã hội muốn trở thành dư luận xã hội phải nhận được sự quan
tâm của cộng đồng ở một mức độ nhất định. Như vậy, một sự kiện xã hội có
liên quan đến kinh tế dễ dàng trở thành mối quan tâm chung của mọi người hơn
những vấn đề khác. Rõ ràng là, với việc chia ra ba cấp độ thông tin với công
chúng: cần thiết, có thể cần thiết và không cần thiết, bao giờ vấn đề liên quan
đến kinh tế cũng đụng chạm nhiều hơn đối với phần đông các cá nhân trong xã
hội, và vì vậy buộc họ phải quan tâm và có những thái độ nhất định đối với lợi
ích của bản thân, đó là một tiền đề thuận lợi cho việc hình thành dư luận xã hội.
Vấn đề kinh tế còn là vấn đề của cộng đồng. Vượt ra khỏi bình diện cá
nhân, vấn đề kinh tế được bàn bạc ở mức độ cộng đồng, quốc gia (chính phủ),
các nhóm lớn, thậm chí xuyên quốc gia. Những ảnh hưởng này được sự quan
tâm của mọi nhóm xã hội bất chấp những khác biệt có thể có của các nhóm này
như tôn giáo, trình độ học vấn, địa vị xã hội…. Vì thế, đây là tiền đề thuận lợi
nữa cho sự hình thành một dư luận xã hội về vấn đề nào đó nếu vấn đề đó liên
quan đến quyền lợi kinh tế cộng đồng.
Một ví dụ minh họa ở đây là, trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước tiên là
toàn cầu hóa về kinh tế, đã vấp phải một sự chống đối của không ít người, Hội
nghị Thương mại thế giới bàn về việc thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa, tự do
hóa thương mại tiến hành ở Mỹ cuối năm 1999 đã thất bại do những cuộc biểu
tình của người dân. Rõ ràng là, một dư luận xã hội đã được hình thành trên một
vấn đề kinh tế ở quy mô lớn sẽ dần là xu hướng trong những năm sắp tới. Ở
Việt Nam, người ta cũng bàn tới toàn cầu hóa với những ảnh hưởng lợi - hại
của nó chẳng hạn như trong thời gian sắp tới khi Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại Quốc tế (WTO). Tuy nhiên, dù nhận được nhiều sự quan tâm
những mức độ quan tâm của các nhóm công chúng không phải đều ở mức độ
như nhau do những khác biệt về nhận thức, mức độ quyền lợi bị ảnh hưởng…
Các tầng lớp người khác nhau về quyền lợi, khả năng kinh tế cũng có
những ý kiến, thái độ khác nhau, trên cơ ấy mà hình thành nên những luồng dư
luận xã hội khác nhau. Người nông dân Việt Nam có những mối quan tâm khác
với những tầng lớp khác, chẳng hạn giá lúa gạo quá thấp khi được mùa, giá
phân bón quá cao, vấn đề cho trẻ em nông thôn đi học khi công việc đồng áng
cần nhân công,... Trong khi đó những người công nhân, bác sỹ, kỹ sư lại có
những mối quan tâm khác dựa vào khả năng tài chính của họ. Một bối cảnh
kinh tế Việt Nam cũng tạo ra những luồng dư luận khác với bối cảnh một nền
kinh tế khá giả hơn như Nhật Bản, Mỹ hay Pháp. Đây là những tham khảo cho
những nghiên cứu xã hội học về dư luận xã hội.
Như vậy, kinh tế là một nhân tố quyết định trong việc xem xét cơ sở của
sự hình thành của dư luận xã hội.
c) Chính trị
Như phần đầu đã nói, dư luận xã hội ngoài chức năng đánh giá về một sự
kiện xã hội còn có một chức năng quan trọng khác là điều chỉnh các mối quan
hệ trong xã hội. Dù rằng dư luận xã hội được hình thành một cách chủ ý hay vô
ý cũng được những người lãnh đạo xã hội và cả quần chúng nhân dân xem xét.
Sự xem xét này nhằm mục đích điều chỉnh mối quan hệ giữa hai nhóm xã hội
cơ bản: nhóm thiểu số nắm quyền và phần đông dân chúng. Chính vì vậy, nhiều
nhà tư tưởng đã xem dư luận xã hội như là một thứ quyền lực mà các người
quản lý xã hội phải học để điều khiển. Ý kiến của J. J. Rousseau là “bất cứ
người làm luật nào phải biết làm thế nào để thống trị các ý kiến và thông qua
chúng thống trị những đam mê của con người”. Nhà luật học và sử gia người
Anh James Bryce cũng cho rằng nếu chính phủ dựa trên sự đồng thuận đại
chúng thì sẽ mang lại sức mạnh và sự ổn định lớn cho quốc gia. Nhiều tác giả
khác nhấn mạnh sự liên quan, về những nguy hiểm của việc để cho chính sách
của chính phủ bị ảnh hưởng quá nhiều bởi dư luận xã hội. (dẫn theo
Encyclopaedia Britanica)
Dư luận xã hội phản ánh tồn tại xã hội, và do đó, nó cũng cần được điều
chỉnh và xem xét bởi những nhà quản lý xã hội vì những nhà quản lý xã hội
luôn muốn thấy trong mắt họ một tồn tại xã hội lành mạnh. Những tồn tại xã
hội không lành mạnh là những tồn tại không có ích cho sự phát triển xã hội
(theo quan điểm của chính thống), và như thế, những dư luận xã hội phục vụ
cho những quan điểm ấy cần phải được "điều chỉnh" .
Dư luận xã hội phục vụ chính trị là một điều mà bất cứ nhà nghiên cứu dư
luận xã hội nào cũng thấy được. Thậm chí, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng dư
luận xã hội chỉ là kết quả của phản ứng của công chúng đối với những chính
sách của chính phủ. Sử dụng dư luận xã hội là một trong những biện pháp chính
trị của các nhà quản lý xã hội theo hướng củng cố vai trò của mình vì nhiều lý
do:
- Dư luận xã hội dễ được hình thành theo hướng có ích cho xã hội đang
tồn tại nếu nhà quản lý xã hội có thể kiểm soát được các phương tiện truyền
thông và có những nhà định hướng dư luận có uy tín.
- Do những chức năng nổi bật của dư luận xã hội mà dư luận xã hội có vai
trò quan trọng trong việc định hướng xã hội, định hướng những mối quan tâm
xã hội vào những vấn đề cụ thể mà nhà quản lý xã hội mong muốn. Những đặc
điểm như dễ hình thành, dễ lây lan, có khả năng gây sức ép lên những nhóm,
những cá nhân khác nhau cũng là những ưu thế nổi bật của dư luận xã hội trong
cách quan hệ của các nhóm quyền lợi khác nhau với nhau, đặc biệt là của thiểu
số cầm quyền với đa số tầng lớp nhân dân.
Các cuộc trưng cầu dân ý hay các điều tra dư luận xã hội là những biện
pháp mà các chính phủ dùng đến để tìm hiểu về những vấn đề mà họ muốn tìm
câu trả lời, và cũng chính bắt đầu từ những cuộc trưng cầu hay điều tra ấy họ
cũng mong đợi xuất hiện những sự xuất hiện dư luận xã hội về những vấn đề
mà họ quan tâm.
Quần chúng nhân dân cũng sử dụng dư luận xã hội như một công cụ chính
trị để giai cấp cầm quyền thấy được phản ứng của họ, từ đó, có những cách
thức thay đổi chính sách, hình thức tác động để có được một dư luận xã hội tích
cực hơn từ phía quần chúng.
Trường hợp một số nước châu âu tổ chức trưng cầu dân ý về việc tham
gia đồng tiền chung châu âu EURO là một ví dụ. Chính phủ muốn người dân
bày tỏ ý kiến của mình về việc tham gia đồng tiền chung. Bằng những sự vận
động công chúng từ cả hai phía ủng hộ và phản đối, các luồng dư luận xã hội
được tạo ra nhằm tạo ra kết quả thuận lợi cho các bên. Chính phủ tìm ra cách
giải quyết theo ý của công chúng. Nếu có lợi cho chính phủ, vấn đề sẽ được giải
quyết ngay. Nếu không, sau một thời gian nào đó, vấn đề lại được đặt lại để lấy
ý kiến của công chúng thêm một lần nữa. Hoặc trường hợp của Canada với vấn
đề Quebec, nước Úc với vấn đề vai trò của nữ hoàng Anh, Anh tham gia đồng
tiền chung châu âu (euro)... Đây là những ví dụ về sự ảnh hưởng của chính trị
trong việc hình thành dư luận xã hội.
Trong nghiên cứu dư luận xã hội, ảnh hưởng của chính trị đối với việc
hình thành dư luận xã hội thể hiện ở sự ra đời của các chính sách. Các chính
sách có thể đề cập tới những vấn đề rất chung của xã hội nhưng cũng có thể ảnh
hưởng đến những vấn đề hết sức cụ thể. Xét trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta
thấy rằng những chính sách như thuế VAT, nghị định 97 CP, qui định về việc đội
mũ bảo hiểm khi đi xe máy,... là những ví dụ cho thấy chính sách có ảnh hưởng
rất lớn đối với việc hình thành dư luận xã hội.
Nói tóm lại, trong việc hình thành dư luận xã hội, chính trị là một trong
những nguyên nhân, cơ sở quan trọng.
II.1.2 Sự hình thành của dư luận xã hội
Dư luận xã hội được hình thành từ thái độ của công chúng đối với các vấn
đề xã hội. Tuy nhiên, quá trình hình thành này không phải đơn giản như vậy mà
đây là một quá trình rất phức tạp với các giai đoạn và các cách thức khác nhau.
Như chúng ta đã nói đến ở phần trên, dư luận xã hội nảy sinh trong các
bối cảnh xã hội cụ thể. Dĩ nhiên là, thái độ của công chúng luôn xuất phát từ
các vấn đề xã hội liên quan đến nhiều cá nhân, song không phải bất kỳ vấn đề
nào cũng nhận được sự quan tâm như nhau. Mọi người chắc chắn đều đồng ý
rằng, mỗi xã hội đều xác định những vấn đề của riêng mình: vấn đề nào quan
trọng và không quan trọng. Thường thì không hẳn cá nhân xác định tầm quan
trọng của các vấn đề xã hội, mà chính là Nhà nước và các tổ chức, cơ quan
đoàn thể xác định vấn đề họ quan tâm và đưa vấn đề đó bàn bạc rộng rãi ngoài
xã hội để tạo ra các luồng dư luận nhất định. Tất nhiên, chúng ta không phủ
nhận vai trò của cá nhân (chúng tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần những người định
hướng dư luận), nhưng rõ ràng là trong bối cảnh xã hội hiện nay, các tổ chức và
phương tiện truyền thông là những cơ sở chính cho việc hình thành dư luận xã
hội.
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu về sự hình thành của dư luận xã hội,
chũng tôi mô hình hoá bằng lược đồ sau đây:
Các nhân tố môi trường trực tiếp
Môi trường trực tiếp ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối thái độ, hành vi của
từng cá nhân. Xét trên quan điểm xã hội hoá của xã hội học, gia đình, nhóm
bạn bè, đồng nghiệp. Là những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tình
cảm, thái độ của cá nhân đối với mọi sự việc, hiện tượng, hay nói cách khác các
nhân tố môi trường đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các
thái độ và các dư luận. Phần lớn việc lan toả của dư luận là ảnh hưởng của môi
trường xã hội trực tiếp: gia đình, các bạn bè, hàng xóm, nơi làm việc, các thiết
chế tôn giáo và trường học. Con người thường xuyên điều chỉnh thái độ của họ
để phù hợp với những gì phổ biến trong các nhóm xã hội mà họ sở thuộc.
Chúng ta đã thường nói về vấn đề này như “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “đi
với phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”,... để nói về việc cần thiết có sự
hài hoà với môi trường trong lối sống của cá nhân. Xét theo một nghĩa hẹp nhất
định, cá nhân không thể vượt khỏi những suy nghĩ, hành động của nhóm xã hội
mà mình sở thuộc, chính vì lẽ đó, thái độ của cá nhân được định hướng từ
những môi trường này.
Theo cách nhìn xã hội học, dư luận xã hội được hình thành từ nhiều nhóm
công chúng khác nhau. Các nhóm xã hội này có sự phân tầng rõ rệt do sự khác
biệt của họ về nhận thức, mức sống, tôn giáo, sở thích... và do vậy, họ chịu sự
chi phối của những ảnh hưởng này. Những vấn đề đặt ra với những người có
mức sống dưới mức tối thiểu có sự khác biệt đối với những vấn đề mà người có
mức sống cao quan tâm khi mối bận tâm trước mắt của nhóm người trước là
miếng cơm, manh áo, còn nhóm người sau không còn như vậy nữa. Cũng như
vậy, những người có hoàn cảnh gia đình khác nhau, những người có bạn bè,
những người thân cận, hàng xóm, sống ở những không gian khác biệt có thể là
những tiền đề để có những dư luận khác nhau về cùng một vấn đề. Các nhóm
xã hội có thể được hình thành từ nhiều cách, và một trong những cách ấy là do
hoàn cảnh sống chung. Trong xã hội luôn có xu hướng những người có cùng
khả năng kinh tế, sở thích… tụ hợp cùng nhau trong một không gian sống
chung. Những người giàu sống tách riêng ra một khu; người nghèo cũng vậy.
Những khu tập thể cũng được hình thành dành cho cán bộ viên chức và người
lao động của những cơ quan, công ty, xí nghiệp nhất định. Tương tự như vậy là
trường hợp các xóm đạo. Việc các cá nhân có những điểm chung nhất định
sống gần nhau đã càng làm tăng tầm quan trọng của môi trường trực tiếp trong
việc hình thành nên các luồng dư luận khác nhau.
Khi chúng ta chia dư luận xã hội thành các dạng khác nhau (chúng tôi sẽ
nói rõ hơn về sự phân chia này ở phần sau), thì những dư luận xã hội về chính
trị, tôn giáo, kinh tế, gia đình, văn hóa, giáo dục sẽ nhận được những luồng dư
luận xã hội khác nhau từ những nhóm công chúng khác nhau. Sự bày tỏ mối
quan tâm khác nhau đối với các vấn đề này một phần quan trọng được lý giải từ
nguyên nhân lợi ích, nhu cầu. Nhu cầu và lợi ích của các nhóm người khác
nhau đối với các vấn đề khác nhau thuộc các thể chế chính trị, văn hóa, giáo
dục,... có sự khác biệt dẫn đến sự khác biệt trong dư luận xã hội của các nhóm
người ấy. Nhẹ là bắt đầu bằng mức độ quan tâm, hơn thế là có những nhóm
công chúng riêng cho các vấn đề riêng. Do các nhóm xã hội rất đa dạng và chủ
đề quan tâm của họ cũng rất khác nhau nên khi xem xét đến dư luận xã hội,
chúng ta không thể bỏ qua nhân tố môi trường trực tiếp ảnh hưởng như thế nào
đến việc hình thành dư luận xã hội.

Book Dư luận xã hội (phần 4)

(Nguyễn Bùi Khiêm)
Phương tiện truyền thông
Trong việc hình thành dư luận, truyền thông có ảnh hưởng quan trọng do
nó đưa ra các vấn đề và hướng sự quan tâm công chúng vào những vấn đề và
nhân vật nhất định. Trongbất kỳ xã hội nào, các chính phủ đều mong muốn (dù
ở các mức độ khác nhau trong quan niệm về tự do báo chí) kiểm soát thông tin
được đưa ra từ các phương tiện truyền thông do những thông tin như vậy có thể
gây nên những dư luận mà chính phủ cho rằng sẽ gây tổn hại đến trật tự xã hội
hiện hành. Các tổ chức của chính phủ luôn theo dõi những tin tức trên báo chí
và xem đó như là những biểu hiện nhất định của dư luận xã hội để từ đó điều
chỉnh hành vi của mình. Thực tế đã chỉ ra rằng, những tin tức hàng đầu (hot
news) trên các phương tiện truyền thông thường là cơ sở tạo ra các dư luận
trong xã hội. Các phương tiện truyền thông cũng đóng vai trò trong việc kích
thích mối quan tâm của những nhóm công chúng khác nhau cũng như củng cố
thái độ của cá nhân về đối với những vấn đề nhất định. Ví dụ, trong cuộc bầu
cử Tổng thống Mỹ năm 2004, các phương tiện truyền thông đóng vai trò chủ
chốt trong việc vận động các cử tri đi bầu cho các ứng cử viên của mình, củng
cố những vấn đề chung trọng đại mà nước Mỹ đang phải đối mặt như nạn
khủng bố, sự suy giảm chất lượng của hệ thống an sinh xã hội….
Thực ra, các phương tiện truyền thông trước đây như đài, báo, truyền hình
thường được xem là ít quan trọng hơn môi trường xã hội trực tiếp khi hình
thành các thái độ nói riêng, dư luận xã hội nói chung do chúng chỉ gián tiếp ảnh
hưởng đến thái độ của cá nhân cũng như chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận nhỏ
công chúng có trình độ học vấn, khả năng kinh tế, ở các khu vực đô thị. Tuy
nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như sự ra đời của
Internet, điện thoại di động, công nghệ phát sóng trực tiếp, phủ sóng toàn cầu,
số lượng người biết chữ gia tăng, đời sống kinh tế phát triển, truyền thông ngày
càng đóng trở nên không thể thiếu được trong đời sống của cá nhân, công đồng,
và quan trọng trong việc hình thành nên thái độ của cá nhân. Các phương tiện
truyền thông cho các cá nhân biết những người khác đang nghĩ gì và nhờ đó
định hướng dư luận xã hội. Các phương tiện truyền thông làm cho các thông tin
đơn lẻ được ngầm định trở thành những thông tin được nhiều người tin tưởng.
Với khả năng của mình, các phương tiện truyền thông có thể thuyết phục được
một số lượng cá nhân đông đảo, trải rộng theo các khu vực địa lý. Nếu ai đó nói
rằng, người nào kiểm soát được truyền thông, người đó sẽ kiểm soát xã hội, thì
câu nói ấy cũng không hoàn toàn sai. Đây chính là lý do cơ bản cho sự ra đời
của luật tự do báo chí trong hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới, và quyền
tự do ngôn luận là một trong những quyền con người cơ bản nhất .
Ở các quốc gia phương Tây, sự phát triển của truyền thông, đặc biệt là
truyền hình, đã ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống nghị viện. “Trước khi có
truyền hình, các cuộc bầu cử ở cấp quốc gia được xem như các cuộc thi giữa rất
nhiều ứng cử viên hoặc các Đảng phái cho các vị trí trong nghị viện. Gần đây,
các cuộc bầu cử ở các quốc gia như Đức, Anh và Hoa Kỳ, lãnh đạo các đảng
phái đóng vai trò trung tâm. Các cuộc bầu cử thường chịu ảnh hưởng sâu sắc
bởi cá nhân của các ứng cử viên thủ tướng hay tổng thống. Các cuộc tranh luận
trên truyền hình cũng như các chương trình tranh cử trên truyền hình được các
ứng cử viên quan tâm nhiều hơn, và đóng vai trò quan trọng đối với kết quả bầu
cử. Truyền hình ở Pháp và Hoa Kỳ được xem như một sức mạnh củng cố chế
độ tổng thống theo đó tổng thống có thể dễ dàng yêu cầu công chúng cả nước
hơn là những nhà lãnh đạo khác. Chỉ khi truyền thông đại chúng còn mỏng, như
ở các quốc gia chậm phát triển hoặc ở các nước mà truyền thông bị kiểm soát
nghiêm ngặt, thì thông tin truyền miệng đôi khi có thể thể hiện những chức
năng tương tự như báo chí và các dạng truyền thông khác, dù ở một qui mô hạn
chế hơn. Nhìn chung, ở các nước chậm phát triển, những người biết chữ thường
đọc báo cho những người không biết chữ, hoặc một số lớn người tập trung
quanh chiếc đài phát thanh của làng. Truyền miệng ở chợ, ở hàng xóm, sau đó,
truyền tin đi xa hơn. Ở các quốc gia, nơi các thông tin quan trọng được chính
phủ giữ kín, thì những xử lý thông tin lớn được truyền tải bởi những lời đồn đại.
Lúc đó, truyền miệng giúp hình thành dư luận xã hội ở các nước chậm phát
triển và khuyến khích những dư luận "ngầm" ("underground" opinion) ở các
quốc gia chuyên chế, dù rằng, các quá trình này chậm hơn và thường liên quan
đến ít người hơn so với các quốc gia có hệ thống truyền thông phát triển hơn.
(dẫn theo Encyclopaedia Britanica)
Chúng ta đang bước vào một xã hội thông tin, các giao tiếp gián tiếp gia
tăng, các giao tiếp trực tiếp giảm xuống, các phương tiện truyền thông vì thế trở
thành nguồn cung cấp thông tin và tri thức chủ yếu, và như vậy nó có ảnh
hưởng rất nhiều đến cá nhân, cộng đồng. Các luồng thông tin do truyền thông
đem lại có thể tới từ nhiều nguồn, có thể mang tính tuyên truyền, có thể thuần
chất cung cấp thông tin, cũng có thể chỉ là giải trí,.... và cá nhân tưởng chừng
chìm trong bể thông tin hỗn độn. Tuy vậy, họ cũng chỉ có quyền lựa chọn theo
những hướng nhất định, mà những hướng ấy một phần được định hướng bởi
các phương tiện truyền thông. Khả năng tiếp xúc với các phương tiện truyền
thông góp phần quyết định đến thái độ của cá nhân, cộng đồng, và vì vậy ảnh
hưởng đến nhận thức và dư luận của họ đối với những vấn đề xã hội.
Các phương tiện truyền thông mới như Internet và điện thoại di động đang
đóng góp vào sự hiểu biết mới về dư luận xã hội. Theo đánh giá của các nhà
khoa học, đặc điểm quan trọng nhất mà các phương tiện truyền thông mới ảnh
hưởng đến dư luận xã hội là việc chúng giúp cá nhân có thể thể hiện được ý
kiến của mình khi ý kiến của họ khác với ý kiến của đa số trong xã hội. Về
quan điểm này, chúng ta biết rằng, dư luận xã hội là một thực thể xã hội tồn tại
độc lập và có ảnh hưởng đến các cá nhân. Đối với các phương tiện truyền thông
đại chúng trước đây, các cá nhân có những ý kiến khác với ý kiến của đa số
thường không bộc lộ ý kiến của mình vì hai lý do: thứ nhất do áp lực xã hội
khiến họ không muốn thể hiện ý kiến của mình; thứ hai, các phương tiện truyền
thông thường không sẵn sàng đăng tải những ý kiến đó. Các nhà nghiên cứu
truyền thông gọi đó là “spiral of silence” (vòng xoáy của sự im lặng). Tuy nhiên,
cùng với quá trình toàn cầu hoá, hiện đại hóa, đặc biệt là nhờ sự phát triển
vượt bậc của các phương tiện truyền thông như Internet, ý kiến thiểu số này đã
có cơ hội nói lên tiếng nói của mình. Chính vì lẽ đó, các luồng ý kiến tồn tại
trong dư luận xã hội ngày càng trở nên đa dạng hơn. Ngày nay, chúng ta có thể
thấy rằng Internet trở thành một thị trường thông tin hỗn loạn, có đủ loại thông
tin và rất nhiều luồng ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề. Những tranh luận
trên Internet nhiều khi trở nên quá nóng và không có người thứ ba đứng ra phân
giải. Mỗi người có quyền bảo lưu ý kiến của mình. Chúng ta có thể thấy nhiều
khía cạnh tiêu cực từ Internet đối với cá nhân, đặc biệt là những đối tượng đang
trong quá trình hình thành nhân cách như thanh thiếu niên, tuy nhiên, chúng ta
cũng cần thừa nhận một thực tế rằng, Internet (hoặc ở một mức độ nhất định
nào đó là điện thoại di động) đã giúp cho giới trẻ có không gian để thể hiện bản
thân mình, khuyến khích sự tự do trong suy nghĩ và hành động.
Ở Việt Nam, phương tiện truyền thông có những đặc điểm nhất định.
Dưới sự quản lý của Đảng và Nhà nước, các phương tiện truyền thông nhắm
đến một cái đích xác định: xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước,
tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí
vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân
thế thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội; có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; Có lối
sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn
trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng.  Trong
những năm vừa qua, nhờ những chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước
cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan, các phương tiện truyền thông đã
có sự phát triển vượt bậc: phong phú về hình thức, nội dung đưa tin, đa dạng về
loại hình, công nghệ hiện đại… Thông tin đã đến với mọi người dân trên cả
nước. Các hình thức báo chí đủ loại ra đời để đáp ứng với nhu cầu của công
chúng như các báo hàng ngày, báo ngành, báo bằng tiếng nước ngoài, các đài
truyền hình trung ương, địa phương, các đài phát thanh từ trung ương đến địa
phương (tỉnh-thành phố, huyện-quận, xã-phường, thậm chí tới từng thôn bản-
khu dân cư). Đây là những điểm cần lưu ý trong khi xem xét, nghiên cứu dư
luận xã hội ở Việt Nam (chúng tôi sẽ nói kỹ hơn điều này ở phần một số đặc
điểm dư luận xã hội trong bối cảnh Việt Nam).
Những người định hướng dư luận
Những người định hướng dư luận đóng một vai trò thiết yếu trong việc
xác định các vấn đề quan trọng và trong việc gây ảnh hưởng lên các ý kiến của
cá nhân. Người định hướng dư luận là những người có uy tín đối với các cá
nhân trong cộng đồng trong các lĩnh vực cụ thể. Khi uy tín của người đó với
cộng đồng không còn thì khả năng ảnh hướng đến dư luận vì thế cũng mất đi.
Thông thường đó là những người hoạt động trong lĩnh vực chính trị, những
không nhất thiết lúc nào cũng phải như vậy. Ý kiến của một chính trị gia chắn
chắn sẽ không gây ảnh hưởng mạnh mẽ bằng một chuyên gia tài chính trong
cách đánh giá về khủng hoảng tiền tệ hay việc tăng giảm của giá dầu. Trong
mỗi lĩnh vực cụ thể, các chuyên gia về những lĩnh vực ấy có thể trở thành
những người định hướng dư luận. Các nhóm xã hội cũng luôn có những người
có vai trò của một thủ lĩnh, đồng thời họ cũng là người định hướng dư luận xã
hội.Những người định hướng dư luận không chỉ được giới hạn ở những hình
ảnh nổi bật của đời sống công cộng, mà dường như mọi cá nhân, ở mọi nhóm
xã hội, luôn tìm kiếm ở những người khác những hướng dẫn về những chủ đề
cụ thể mà họ chưa có đủ kiến thức hoặc thông tin để có thể ra những quyết định
cho riêng mình. Có thể, trong một cộng đồng, có rất nhiều người có uy tín trong
những lĩnh vực khác nhau. Có thể có những người có uy tín trong việc chữa
bệnh, trong lĩnh vực luật pháp, mua bán hàng hóa. Họ có thể trở thành những
người định hướng dư luận trong lĩnh vực của mình. Nói chung, những người
định hướng dư luận ở phạm vi nhóm, cộng đồng này không được biết đến ngoài
số bạn bè và những người biết rõ về họ, nhưng ảnh hưởng tích luỹ của họ trong
việc hình thành dư luận xã hội là đáng kể. (theo Encyclopaedia Britanica, xem
thêm phần phụ lục)
Cách thức theo đó người định hướng dư luận tạo ra các dư luận xã hội
bằng nhiều cách. Các nhà lãnh đạo chính trị có thể biến một vấn đề cho đến nay
khá ít người biết đến thành một vấn đề có tính quốc gia và họ kêu gọi sự quan

tâm đến vấn đề ấy. Ví dụ, không có nhiều người Mỹ quan tâm đến vũ khí huỷ
diệt của I-rắc cho tới khi tổng thống Mỹ G. Bush “sáng kiến” ra “trục ma quỷ”
và nguy cơ từ kho vũ khí huỷ diệt “tưởng tượng” từ đất nước nhiều dầu mỏ này.
Hoặc khi tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh đổ bộ vào Campuchia năm 1970, chỉ có
7% dân Mỹ được trưng cầu ý kiến ủng hộ quyết định của tổng thống. Tuy nhiên,
tỷ lệ ủng hộ này tăng lên 50% sau khi tổng thống Nixon tiến hành đưa quân
vào Campuchia. Chúng ta thấy ở đây một ví dụ theo đó công chúng dễ dàng và
nhanh chóng hành động theo lời khuyên của các nhà lãnh đạo.
Ngoài ra, người định hướng dư luận tạo ra các dư luận xã hội bằng cách
tập hợp lại các luồng dư luận và đưa ra những nhận định của mình nhằm thống
nhất ý kiến về một vấn đề nhất định. Việc đưa ra những đánh giá để thống nhất
các ý kiến khác nhau có thể được tiến hành bằng nhiều cách, trong số đó có
cách đặt mới hoặc phổ thông hoá các biểu tượng hoặc khẩu hiệu. Các khẩu hiệu
có lẽ là một trong những công cụ hữu hiệu nhất, có sẵn cho các nhà lãnh đạo
chính trị. Mỗi khi được phát biểu rõ ràng, các biểu tượng và khẩu hiệu là một
sự sống động, dễ nhớ, được giữ lại một cách lặp đi lặp lại và truyền đạt tới các
công chúng rộng lớn bởi truyền thông đại chúng, và có thể trở thành nền tảng
(cơ sở) của dư luận xã hội ở mọi vấn đề được đưa ra nào. Trong chiến tranh
giành độc lập cho tổ quốc, chúng ta đã có những khẩu hiệu như “thà hy sinh tất
cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “quyết tử cho tổ quốc
quyết sinh”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt”,... đã khơi dậy
trong quần chúng những tình cảm thiêng liêng, tạo nên những dư luận thuận lợi
góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến tranh cứu nước thần thánh của dân tộc.
Trong từng xã hội, nhóm, cộng đồng, luôn có những người có uy tín để cá
nhân có thể tham khảo ý kiến. Đối với xã hội Philippines chẳng hạn, cộng đồng
Thiên chúa giáo có một vai trò quan trọng trong xã hội kể cả đối với việc ủng
hộ hay lật đổ Tổng thống
Trong từng nhóm, cộng đồng, luôn có những người có uy tín để cá nhân
có thể tham khảo ý kiến. Với xã hội trọng xỉ như ở các làng Việt, những người
già nhận được sự kính trọng của các thành viên trong cộng đồng, vì thế, tiếng
nói của họ có vai trò quyết định trọng nhiều công việc đại sự của làng xóm. Tuy
nhiên, xã hội luôn thay đổi. Vai trò xã hội của các cá nhân cũng thay đổi theo sự
thay đổi của xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nhân thành đạt đã có
vai trò quan trọng hơn và nhận được sự quan tâm của xã hội; các phương tiện
truyền thông dần dần đóng vai trò của những người định hướng dư luận, điều
này được thể hiện bằng những mục, các dịch vụ tư vấn trên các phương tiện
truyền thông. Những người định hướng dư luận, giờ đây, dường như là những
người thường xuất hiện trước công chúng trên các phương tiện truyền thông.
Trong một bối cảnh như thế, các nghiên cứu dư luận xã hội cần phải tính đến
những hướng dẫn dư luận từ các phương tiện này bên cạnh những ảnh hưởng
của những người dẫn dắt dư luận.