Khiemnguyen

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

Vũ Ngọc Phan viết về Ngô Tất Tố

Nói đến nhà Nho viết quốc văn, chúng ta thường hay nhớ đến Phan Kế Bính, Trần Văn Ngoạn, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đỗ Mục... Những bài, những sách của các ông này hoàn toàn là dịch thuật hoặc biên soạn theo những tác phẩm chữ Hán. Còn nhà Nho như Nguyễn Bá Học, Nguyễn Trọng Thuật viết tiểu thuyết là viết theo truyện cổ dân gian (Truyện ông Lý Chắm, Quả dưa đỏ). Ngô Tất Tố là nhà Nho đầu tiên đã không theo những lối viết trên đây. Anh là người đã đi vào lĩnh vực sáng tác phê bình văn học như các nhà văn lớp mới đương thời. Không những thế, vào giai đoạn 1939 - 1945, trong khi phong trào lãng mạn đang thịnh hành, cùng với Nguyễn Công Hoan, anh đã trở thành kiện tướng trong phong trào văn học hiện thực phê phán ở nước ta.
Tôi quen biết Ngô Tất Tố từ năm 1932. Anh ở trong Nam ra Bắc được ba năm và đang cộng tác với nhiều tờ báo ở Hà Nội. Hồi đó, đối với tôi, anh là đồng nghiệp, còn tôi kính anh như người anh cả, tôi đang độ thanh niên. Tôi thích nhất anh Tố ở những bài bút chiến. Thấy anh đã 40 tuổi mà còn hăng, tôi rất phục. Đối với cuộc đời, anh không còn nghi ngờ gì cả. Còn tôi, có nhiều cái tôi chưa nhìn thấy rõ, còn ngờ vực nhiều...
Ngô Tất Tố sinh năm 1892 ở làng Lộc Hà, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (thuộc Hà Bắc) trong một gia đình nhà Nho nghèo, ông nội anh đỗ tú tài sau khi đã lận đận bảy khoa thi hương; ông thân sinh qua sáu lần lều chõng không đỗ, về sau ngồi dạy học trong làng. Tuy vậy, làng Lộc Hà cũng là một làng “khoa bảng”. Trong họ Ngô có hai người đỗ cử nhân: Ngô Ngọc Liên và Ngô Văn Bính.
Hồi nhỏ, Ngô Tất Tố học các trường hàng tổng thuộc huyện Lương Tài và phủ Thuận Thành. Lớn lên, anh học xuất sắc, nhưng hai lần thi hương ở trường Nam, anh đều không thấy tên mình trên bảng. Sở dĩ thời xưa ở Bắc Ninh, người ta quen gọi anh là “đầu xứ Tố”, vì năm anh 22 tuổi, trong một kỳ thi sát hạch ở tỉnh Bắc, anh đỗ đầu. Ngày xưa, học hết trường huyện rồi mới học trường tỉnh (tức trường đốc), rồi qua sát hạch, mới được vào lều chõng đi thi hương.
Từ năm 1918, thực dân Pháp bỏ thi hương, anh Ngô Tất Tố mới gác lều chõng, ngồi dạy chữ Quốc ngữ ở mấy nơi thuộc tỉnh Bắc, như Đông Trù, Gia Thượng - những nơi trước kia anh đã từng ngồi dạy chữ Hán để lấy lương ăn.
Thời thanh niên của Ngô Tất Tố là thời khá lận đận do anh chưa tìm được hướng đi, chưa thoát khỏi nếp sống của nhà Nho. Sau, vì túng thiếu quá, anh xoay ra học thuốc và làm thuốc. Biết thuốc, nên có lúc anh đã mở hiệu Thọ dân y quán ở phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến), Hà Nội. Trên Công dân (năm 1935) anh viết bài báo về thuốc Nam và thuốc Bắc, muốn đem phương pháp Âu Tây áp dụng vào Đông y. Anh viết: “Giả sử chúng ta có một phòng khảo nghiệm tính chất thuốc Bắc và thuốc Nam và một trường học nghiên cứu nghề thuốc Tàu thì may ra cái nạn giết người lấy của ở xã hội thày lang mới trừ bớt được” (Công dân, số 5, ngày 23/10/1935).
Sự mong ước của anh cách đây trên 50 năm về sự kết hợp giữa Tây và Đông y thì ngày nay, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng ta mới thực hiện được.
Anh chỉ làm thuốc trong một thời gian ngắn, vì làm thuốc chân chính thì hết vốn. Tuy vậy, nghề làm thuốc đã giúp anh nhìn rõ bọn lang băm đương thời và anh đã viết nên những bài phóng sự sắc bén, với cái nhan đề: Dao câu thuyền tán, để đánh vào các thày lang lúc ấy đang là những tay tư sản kếch sù làm nghề lang lậu lúc bấy giờ (cách nói chỉ những tay dùng các thuốc cao đơn hoàn tán, chữa các bệnh lậu, giang mai).
Năm 1924 là năm anh rời hẳn tính Bắc ra Hà Nội làm báo. Ở Hà Nội một thời gian ngắn, anh vào miền Nam cùng Nguyễn Khắc Hiếu, nhân ông Hiếu được Diệp Văn Kỳ  Sài Gòn gửi biếu hai nghìn đồng mời vào Nam. Họ Diệp chủ nhiệm báo Thần Chung, hào phóng, muốn đóng vai Mêxen (Mècéne) và Mạnh Thường Quân lúc bấy giờ. Anh ở Sài Gòn gần ba năm. Thời gian này, anh viết cho báo Thần Chung, anh viết nghị luận và dịch nhiều hơn là sáng tác. Năm 1928, anh dịch tiểu thuyết Ngô Việt Xuân thu đăng ở Annam tạp chí, xuất bản ở Sài Gòn, nhưng mới đăng dở dang thì ngừng. Đây là một truyện với những nhân vật Tây Thi, Phù Sai, Câu Tiễn, Phạm Lãi mà chúng ta đã thấy trong Đông Chu liệt quốc.
Năm 1929, anh dịch tập Hoàng Hoa cương nói về 72 liệt sĩ Trung Quốc trong Cách mạng Tân Hợi. Cũng năm này, anh đăng trên báo Thần Chung (số ra ngày 26/9/1929) ở Sài Gòn, ba bài thơ sau đây ký tên là N.T.T:
THÚ QUÊ
Biển Nam, ải Bắc những đi về,
Dừng gót phen này viếng thú quê;
Nửa mẫu vườn hoang hoa vẫn nở;
Ba gian nhà trống nguyệt thường kê
Ngâm tràn thiên địa thơ tung tác,
Chén lút càn khôn rượi bét be,
Non nước ví bằng trang hết nợ,
Đời này cảnh ấy có ai chê?
BUỔI CHIẾU QUA SÔNG
Bảng lảng trời sông ác xế tây
Đò chiều chiều khách vội buông dày.
Vướng chèo, bầy cá quanh thuyền nhảy.
Bạt gió, con đò lướt sóng bay.
Thăm thẳm bóng mây đùn đáy nước.
Mù mù hơi khói lấp ngàn cây,
Đường xa, ngày tốt, người thưa vắng,
Trước mạn trông trời, dạ tiếng khuâỵ.
NGHE GÀ GÁY CẢM HOÀI
Tiếng gà xao xác giục lên đường
Trên gối xui người dạ ngổn ngang.
Ngày tháng mài mòn đôi má trắng,
Nước non đeo nặng tấm gan vàng.
Tánh chim mỏi cánh bay về tổ,
Kiếp ngựa tù chân lại nhớ đàng,
Thôi cái cuộc đời còn thế thế,
Làm trai chi giữa gốc tre làng?
Ba bài thơ trên đây của Ngô lất Tố được truyền tụng trong làng văn đương thời. Qua thơ anh, người ta thấy anh có nhiều suy nghĩ về thời thế và đất nước trước những hiện thực đau thương do bọn cướp nước và bè lũ tay sai gây nên.
Cũng vào năm 1929, anh trở về Hà Nội và cho đến 1941, anh viết nhiều báo chí, có tờ là văn học, có tờ là thông tin: Thực nghiệp, Đông phương, Phổ thông, Công dân, Thời vụ, Tương lai, Tao đàn, Hà Nội tân văn, Đông Pháp, v.v... Ngoài những bài về văn học và thời sự, anh còn viết: Lịch sử Đề Thám và Vua Hàm Nghi với việc Kinh thành thất thủ. Lòng yêu nước của tác giả thể hiện rất rõ: Anh đề cao khí tiết của các lãnh tụ trong phong trào Cần vương, như Phan Đình Phùng, Lê Trực, Đinh Công Tráng, Nguyễn Xuân Ôn và anh chế giễu thái độ tên tướng Pháp Đơ Cuốc-xy (De Courey).
Những bài anh viết có thể chia làm bốn loại:
1. Một loại văn học bình luận, gồm những bài báo về Nho, Lão; đính chính những sai lầm về văn học, triết học Trung Quốc, v.v...
2. Một loại bút chiến, gồm những bài đả kích nhũng tệ tục, thói tham ô, rởm đời của bọn quan lại, cường hào và tư sản. Cũng có những bài viết dưới dạng châm biếm, trào lộng như những bài ở mục: “Nói mà chơi”.
3. Một loại dịch thuật, như dịch một số tác phẩm Hán văn của nước nhà hay một số sách của Trung Quốc.
4. Một loại nữa là phóng sự và tiểu thuyết.
Bất kỳ ở thể loại nào, cây bút của Ngô Tất Tố cũng sắc sảo, nhiều khi quá sôi nổi, thiếu bình tĩnh. Dù sao, các bạn đồng thời với anh đều thừa nhận anh là một tay bút chiến đầy nhiệt tình, luôn luôn đứng về phía nhân dân, đả kích không khoan nhượng giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản.
Vì ghét cay ghét đắng giai cấp phong kiến, nên Ngô Tất Tố đả kích học thuyết của Khổng Tử, một học thuyết phục vụ đắc lực giai cấp phong kiến thống trị. Khổng Tử cho là mỗi cá nhân đều có thiên mệnh. Quần chúng nhân dân phải chịu áp bức, bóc lột, phải chịu khổ cực là do số phận, do trời đã định trước, tức thiên mệnh. Học thuyết của Khổng Tử ru ngủ nhân dân nhằm thủ tiêu tính chiến đấu của nhân dân. Nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Khổng Tử không có triết học tự nhiên như Lão Tử. Đối tượng của tri thức của Khổng Tử là thi, thư, lễ, nhạc, chứ không phải là tự nhiên.
Vào thời trước Cách mạng Tháng Tám, trong khi đả kích Khổng giáo, dịch Mặc Tử và Lão Tử, Ngô Tất Tố đã không có những tài liệu đầy đủ về triết học như chúng ta ngày nay để nghiên cứu, nhưng do nhận thúc sâu sắc của anh, do anh biết đứng về phía nhân dân lao động, thiết tha ước mong cho quần chúng lao động có một đời sống ấm no, hạnh phúc, nên anh đã dịch và giới thiệu Mặc Tử và Lão Tử. Như vậy, trong việc dịch tác phẩm triết học Trung Quốc, anh cũng đã theo một tư tưởng chủ đạo như khi anh sáng tác. Ngay những tác phẩm hiện đại của nước ngoài mà anh dịch cũng vậy. Hoàng Hoa cương, Trời hửng, Suối thép, do anh dịch, đều là nhũng tác phẩm giáo dục nhân dân lòng yêu nước và đề cao tinh thần chiến đấu của quần chúng lao động.
Vào những năm của thập kỷ 30, khi bắt đầu quen biết, tôi phải ngạc nhiên: “Sao con người lầm ít nói, mà đến khi viết lại hăng như vậy!”. Anh ít nói như để dành lời đanh thép trút lên trang giấy. Tùy nét mặt anh cương nghị, nhưng anh thường nheo mắt cười một vẻ rất hiền. Khi vui anh em, anh chỉ uống vài chén rượu là mặt đã đỏ gay, trán nổi gân, bỏ khăn xếp, chẳng nói một lời, lăn ra ngủ. Hình như lúc nào anh cũng kìm lại mọi ý nghĩ và tình cảm, đúc kết lại trong trí não để đưa vào tác phẩm. Anh ăn mặc xuềnh xoàng, quanh năm chỉ cái áo the thẫm, cái quần trúc bâu, đôi giày hạ.
Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, vốn có lòng yêu nước, anh càng thấy rõ hơn những nỗi khổ cực của nhân dân và vì sao mà mất nước. Cũng như một số nhà văn lúc bấy giờ, anh đã hiểu một phần nào thế nào là đấu tranh giai cấp. Anh sửa lại tập Tắt đèn, bắt đầu viết từ 1936. Sách được in ra (1939), nhưng mấy tháng sau thì thực dân Pháp ra lệnh cấm lưu hành. Những bài của các nhà văn khác giới thiệu và phê bình quyển Tắt đèn cũng đều bị kiểm duyệt xóa bỏ. Trước tình hình ấy, anh Tố không ngừng bút. Anh bắt đầu viết Việc làng.
Tôi nói với anh: “Tôi mới nhận việc ở Hà Nội tân văn, anh cứ viết dấn đi và gửi cho ban biên tập”. Thế là tiểu thuyết Việc làng bắt đầu đăng ở Hà Nội tân văn (năm 1940) mỗi tuần một trang báo. Hồi đó, anh rất túng thiếu, nhưng không vì thế mà buồn nản. Lúc nào anh cũng nhìn về phía trước.
Anh Ngô Tất Tố đả kích rất mạnh những thói hủ bại ở hương thôn, nhưng trong gia đình và ngoài xã hội, anh xử sự rất hòa nhã, theo đúng phong cách nhà Nho. Cứ mỗi năm hai lần, anh đến ăn giỗ nhà ông Ngô Ngọc Liên mà anh gọi là chú ở Thái Hà, rồi anh lại sang chơi tôi ở gần đó. Tôi dám chắc anh đi dự việc làng  Lộc Hà cũng đều đặn như thế. Do phong thái mực thước ấy, anh được họ hàng làng mạc kính mến và anh mới có điều kiện quan sát tỉ mỉ, miêu tả được sinh động nông thôn và người nông dân trong hai tác phẩm Tắt đèn và Việc làng. Cũng do bản thân là nhà Nho và gia đình anh mấy đời theo học Nho, nên anh đã viết Lều chõng một cách cặn kẽ, nhiều đoạn quá tỉ mỉ.
Xây dựng Lều chõng, Ngô Tất Tố muốn cho người đọc thấy được cách học cổ hủ, giáo điều và lối thi cử lỗi thời dưới chế độ phong kiến suy tàn. Nhà nước phong kiến muốn kén chọn nhân tài, nhưng rút cục lại loại mất những người có tài. Người có tương lai và thông minh như Vân Hạc có một số nhận thức về học tập, về thi cử không giống các bạn của anh, nhưng rồi “công danh ai dứt lối nào cho qua” anh cũng vẫn lều chõng đi thi. Còn người con gái lấy chồng thì không phải vi tình yêu, mà vì muốn được làm bà nghè, bà thám. Lều chõng đã miêu tả một bi kịch của những người trí thức và phụ nữ thời phong kiến, do sự vỡ mộng về công không thành danh chẳng toại, anh đồ vẫn hoàn toàn là anh đồ và chị đồ vẫn hoàn toàn là chị đồ. Tính chất hiện thực phê phán của cuốn tiểu thuyết rất rõ. Nhược điểm của nó là tác giả đã quá đi sâu vào những quan hệ thày trò, bè bạn, những lối giảng dạy và những lối giao du, hành lạc nhà Nho, làm cho người đọc có thể lầm tưởng tác giả còn luyến tiéc, thích thú cái gì đó của đời sống nhà Nho xưa.
Việc làng là một tiểu thuyết phóng sự về những hủ tục mà bọn cường hào muốn duy trì ở nông thôn để dựa vào đó mà bóc lột nông dân đến xương tủy. Mỗi mẩu chuyện trong Việc làng là một tấn bi kịch. Tác giả luôn luôn lên án bọn “ăn trên ngồi trốc” tay sai của thực dân và phong kiến thống trị, bọn đầu trâu mặt ngựa, đã làm cho nhiều gia đình ở nông thôn bị khánh tận, nhiều nông dân phải tự tử, hoặc bỏ làng, chỉ vì đóng góp “việc làng” quá nặng. Trong tiểu thuyết này, chúng ta thấy có những hiện tượng tiêu cực trong tư tưởng người nông dân và đây là một hiện thực ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám.
Ở Tắt đèn, chúng ta thấy Ngô Tất Tố miêu tả những sự đàn áp bóc lột cực kỳ trắng trợn và tàn bạo của bọn địa chủ cường hào đối với nông dân về mặt sưu thuế, và những thói đê tiện, dâm ô của chúng. Chỉ thiếu mấy đồng bạc thuế thân mà gia đình anh chị Dậu phải bán con, phải chịu khổ nhục trăm đường. Nhưng khác với Việc làng, ở Tắt đèn, chúng ta thấy những mặt tích cực trong tư tưởng và hành động của người nông dân: Chị Dậu đã vùng lên đánh lại bọn lính tráng, cường hào khi chúng xúc phạm đến chồng chị đang ốm. Chị cũng đã hai lần chống lại kịch liệt bọn quan lại tham ô muốn hãm hiếp chị. Chỉ qua một việc gia đình nông dân thiếu mấy đống bạc thuế, Ngô Tất Tố đã cho người ta thấy mọi nỗi khổ cực của nông dân và những thói tàn ác đê tiện của bọn quan nha, tổng lý. Tuy có gan chống lại bọn cường hào như vậy, chị Dậu vẫn thấy cuộc đời mình và chồng con mình đen tối, trước mắt chị tương lai còn mờ  mịt. Đó cũng là một hiện thực về đấu tranh tự phát trong khi chưa có Đảng tiền phong lãnh đạo.
Ở nước ta, vấn đề nông nghiệp là vấn đề quan trọng bậc nhất. Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực đã viết thành công về nông thôn trong Tắt đèn và Việc làng. Hai tác phẩm này là những tài liệu quý giá để chúng ta có cơ sở mà nhận định về người nông dân Việt Nam đã lột xác đến mức nào trong cảnh nông thôn đổi mới dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhìn một cách khái quát những sách sáng tác, phê bình, nghiên cứu và dịch thuật của Ngô Tất Tố trong 30 năm (1924 -1954), chúng ta thấy những công trình ấy của anh là một khối thống nhất theo tư tưởng chủ đạo của một nhà văn luôn luôn đứng về phía nhân dân./.

(Vũ Ngọc Phan) Hoàng Tích Chu và lối văn cộc của anh

Những năm tôi mới viết văn và viết báo, tôi hay đến nhà in Trung Bắc phố Hàng Bông đệm[1]. Ở nhà in này tôi đã gặp Hoàng Tích Chu, cây bút được anh chị em thanh niên đương thời rất yêu mến. Anh là người đề xướng một lối văn mới, người ta gọi là “văn cộc” hay “văn nhát gừng”.
Trước khi đề cập đến lối văn Hoàng Tích Chu, tôi muốn nói qua về con người anh, vì theo tôi, anh có thể tiêu biểu cho lớp nhà văn trẻ vào cuối thập kỷ 20 sang đầu thập kỷ 30. Anh người làng Phù Lưu thuộc Bắc Ninh (nay thuộc Hà Bắc). Người ta thường nói: “Trai Phù Lưu, gái Đình Bảng”, hai làng giáp nhau, trai và gái đều nổi tiếng tuấn tú, xinh đẹp, tài hoa. Hoàng Tích Chu đã tài hoa lại đẹp trai, nên được nhiều con gái Hà Nội rất chú ý. Anh có đôi mắt sắc và thông minh, tầm vóc vững vàng, hơi to ngang một chút, không cao, không thấp. Anh nói chuyện hấp dẫn, luôn luôn dùng hình tượng, lại hay châm biếm, thỉnh thoảng điểm những tiếng cười giòn giã. Có thể nói Hoàng Tích Chu có phong thái con người Hà Nội thời đó. Người ta đồn rằng cô Phượng Hàng Ngang (nhân vật trong Mồ cô Phượng) là một trong những bạn tình của anh.
Năm tôi mười ba, mười bốn tuổi, ngày ngày đi học qua phố Hàng Ngang, tôi đã được trông thấy cô Phượng, lúc đó, cô vào khoảng hăm hai, hăm ba tuổi. Cô ngồi bán các thứ hàng lụa, xatanh, gấm, vóc tại nhà chồng, nhà này họ Phan. Chồng cô là một “khách lai” vô công rồi nghề, vào loại công tử bột thời bấy giờ. Hắn đi đi lại lại suốt ngày ở cửa hàng để trông kẻ gian, và còn để canh vợ nữa. Cô Phượng người tầm thước, có đôi mắt bồ câu long lanh, với cặp mi cong, đôi lông mày xanh và dài, môi đỏ mọng đầy dục vọng, mũi dọc dừa thanh tú, và đôi má lúm đồng tiền khi cười. Gò má cô hơi cao, ửng hồng, làm cho khuôn mặt trái xoan của cô có sức quyến rũ, giống như nữ diễn viên điện ảnh Marlen Dietrich thời bấy giờ. Cô Phượng ăn mặc rất nền, khi thì chít khăn nhiễu tam giang, khi thì chít khăn nhung đen, đuôi gà vắt qua mái tóc. Cô hay mặc yếm hoa hiên, quẫn lĩnh tía cạp điều thắt lưng quan lục, tất cả những màu sắc ấy ánh lên qua chiếc áo dài vải phin trắng, may sát vào thân hình nở nang. Lối ăn mặc của cô là một lối rất “nền” của phụ nữ Hà Nội thời xưa. Người ta nói: Cô là con người tài hoa, yêu thích văn thơ, trái hẳn với chồng cô là một gã tốt mã, giẻ cùi. Việc cô bỏ chồng và trốn nhà ra đi, ầm ĩ cả Hà Nội vì hồi ấy, thanh niên Thủ đô không ai là không biết cô Phượng Hàng Ngang. Nhưng rồi hồng nhan bạc mệnh, cô đã sớm qua đời! Người thì nội cô bị trúng phong mà chết, người thì nói cô chán đời nên đã quyên sinh. Mồ cô Phượng, tiểu thuyết lãng mạn tiêu cực, nhân vật Phượng là cô Phượng Hàng Ngang này. Cái tên Hoàng Hồ trong giai thoại, trong vè,  trong tiểu thuyết đã ám chỉ vào Hoàng Tích Chu. Cô Phượng và Hoàng Hổ đều là nhân vật chính.
... Hoàng Tích Chu thấy tôi làm nghề văn, không đi làm công chức, anh rất hoan nghênh. Lúc bấy giờ, anh đã thôi không làm chủ bút Ngọ báo của Bùi Xuân Học và đã cho ra tuần báo Đông Tây, do anh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Báo Đông Tây in ở nhà in Trung Bắc, nên tôi thường gặp anh.
Vào cái thời người ta quan niệm người làm nghề viết phải sống cho phóng khoáng, nghĩa là biết uống rượu, nghiện cà phê, biết ra vào tiệm hút, biết đi hát ả đào và có một vài nhân tình nhân ngãi, thì dưới con mắt anh em làm báo làng văn lúc bấy giờ, tôi quả là một thanh niên ngây thơ, vì tôi không biết gì về những chuyện đó. Một số người đã gọi đùa tôi là: “bê-bê-Nes-lê”[2] và cái tên này Thiết Can mách cho tôi biết.
Hoàng Tích Chu có vốn Hán học; vào buổi chữ Nho đang tàn tạ, anh được kể vào hạng những người có trình độ tam trường[3]; còn về Tây học anh biết sơ sơ tuy anh đã từng sang Pháp, ở Paris khoảng một năm trời. Vào thời Andié Gide chưa ra quyển Reourde LV.R.S.S (Ở Liên bang Xô-viết trở về), nhà văn Pháp này được nhiều thanh niên Việt Nam ưa thích. Một thời gian, đọc Gide trở thành cái “mốt” gần như cái “mốt” mặc áo Lơ Muya của phụ nữ Hà Nội. Theo thời, Hoàng Tích Chu cũng viết một bài về Gide, nhưng anh lại viết lầm tên nhà văn này là Charles Gide một nhà kinh tế học Pháp đương thời, tác giả quyển Economic politique (Chính trị kinh tế học). Tuy vậy, anh rất có năng khiếu về văn. Từ hồi trẻ anh đã viết những bài “biền ngẫu” trên tạp chí Nam phong. Anh dùng loại văn có những câu đối ngắn gọn này, để phê phán những điều tai nghe mắt thấy. Nhưng với nội dung ấy mà viết lối “biền ngẫu” tất nhiên không thành công được. Dùng “bình cũ rượu mới” thì đi đến chỗ gò ép, tối nghĩa. Từ nhỏ dùng lối văn đối nhau, như phú chiêu, kiểu để viết về thời sự, Hoàng Tích Chu đã xếp “bình cũ” lại và dùng “bình mới rượu mới”, với ý nghĩ: Hình thức phải phục vụ đắc lực nội dung. Anh viết một lối văn hết sức ngắn gọn, đương thời người ta gọi là “văn cộc”, “văn nhát gừng” hay “văn Hoàng Tích Chu”.
Trong những năm của thập kỷ 20, quốc văn còn non trẻ, những người viết quốc văn đầu tiên là những người nửa Tây học, nửa Nho học. Lúc đầu, nhà Nho thuần túy viết văn xuôi bằng tiếng dân tộc rất ít. Nếu họ có hứng về quốc văn thì họ làm thơ. Đến khi báo chí quốc văn ra đời, do yêu cầu phải có bài dịch thuật từ các sách Hán văn, mấy ông nhà Nho bắt buộc viết văn xuôi. Gọi là văn, nhưng thật ra các ông cố dịch cho đúng nghĩa, xuôi tai. Câu văn không được trau chuốt, có quá nhiều từ thì, mà, vậy. Người ta đã gọi những thứ văn ấy là “thứ văn thì thì mà mà”, “thứ văn vậy vậy”.
Lối văn Hoàng Tích Chu ra đời tiêu biểu cho tư tưởng phản kháng của những người viết văn trẻ đối với thứ văn “bè ngô bè dừa” của một số nhà Nho mới cầm bút sắt. Vào những năm 1929 - 1930 trên tờ Ngọ báo do Hoàng Tích Chu làm chủ bút, anh viết những bài bàn về thời cuộc với một lối văn hết sức gọn, những từ , từ thì gần bị loại hết.
Đến khi không còn phụ trách tòa soạn Ngọ báo nữa thì trên tuần báo Đông Tây (số ra ngày 29/07/1931) do Hoàng Tích Chu làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, anh phát biểu về lối văn của mình như sau:
“... Tối vốn đã bị cái bả viết văn kéo dài, hàng mười dòng mới hạ được cái chấm dứt câu, hàng hai, ba cột báo vẫn chỉ trọi một ý. Phải có một lối văn khác. Cái lối viết phải làm sao cho gọn, không thừa nhiều lời. Đến khi tìm được nó rồi, tôi liền bắt đầu thực hành bằng những “bài bàn về thời sự”. Tôi định rằng bài nào cũng vậy, chỉ được chiếm một cột báo là nhiều lắm”.
Đó là thời tôi viết cho tờ Ngọ báo năm xưa. Đó cũng là hồi văn Hoàng Tích Chu bắt đầu được một phần độc giả công kích, cũng như một phần độc giả hoan nghênh. Lâu dần nó thành ra một lối mà anh em làm báo như đã nhận một cách vô tâm, vậy.
“…Tôi đến giờ muốn thực hành cái lối văn H.T.C, ra mọi phương diện khác. Viết về cuộc phỏng vấn, viết truyện đoản thiên, tôi thấy dễ xoay cán bút, không tốn công lắm như viết một “bài bàn về thời sự, chỉ trong một cột”, phải chọn từng chữ, phải sửa từng câu. Được một đằng, hỏng một đằng. Đến khi thực hành lối văn ấy vào những bài nghị luận, thì thấy ngay một sự khó khăn trình bày trên mặt giấy.
“Bởi lối văn không cho phép viết dài câu hay thừa nhiều tiếng, nên mỗi khi giãi bày một lý thuyết nào tôi thấy khó xoay xở lắm. Chân muốn bước đi, mà như có một sức gì ngăn cản lại. Trong khi lúng túng về nỗi tiến thoái ấy, tôi lắm khi tự quên rằng bài viết để người đọc, không phải chỉ để một mình xem…”.
Trên đây là những lời thanh minh và cũng là những điều suy nghĩ, cân nhắc của Hoàng Tích Chu. Bài trên đây anh còn viết lối văn bình thường. Cũng trên số báo Đông Tây nói trên (số ra ngày 29/07/1931), anh đăng một bài viết theo lối mới, có đoạn như sau:
Gớm cho năm 1931!
Thế giới đang khổ về nạn kinh tế[4]. Tôi đây cũng chẳng được yên: hai anh thợ sơn để lại bức tường làng cuỗm giấy “con công” theo thằng Cuội; vài ông đại lý tiêu lạm tiền báo tháng, trốn ăn “mắm ngóe” ở xứ Lào. Đã thiệt một bên, tôi nào thấy một bên có lời: nhà in giục nợ, thợ chữ thúc bài, mà... bên nách, một bạn đồng nghiệp cứ nay gãi, mai cào, lắm khi muốn cười lên tiếng khóc.
Còn mong cái sướng về tinh thần.
Này bức thư anh lái lọng gửi đến chiều qua, giấy nhầu bẩn, mực tím phai, nét chữ tháu:
Văn Tôi.
Gái chơi hoang, sao ta cứ đổ tội cho trai quyến rũ? Phùng Đình Mai ưa thịt bóng, sao ta cứ kết án anh lái lọng nhử mồi? Lời Vãn Tôi biện hộ trước tòa Dư luận như đã đến tai các quan tòa Thượng thẩm.
Châu biết Châu có tội, cái tội buôn đồ lậu hẳn pháp luật không dung. Nhưng thứ đồ lậu của Châu, Văn Tôi đã cãi cho nó không đến nỗi hại vệ sinh như giấm rượu, Vitel pha nước.
Châu quả nhiên có công làm lợi nền kinh tế lúc này: tiền giam trong tủ mấy anh giàu bẩn được dịp may đội nón ra đi...
Sốt sắng, Văn Tôi lên tiếng cãi trong số 74, quyết xin cho Châu trắng án. Nhưng Châu có tội. Tòa Thượng thẩm đãi 3 năm tù, đáng lẽ phải 5.
Ngày nay Châu là tù. Cái thời giờ ngồi tù, Châu dùng để sửa lỗi theo phải, hay trái lại, dùng để nghĩ thêm mưu kế lừa đời một cách diệu hơn.
Trên hai dốc ấy, Văn Tôi nên liệu cho Châu bước xuống bên nào?
Muôn độ ơn lòng.
Nhà pha (quên ngày) 1931, Lái Lọng
Chúng ta nhận thấy những câu rất ngắn. Có câu chỉ có hai tù, ba từ, bốn tù. Không có một từ thì nào, từ  được dùng, cũng dùng một riêng. Các bài viết theo lối trên, tác giả đểu ký “Văn Tôi” ở dưới. Thể “Văn Tôi” ấy, thể văn buổi đầu của riêng Hoàng Tích Chu ấy, đã được một số nhà viết báo trẻ thừa nhận và viết theo. Dương Mậu Ngọc (tức Ngọc Thỏ tức Nhị Lang), Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính, Phùng Tất Đắc, Tchya[5] đều viết lối văn Hoàng Tích Chu trên Ngọ báo, Đông Tây, Việt báo, Nhật Tân, Tân Việt Nam và cả trên tờ Trung Bắc nữa.
Trên phụ trương báo Trung lập ở Sài Gòn (1931) trong bài nghị luận phải viết thế nào? có đoạn hoan nghênh lối văn Hoàng Tích Chu như sau:
Trong văn Quốc ngữ ta, cái lối viết của ông Hoàng Tích Chu thật nó biệt hẳn ra một lối, đủ mà kêu được là “lối văn Hoàng Tích Chu”: sự ấy trong làng văn ta hình như đã công nhận một cách vô tâm rồi. Chẳng luận lối văn ấy ông Chu sáng tạo ra hay bắt chước của ai, nội một cái biệt lập ra một nhà được như thế, cũng khá gọi là tay hào kiệt trong làng văn vậy”.
Mạnh dạn sửa đổi hình thức câu văn, làm cho văn xuôi được trau chuốt, xứng với cái tên của nó, không còn bị coi thường, nôm na, cha mách qué, chống cái bệnh lê thê, dài dòng, không biết chấm câu, là rất đáng hoan nghênh, nhưng coi đó là “biệt lập ra một nhà” là nói quá đáng. Người viết văn gọn gàng và chấm câu rành mạch đầu tiên, phải kể Phạm Duy Tốn. Ông Tốn viết không nhiều, chỉ để lại vài truyện ngắn, nhưng văn ông đã ảnh hưởng đến lớp trẻ. Trong tạp chí Nam phong (số 18, tháng 12/1918), truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn có đoạn:
“Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp quần áo ướt đầm, tất tả chạy xông vào, thở không ra hơi:
- Bẩm... quan lớn... đê vỡ mất rồi.
Ngài quay mặt vào, lại hỏi thày đề:
- Thày bốc quân gì thế?
- Dạ bẩm con chưa bốc.
- Thì bốc chứ!
Cách đây gần 70 năm mà những cầu văn trên đây tưởng như mới viết ngày nay. Hoàng Tích Chu là người đã nhìn thấy trong văn học hình thức phải đáp ứng nội dung, phải phục vụ đắc lực biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Đó là cái nhìn rất đúng của anh. Còn những từ thì từ  vốn có ý nghĩa và hiệu lực của nó. Đoạn văn trên đây của Phạm Duy Tốn từ thì trong câu: “Thì bốc chứ!” có ý nghĩa thúc giục phải làm ngay. Chỉ dùng không đúng chỗ, câu văn mới hóa rườm rà.
Viết văn xuôi, cần phải cân nhắc, nhưng chưa đến nỗi phải cân nhắc bằng thơ. Trong Truyện Kiều, tác phẩm văn vần bậc nhất của ta xưa và nay, Nguyễn Du đã dùng những từ thì, từ  rất đúng chỗ, muốn tước đi cũng không được.
Tuy rằng những từ  và thì bị loại trừ một cách quá đáng trong lối “văn cộc”, nhưng phải thừa nhận rằng lối văn Hoàng Tích Chu đã ảnh hưởng đến một số người viết văn trẻ vào những năm 30 của thế kỷ này. Một số người đã bỏ hết những từ mà, thì; còn một số người, trong đó có tôi, tuy không viết lối văn Hoàng Tích Chu, nhưng cũng đâm dè dặt trong khi dùng những từ thì, từ mà... Có một thời gian phong trào viết văn cộc đã dẫn người ta đến viết quốc văn theo lối văn Tây, không biết rằng văn phạm mỗi nước một khác. Viết lôi thôi, rườm rà, không biết chấm câu là rất dở, nhưng cắt xén câu văn nhiều quá, bỏ hết những từ thì, từ mà, không hiểu tác dụng của những từ ấy, làm cho câu văn tối nghĩa, đó là điều mà tính chất trong sáng của tiếng Việt không bao giờ dung thứ.
Tôi vào Quảng Nam năm 1932, một cụ nhà Nho rất hay thơ Nôm, nói với tôi: “Tôi vẫn đọc bài anh viết trên báo, không kể nội dung phải cái câu văn của anh Tây quá”. Lời nhận xét ấy làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều, viết văn mà “Tây quá” thì còn đâu là tính dân tộc! Ấy là mình chưa hẳn viết lối “văn cộc”. Tôi đã cố gắng tìm tính hài hòa, cố gắng dùng chữ thật Nôm, cùng lắm mới phải dùng những Hán Việt, cố gắng khi viết thì nghĩ đến người đọc, để ai cũng có thể hiểu ngay những ý mình muốn trình bày, những tư tưởng tình cảm mình muốn thể hiện.
Tiếng Việt của ta là một thứ tiếng trong sáng, đó là phương châm mà tôi phải nhớ trong khi viết.
Vào những năm 31, 32 Hoàng Tích Chu cũng đã tự thấy phải thay đổi lối viết của minh: Viết văn cộc không đạt hết ý, nhưng phải tránh không sa vào “lối văn thì thì mà mà” và “lối văn vậy vậy”. Anh đã nói với tôi như thế.
Tôi đang trông đợi xem lối viết cần phân của anh về như thế nào, thì thốt nhiên tờ Đông Tây của anh bị thực dân Pháp rút giấy phép.
Một buổi trưa hè năm 1932, tôi đã trông thấy bọn mật thám vừa Tây vừa ta xông vào nhà in Trung Bắc tịch thu những tờ báo Đông Tây còn chưa ráo mực. Chỉ vì số báo ấy đăng một bài thơ nhan đề là: “Cái chày”, ám chỉ tên tổng đốc Thái Bình họ Vi đã dùng chày để tra tấn, đánh giập đầu gối những người chính trị phạm.
Không còn báo để viết, Hoàng Tích Chu rất buồn. Mùa thu năm 1932, anh xuống chơi với tôi ở Thái Hà mặt buồn rười rượi, không còn vui tính như trước nữa. Mấy tháng sau, anh ốm nặng. Tôi đến thăm anh ở phố Lê Lợi (nay là phố Bà Triệu). Anh còn rất tỉnh, nghe tiếng tôi nói, anh nhận ra ngay, nhưng hai con mắt sắc sảo của anh lúc ấy đã phải che bằng hai mảnh the đen, vì anh rất sợ ánh sáng. Ngày 25 tháng Giêng năm 1933 tức ngày 29 tháng Chạp ta, anh mất, để thương, để tiếc cho nhiều bạn trẻ trong làng văn, làng báo Việt Nam lúc bấy giờ./.
                                                                                                 Vũ Ngọc Phan




[1] Nhà in Trung Bắc, ngoài việc in Trung Bắc tân văn và Annam Nouveau của Nguyễn Văn Vĩnh, còn in nhiều sách báo khác, nên nhiều nhà văn, nhà báo thường đến nhà in này.

[2] Quảng cáo của hãng sữa Nestlé có vẽ một em bé chừng một tuổi rất bụ bẫm ngồi bên hộp sữa.

[3] Tức vào được kỳ thứ 3 tại khoa thi hương Nam Định (trường Nam) rồi mới hỏng.
[4] Ở Đông Dương hồi bấy giờ có cái nạn mà thực dân Pháp gọi là Khủng hoảng vì không bán được gạo.
[5] Nghĩa là: tôi chẳng yêu ai (chắp chữ đầu), biệt hiệu của Đái Đức Tuấn.

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

Lọ mọ tìm sách Ký giả chuyên nghiệp... thấy bài này.

Tiêu Chuẩn Đạo Đức Của Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ

Lời phi lộ: Vào năm 2004 – giữa lúc cuộc tranh cử tổng thống của hai ứng viên George W. Bush và John Kerry diễn ra gay go, một tài liệu nói rằng George W. Bush đã trốn tránh chiến tranh Việt Nam bằng cách chạy chọt để vào Lực Lương Phòng Vệ Tiểu Bang Texas do Dan Rather tung ra trong chương trình CBS 60 Minutes buổi tối với hằng triệu khán giả. Tin này có thể làm lật cán cân chiến thắng về phía TNS. John Kerry. Nhưng sau đó CBS đã phải sa thải Dan Rather vì họ không sao chứng minh được tính cách xác thực của tài liệu loan đi, chấm dứt 54 năm sống đế vương và đầy quyền thế trong nghành truyền hình của Dan Rather. Sau đó CBS cũng sa thải luôn bà Mary Mapes là người chịu trách nhiệm soạn thảo chương trình và 03 producer khác có liên quan đến bản tin của Dan Rather. Rồi vào ngày 07 Tháng 06, 2010 vừa qua, bà Helen Thomas – một phóng viên chuyên lấy tin từ Tòa Bạch Ốc cũng đã chấm dứt sự nghiệp đầy vinh quang của mình trong 50 năm chỉ vì những lời tuyên bố về Do Thái gây chỉ trích từ khắp mọi phía.
Hai sự kiện nêu trên khiến tôi thắc mắc tự hỏi không biết các hãng thông tấn, các tòa báo, các hãng truyền hình Hoa Kỳ đã tuân thủ những quy tắc đạo đức nào mà họ sẵn sàng sa thải ngay, chứ không phải chỉ xin lỗi khơi khơi, khi phóng viên, ký giả hoặc người phụ trách chương trình của họ phạm phải lỗi mà công luận Hoa Kỳ không tha thứ. Quy tắc đạo đức đó ra sao? Từ đó tôi tò mò tìm kiếm và may mắn có được, nay xin cống hiến quý vị xem chơi cho biết. Nhưng trước khi dịch toàn văn tài liệu nhan đề Society of Professional Journalist: Code of Ethics tôi xin mạo muội làm rõ nghĩa hai chữ Professional Journalist. Professional Journalist theo tôi – có nghĩa là những ký giả/thông tín viên/nhà báo chuyên nghiệp, làm việc có trả lương (có khi lên tới vài chục triệu), có thẻ ký giả của một tòa báo, hãng thông tấn, hãng truyền hình nào đó, chứ không phải là những người viết free (không lương), không thẻ hành nghề, hứng thì viết chơi và không chính thức là nhân viên của một tòa báo, hãng truyền hình hoặc hãng thông tấn nào.
Society of Professional Journalists: Code of Ethics
I. Lời Mở Đầu (Preamble)
Hội viên của Hiệp Hội Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ tin rằng công luận sáng tỏ là điềm báo trước cho công lý và là nền tảng của dân chủ. Chức năng của các ký giả là xúc tiến những mục tiêu đó và cung ứng một bản tường trình công bằng, toàn diện về một biến cố hay một vấn đề. Ký giả có lương tâm của tất cả cơ quan truyền thông hoặc các nghành truyền thông chuyên biệt – nỗ lực phục vụ công chúng một cách hoàn hảo và công bằng. Chính trực trong nghiệp vụ là trụ cột tạo uy tín cho ký giả. Các hội viên của Hội cùng chia xẻ, cống hiến vào tác phong đạo đức, đồng thời chấp thuận và công bố những những quy tắc của Hiệp Hội cùng những tiêu chuẩn hành nghề như sau:
II. Tìm Kiếm Sự Thực Và Tường Trình (Seek Truth And Report It)
Ký giả phải chân thật, công bằng và can đảm trong việc thu lượm tin tức, tường trình và giải thích nguồn tin. Ký giả/phóng viên phải:
- Kiểm chứng lại tính xác thực của tin tức từ tất cả các nguồn gốc, tránh sơ xuất. Không bao giờ được bóp méo tin tức.
- Nỗ lực tìm cho ra chủ thể/nhân vật chính của bản tin để họ có cơ hội trả lời về những cáo buộc.
- Nhận ra các nguồn tin khi nào thấy đáng tin. Công chúng đòi hỏi sự xác tín càng nhiều càng tốt từ nhiều nguồn tin.
- Luôn luôn hỏi động cơ (motives) tức lý do tại sao trước khi ghi “anonymity” tức “người cho tin xin được phép dấu tên”.
- Phải bảo đảm rằng những tin hàng đầu, tin diễu cợt, tài liệu quảng cáo, hình ảnh, video, phát thanh, tranh vẽ/chữ, một đoạn của diễn văn/ đoạn văn ngắn, lời trích dẫn…không được trình bày sai lạc. Cũng không thể quá đơn giản hoặc “phóng đại tô màu” (highlight) thêm làm sai lạc nội dung.
- Không được bóp méo nội dung của tin lấy ra từ hình ảnh (news photos) hoặc video. (1) Luôn luôn phải xin phép khi dùng hình ảnh để làm phong phú thêm cho bản tin. Phải phụ chú các hình ảnh đính kèm theo tin.
- Tránh hướng dẫn sai lạc khi diễn lại các sự kiện xảy ra trong quá khứ (re-enactments). (2) Nếu sự diễn lại là cần thiết thì cần phải phụ chú.
- Tránh giả dạng hoặc dùng những phương pháp lén lút để thu lượm tin, ngoại trừ khi nào những phương thức công khai thường lệ không thể khai thác tin rất cần thiết cho công luận. Khi dùng tới phương thức này thì phải giải thích trong bản tường trình.
- Không bao giờ được ăn cắp tin (của người khác).
- Can đảm tường trình khi tin tức có tính cách đa chủng hoặc có tính cách nghiêm trọng cho dù có trái với ý muốn của công chúng đi nữa.
- Xem xét giá trị văn hóa của bản tin và tránh gán ghép những giá trị văn hóa đó cho người khác.
- Tránh thiên kiến về chủng tộc, phái tính, tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc, địa lý, khuynh hướng về dục tính, khuyết tật, hình dáng con người và địa vị xã hội.
- Hỗ trợ cho việc đổi chất công khai các quan điểm, cho dù các quan điểm đó mình không thích (ghét).
- Cho người không có tiếng nói được cơ hội nói và những nguồn tin chính thức cũng như không chính thức đều có giá trị ngang nhau.
- Phải phân biệt rõ sự bênh vực và tường trình khách quan. Khi có phân tích hoặc bình luận thêm thì phải nêu rõ và không được trình bày sai lạc sự kiện hay nội dung.
- Phải phân biệt rõ tin lấy ra từ các quảng cáo (3) và tránh loại pha trộn làm mờ ranh giới giữa hai loại.
- Phải ghi nhận một trách vụ đặc biệt – nếu là công việc chung (việc công) thì phải được điều hành một cách công khai và các tài liệu/hồ sơ phải được mở cho mọi người xem xét.
III. Giảm Thiểu Tại Hại (Minimize Harm)
Ký giả có lương tâm (đạo đức) phải đối xử với nguồn cung cấp tin tức, người bị đề cập tới (chủ thể của tin), đồng nghiệp như một con người và phải kính trọng họ. Ký giả/phóng viên phải:
- Bày tỏ sự bao dung (compassion) đối với những ai bị ảnh hưởng xấu hoặc bị thù ghét vì bản tin. Phải tế nhị trong khi tiếp xúc với trẻ em, các người cho tin hoặc chủ thể của bản tin thiếu kinh nghiệm. (4)
- Phải tế nhị khi lấy tin, phỏng vấn hoặc chụp hình những ai đang phải trải qua một thảm nạn hoặc tình cảm đớn đau. (5)
- Phải biết rằng khi săn tin rồi tường trình, bản tin đó có thể gây thiệt hại hoặc tạo buồn phiền cho người ta. Thu lượm tin tức không phải là cái bằng để kiêu ngạo (license for arrrogantce).
- Phải nhớ rằng công dân thường có nhiều quyền kiểm soát các dữ kiện liên quan đến cuộc đời họ hơn là các viên chức chính quyền hoặc những người đang vận động tranh cử, hoặc đang tạo ảnh hưởng hoặc đang muốn gây sự chú ý của quần chúng. (6) Chỉ khi nào quyền lợi công cộng cao hơn thì mới có thể biện minh cho sự xâm phạm vào đời tư cá nhân.
- Hãy trình bày đúng mức (good taste). Tránh việc dẫn dắt tới những gì lạ lùng gớm ghiếc.
- Phải thận trọng khi nhận dạng (nêu danh tánh) những nghi can vị thành niên hay nạn nhân của những vụ hãm hiếp/xâm phạm tiết hạnh.
- Phải suy nghĩ chín chắn trong việc nói rõ danh tính những can phạm hình sự trước khi có hồ sơ truy tố chính thức.
- Phải quân bình giữa quyền nghi can được xét xử công bằng và quyền của công chúng được biết rõ nội vụ.
IV. Hành Động Độc Lập (Act Independently)
Ký giả/phóng viên không đặt một thứ quyền lợi nào khác hơn là quyền của công chúng được quyền biết sự thật. Ký giả/phóng viên phải:
- Tránh mâu thuẫn về quyền lợi (conflict of interest) trước mắt hay có thể cảm nhận thấy. (7)
- Không dính líu tới các hội đoàn, các hoạt động để tránh gây tổn thương đến sự chính trực và uy tín của mình.
- Từ chối quà cáp, ưu đãi, chi phí, du lịch miễn phí, đặc quyền đặc lợi, tránh công việc phụ thêm, tham gia vào chính trị, cơ quan công quyền hoặc các dịch vụ của các tổ chức cộng đồng nếu nó làm tổn thương đến sự chính trực của ký giả.
- Công bố các đụng chạm/tranh chấp không thể tránh né được.
- Cảnh giác và can đảm giữ gìn những điều đó với tinh thần trách nhiệm.
- Từ chối đặc ân của các nhà quảng cáo, các nhóm quyền lợi và chống lại áp lực của họ muốn gây ảnh hưởng tới việc loan truyền tin tức.
- Cảnh giác với những người cung cấp tin khi đòi đặc ân hoặc tiền bạc, tránh trả giá để lấy tin.
V. Phải Có Tinh Thần Trách Nhiệm (Be Accountable)
Phóng viên/ký giả phải có tinh thần trách nhiệm với độc giả, thính giả, khán giả và với nhau. Ký giả/phóng viên phải:
- Làm sáng tỏ và giải thích sự loan tải tin tức đồng thời mời đối thoại với công chúng về chức năng của ký giả.
- Khuyến khích công chúng không nên than phiền giới truyền thông.
- Thú nhận lỗi lầm và sửa chữa ngay.
- Phơi bày (không dấu diếm) lối hành xử thiếu đạo đức của ký giả và cơ quan truyền thông.
- Cam kết tôn trọng những tiêu chuẩn cao mà những tiêu chuẩn này ứng dụng cho người khác.
Tiêu Chuẩn Đạo Đức Của Ký Giả Chuyên Nghiệp Hoa Kỳ được hằng chục ngàn ký giả tự nguyện tôn trọng không phân biệt nơi chốn hay chỗ đứng và được áp dụng rộng rãi trong phòng làm tin và lớp học như là một tiêu mẫu cho hành vi đạo đức. Bản tiêu chuẩn không phải là một loạt những “luật lệ” mà là nguồn tham khảo cho việc quyết định có tính cách đạo đức. Nó không phải – và không nằm dưới Tu Chính Án Số Một – có tính cưỡng hành pháp lý. 
Bản sao của văn bản này được chấp thuận trong Đại Hội Toàn Quốc Của Ký Giả Hoa Kỳ năm 1996, sau nhiều tháng nghiên cứu và thảo luận giữa các hội viên. Tiêu Chuẩn Đạo Đức Đầu Tiên của Sigma Delta Chi (tên khác của Hiệp Hội Ký Giả Chuyên Nghiêp Hoa Kỳ) được vay mượn từ Hiệp Hội Các Nhà Biên Tập Báo Chí Hoa Kỳ năm 1926. Năm 1973, Sigma Delta Chi tự soạn lấy bản tiêu chuẩn đạo đức, sau đó bản này được duyệt lại vào các năm 1984, 1987 và 1996. 
Chú thích của người dịch:
(1) Ví dụ hai nguời đàn ông và đàn bà nói chuyện riêng với nhau bên lề một cuộc họp, không thể bóp méo bằng cách ghi chú dưới bức hình rằng hai người đang tình tự với nhau.
(2) Diễn lại một vụ án giết người.
(3) Như các quảng cáo tranh cử.
(4) Ngu ngơ, còn chưa quen với báo chí.
(5) Chẳng hạn một tai nạn máy bay thảm khốc, hoặc gia đình người ta đang đau đớn vì có người bị giết chết v.v…
(6) Muốn nổi tiếng.
(7) Ví dụ làm một phóng sự tố cáo sự bê bối của một thẩm mỹ viện trong khi vợ mình đang làm chủ một thẩm mỹ viện khác và là đối thủ của thẩm mỹ viện nói trên.
(8) Chắc chắn bản dịch không hoàn hảo. Nếu vị nào có bản dịch chính xác hơn xin gửi cho trong tinh khiêm tốn học hỏi. Chân thành cảm tạ.

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

Camera đầu tiên của VTV


VTV.vn – VTV News xin giới thiệu tới quý độc giả bài viết của nhà báo Nguyễn Văn Vinh, Nguyên Phó Trưởng Tiểu ban tuyên truyền đối ngoại, Đài THVN về chiếc camera “Ngựa trời”.

Ngày nay, chỉ với chiếc máy quay bé xíu hay chiếc điện thoại thông minh, bất cứ ai cũng dễ dàng làm ra được những video clip có độ phân giải HD, thậm chí là 4K. Sự phát triển vượt bậc ấy của công nghệ càng làm cho tôi nhớ tới buổi phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên của chúng ta được tạo ra bởi chiếc camera có tên “Ngựa Trời”.
Ngày 7 tháng 9 năm 1970, ngày phát sóng chương trình truyền hình thử nghiệm đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là một sự kiện quan trọng, đánh dấu việc ra đời của truyền hình ở miền Bắc, trong khi ở miền Nam đã có truyền hình vài năm trước đó.
Chiếc máy camera Ngựa Trời
Chiếc máy camera “Ngựa Trời”
Từ yêu cầu thực tế và sự phát triển của tình hình đất nước, Bộ biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam, do ông Trần Lâm làm Tổng biên tập, đã nêu quyết tâm ra mắt chương trình truyền hình vào dịp kỷ niêm 25 năm thành lập Đài (7/9/1945 – 7/9/1970). Từ đầu năm 1970, Đài lập một nhóm cán bộ gọi tạm là “Ban chuẩn bị làm truyền hình” do Phó Tổng biên tập Nguyễn Văn Nhất phụ trách kỹ thuật và kinh tế, đứng đầu. Việc phân công này thể hiện sự quan tâm, ưu tiên khâu kỹ thuật nhằm đảm bảo sự thành công cho buổi truyền hình đầu tiên.
Yêu cầu mang tính quyết định lúc đó là xây dựng hạ tầng kỹ thuật truyền hình tối thiểu, gồm: trường quay với camera điện tử; máy phát sóng truyền hình; ăng ten phát sóng; máy thu hình. Vì không thể có ngoại tệ mạnh để mua thiết bị của nước ngoài, lãnh đạo Đài đã động viên anh chị em kỹ thuật phát huy tinh thần tự lực và sáng tạo, lắp các thiết bị truyền hình với linh kiện điện tử phát thanh sẵn có, quyết tâm phát sóng bằng được chương trình thử nghiệm vào ngày 7-9-1970.
Những yêu cầu cơ bản nêu trên Đài có thể giải quyết nhưng để tự lắp được một camera điện tử thì anh em kỹ thuật thật sự gặp muôn vàn khó khăn. Chúng ta không có bộ phận quan trọng nhất của một camera điện tử là ống thu hình Super Orthicon. Để khai thông vấn đề nan giải này, Tổng biên tập Trần Lâm đã viết thư cho ông Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về phát thanh và truyền hình Liên Xô phụ trách kỹ thuật để xin 2 ống thu hình Super Orthicon đã quá thời hạn sử dụng. Phía bạn đồng ý, một thời gian sau, 2 ống thu hình điện tử được ông Lê Tiến, Trưởng đoàn thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Moscow mang về để anh em kỹ thuật lắp ráp. Đối với Đài truyền hình Trung ương Liên Xô, những ống thu hình này đã quá tuổi thọ, nhưng để làm chương trình thử nghiệm ở Việt Nam thì vẫn còn dùng được.
Các kỹ sư lắp ráp chiếc camera Ngựa Trời
Các kỹ sư lắp ráp chiếc camera “Ngựa Trời”
Từ đầu tháng 8 năm 1970, công việc lắp camera điện tử được tiến hành khẩn trương. Sau nhiều ngày đêm miệt mài nghiên cứu, các cán bộ kỹ thuật đã được lắp chiếc camera điện tử đầu tiên, cho ra những hình ảnh lờ mờ trôi trên màn hình. Mọi người rất vui và phấn khởi khi thấy với những linh kiện dùng cho phát thanh được gom từ nhiều nguồn cùng những nỗ lực không mệt mỏi của anh chị em, chiếc camera đã cho ra hình ảnh có thể sử dụng được. Sau một thời gian tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện, 2 camera điện tử đã được lắp ráp thành công. Tuy một số tính năng còn chưa hoàn chỉnh như: không di chuyển được, 3 ống kính khó thay đổi khi bắt hình, nhưng cả 2 camera đều đã cho ra hình ảnh trên monitor.
Về hình thức, 2 camera này trông khá lạ mắt. Anh em kỹ thuật đã tạo một cái “hộp” đặt vừa ống thu hình Super Orthicon và các bảng mạch linh kiện điện tử cồng kềnh thời đó. Camera trông hơi thô nhưng cho hình ảnh sử dụng đươc. Một số anh chị em gọi đùa đó là “thùng lạc rang” của người bán dạo trên hè phố thời đó. Nhưng Bộ biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam lại nhìn những camera này dưới một góc độ khác.
Ông Trần Lâm đánh giá cao quyết tâm, tinh thần sáng tạo, tự lực, tự cường của anh chị em kỹ thuật và từ hình dáng độc đáo của nó, 2 camera được đặt tên là “Ngựa Trời”, lần lượt có số hiệu “NT1″ và “NT2″. “Ngựa Trời” là tên một loại súng tự tạo của quân Giải phóng miền Nam, được sử dụng trong chiến đấu, phóng đầu đạn lớn gây nỗi kinh hoàng cho quân địch. Việc đặt tên “Ngựa Trời” thể hiện tình cảm sâu nặng của anh chị em Đài Tiếng nói Việt Nam với miền Nam. Đó cũng là niềm tự hào về lòng quyết tâm, sự sáng tạo của một thế hệ từ hai bàn tay trắng đã tạo nên được những chiếc camera có một không hai này.
Tổng biên tập Trần Lâm phát biểu ra mắt buổi truyền hình đầu tiên
Tổng biên tập Trần Lâm phát biểu ra mắt buổi truyền hình đầu tiên
Camera điện tử “Ngựa Trời” đã làm tròn sứ mạng của mình trong buổi phát sóng chương trình truyền hình thử nghiệm đầu tiên vào 19h ngày 7 tháng 9 năm 1970, tại Studio M (phòng thu nhạc lớn) 58 phố Quán Sứ, Hà Nội. Chiếc camera thô sơ chính là “linh hồn” của buổi truyền hình kéo dài gần hai tiếng đồng hồ với đầy đủ các chương trình Thời sự, Những bông hoa nhỏ và Ca nhạc.
Để tránh rủi ro “tàng hình”, điều có thể xảy ra bất cứ lúc nào, các đạo diễn đề nghị giữ camera “Ngựa Trời” cố định, chỉ sử dụng một ống kính; phải điều chỉnh khoảng cách của phát thanh viên, giá để bảng chữ sao cho camera chỉ lia qua, lia lại để bắt hình. Mỗi lần chuyển cảnh từ phát thanh viên sang bảng chữ hay đổi diễn viên, phải đậy nắp ống kính để chuyển máy, bắt hình mới. Khán giả trong trường quay vừa xem cảnh thật, vừa xem hình trên monitor, lúc im phắc, lúc lại rộ lên “rõ quá! rõ quá!”.
Chương trình thiếu nhi những ngày đầu của Đài THVN
Chương trình thiếu nhi những ngày đầu của Đài THVN
PTV Nguyễn Thơ đọc bản tin Thời sự
PTV Nguyễn Thơ đọc bản tin Thời sự
Thành công của buổi truyền hình ngày ấy là bước ngoặt đánh dấu sự ra đời của truyền hình ở miền Bắc, tạo nguồn lực cơ bản góp phần quan trọng vào việc tiếp quản và vận hành Đài Truyền hình Sài Gòn 5 năm sau đó (30/4/1975). Đó cũng là nền tảng vững chắc cho sự phát triển mang tính đột phá của Đài Truyền hình Việt Nam như ngày nay.
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên số với những thay đổi đến chóng mặt trong kỹ thuật truyền hình và công nghệ thông tin, nhưng những chiếc Camera “Ngựa Trời” 45 năm trước đã để lại một dấu ấn sâu đậm, không thể phai mờ về quyết tâm và sự sáng tạo của con người Việt Nam.

Tổng quan về công tác thống kê


Thông tin thống kê có vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách, quản lý và điều hành nền kinh tế. Trong thời đại ngày nay, mọi hoạt động của xã hội đều gắn với thông tin nói chung và đặc biệt là thông tin thống kê kinh tế - xã hội nói riêng
Trải qua 60 năm xây dựng và phát triển, ngành Thống kê luôn đảm bảo đáp ứng tương đối đầy đủ các thông tin kinh tế xã hội phục vụ Đảng và chính quyền các cấp, các ngành trong hoạch định chính sách và chỉ đạo điều hành nền kinh tế. Hiện nay, nhu cầu sử dụng thông tin thống kê ngày càng nhiều, không chỉ từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ngành mà còn từ nhiều đối tượng khác trong và ngoài nước, đòi hỏi ngành Thống kê phải nỗ lực hơn nữa để đáp ứng đầy đủ hơn, kịp thời hơn. Thực tế hiện nay người sử dụng còn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, khai thác thông tin thống kê. Phạm vi thống kê chưa bắt kịp sự phát triển nhanh của một số lĩnh vực, chưa phản ánh sát kết quả hoạt động kinh tế, nhất là các hoạt động kinh tế đang được xã hội hoá cao.
Để phục vụ kịp thời và hiệu quả hơn việc xây dựng và điều hành các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phục vụ quá trình dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, Lãnh đạo Tổng cục Thống kê đã chỉ đạo để tìm ra các giải pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng thông tin thống kê. Nâng cao chất lượng thông tin thống kê là vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn. Bài viết này giới thiệu tổng quan những vấn đề chung về chất lượng thông tin thống kê.
I. Một số vấn đề chung về chất lượng thông tin thống kê
1. Khái niệm chất lượng thông tin thống kê
Khái niệm chung nhất về chất lượng thông tin thống kê được hiểu đó là "sự phù hợp cho sử dụng". Ban đầu các nhà thống kê hiểu và đồng nhất chất lượng thông tin thống kê với tính chính xác của nó. Cách hiểu như vậy chưa đầy đủ vì nếu thông tin chính xác nhưng được tính toán và công bố chậm, hoặc người sử dụng không thể tiếp cận để có thông tin thì cũng không thể nói thông tin thống kê có chất lượng vì nó không có ý nghĩa dưới góc độ người sử dụng. Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Thống kê Canađa đã đưa ra định nghĩa: "Chất lượng của thông tin thống kê là sự phù hợp sử dụng của khách hàng".
Để đáp ứng nhu cầu của ‘’khách hàng‘’ đối với thông tin thống kê, cơ quan thống kê phải xác định yêu cầu của người sử dụng là gì. Dựa vào điều kiện hoàn cảnh thực tế của từng quốc gia, ý thức phục vụ người sử dụng, mỗi cơ quan thống kê có cách tiếp cận tới khái niệm chất lượng và đưa ra các tiêu thức riêng để phản ánh chất lượng thông tin thống kê. Với chức năng nhiệm vụ và mục tiêu, mỗi tổ chức quốc tế có cách tiếp cận riêng tới khái niệm và lựa chọn các tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê khác nhau. Chẳng hạn, Quỹ tiền tệ quốc tế quan tâm nhiều tới phương pháp luận thống kê nên đã xây dựng một lược đồ đánh giá chất lượng thông tin theo thứ bậc với năm cấp. Cấp một có năm tiêu thức phản ánh chất lượng và hiểu đó là các điều kiện tiên quyết, bao gồm: tính trung thực; tính tin cậy về phương pháp luận; tính chính xác; khả năng tiếp cận và khả năng phục vụ. Cấp hai và cấp ba bao gồm các yếu tố và các chỉ tiêu của chất lượng. Cấp bốn đề cập tới những vấn đề tập trung đặc biệt và cấp năm liên quan tới những điểm cơ bản cần thực hiện để đảm bảo chất lượng thông tin.
Cơ quan Thống kê Châu Âu với quan điểm đặt người sử dụng và các yêu cầu của họ đối với số liệu thống kê vào trọng tâm trong công tác nên cơ quan này đã dựa vào các định mức của tiêu chuẩn ISO 8402 để đưa ra 7 tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê, bao gồm: tính phù hợp, tính chính xác, khả năng tiếp cận, tính kịp thời, tính chặt chẽ, khả năng so sánh và tính đầy đủ. Cơ quan Thống kê Liên Hợp Quốc (UNSD) và một số tổ chức khác như tổ chức Nông nghiệp và Lương thực quốc tế đưa ra ý tưởng về chất lượng thông tin chỉ tập trung vào một số yếu tố phản ánh về chất lượng. Chẳng hạn, vào năm 1996, UNSD đã công bố Quy tắc phổ biến số liệu áp dụng trong thực tế thống kê, đồng thời UNSD cũng tiến hành rà soát trong nội bộ công tác thu thập số liệu, hiệu chỉnh và công bố thông tin để tìm ra phương pháp tốt nhất cho các hoạt động thu thập số liệu, hiệu chỉnh, đánh giá và công bố các bản siêu dữ liệu.
Khác với các tổ chức thống kê quốc tế, căn cứ vào tình hình thực tiễn và trình độ phát triển của từng nước, các cơ quan Thống kê quốc gia nghiên cứu và lựa chọn các tiêu thức riêng để áp dụng trong công tác quản lý chất lượng thông tin thống kê của nước mình. Cơ quan Thống kê Canađa - một trong những cơ quan thống kê quốc gia đi đầu trên thế giới trong thực hiện quản lý chất lượng thông tin thống kê và coi công tác này có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình quản lý chung của toàn bộ cơ quan đã lựa chọn sáu tiêu thức sau: tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời, khả năng tiếp cận, tính chặt chẽ và khả năng giải thích. Thống kê Thụy Điển quan niệm chất lượng sản phẩm thống kê là chất lượng của các thông tin đầu ra do người sử dụng quyết định. Sản phẩm thống kê được coi là có chất lượng nếu hầu hết người sử dụng tin tưởng rằng sai số thống kê được kiềm chế và trong một khoảng cho phép, độ lệch chuẩn và khoảng tin cậy phản ánh đúng thực tế. Thống kê Thụy Điển có trách nhiệm bảo đảm số liệu thống kê phù hợp với mục đích của người dùng tin và chỉ lựa chọn năm tiêu thức để phản ánh chất lượng thông tin: tính chính xác, khả năng tiếp cận, tính kịp thời, tính chặt chẽ và khả năng so sánh.
2. Thống kê Việt Nam lựa chọn các tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin
Dựa vào Điều 4 của Luật Thống kê, xét điều kiện thực tế của Việt Nam, đồng thời tham khảo việc lựa chọn các tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin của tổ chức thống kê các nước và quốc tế, Tổng cục Thống kê đề xuất sáu tiêu thức nên lựa chọn trong công tác quản ký và nâng cao chất lượng thông tin thống kê:tính phù hợp, tính chính xác, tính kịp thời,khả năng tiếp cận, khả năng giải thích và tính chặt chẽ. Đề xuất sáu tiêu thức dựa trên những cơ sở chủ yếu sau đây:
a, Để đảm bảo tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong hoạt động thống kê được qui định trong Luật Thống kê đòi hỏi thông tin thống kê phải đáp ứng các tiêu thức về tính phù hợp, tính chính xác và tính kịp thời. Luật thống kê cũng qui định "Công khai về phương pháp thống kê, công bố thông tin về thống kê" và "Bảo đảm quyền bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng thông tin thống kê nhà nước phải được công bố công khai". Hai nguyên tắc này đòi hỏi thông tin thống kê phải đáp ứng các tiêu thức về khả năng tiếp cận và khả năng giải thích.
b, Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng độ tin cậy của thông tin thống kê đó là phương pháp luận áp dụng trong thu thập, xử lý và biên soạn các chỉ tiêu chưa đồng bộ và thống nhất. Tính chặt chẽ đòi hỏi TCTK phải sử dụng thống nhất các khái niệm, phân loại chuẩn và phương pháp luận trong toàn bộ hệ thống thống kê, vì vậy tiêu thức tính chặt chẽ rất cần thiết và phù hợp với tình hình thực tiễn của TCTK.
c, Áp dụng sáu tiêu thức là điều kiện cần để TCTK đáp ứng 10 nguyên tắc cơ bản của thống kê nhà nước do các tổ chức thống kê quốc tế nêu ra, đảm bảo uy tín của TCTK và đảm bảo chất lượng của thông tin thống kê.
d, Lựa chọn sáu tiêu thức phù hợp với xu thế lựa chọn chung của cơ quan thống kê các nước và các tổ chức quốc tế, đảm bảo tính tương thích trong cách hiểu, phương pháp tiếp cận đến phương pháp quản lý chất lượng thông tin thống kê và trong chừng mực nào đó đảm bảo khả năng so sánh giữa các cơ quan thống kê quốc gia.
Sáu tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê có nội dung như sau :
(i) Tính phù hợp của số liệu thống kê được thể hiện qua mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin của người sử dụng. Đánh giá mức độ phù hợp của số liệu thống kê phụ thuộc vào nhu cầu khác nhau và hay thay đổi của người dùng tin. Với nguồn lực có hạn, cơ quan thống kê không thể đáp ứng tất cả nhu cầu của người dùng tin mà phải xác định những loại số liệu biên soạn nhằm giải quyết bất cập giữa nhu cầu thông tin đa dạng với nguồn lực có hạn nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của người sử dụng.
(ii) Tính chính xác của số liệu thể hiện qua mức độ phản ánh sát thực các hiện tượng kinh tế, xã hội của các chỉ tiêu thống kê. Không thể đòi hỏi số liệu thống kê phản ánh đúng hiện tượng vì thông tin thống kê đầu vào dùng để tính toán luôn chứa đựng sai số hệ thống và sai số ngẫu nhiên.
(iii) Tính kịp thời của số liệu thống kê biểu thị độ trễ về thời gian giữa thời kỳ hay thời điểm số liệu thống kê phản ánh với thời điểm công bố số liệu. Luôn có sự đánh đổi giữa tính chính xác và tính kịp thời của số liệu thống kê, yêu cầu số liệu càng nhanh thì độ chính xác của số liệu càng kém.
(iv) Khả năng tiếp cận của số liệu thống kê thể hiện mức độ dễ dàng để có được số liệu từ các cơ quan thống kê. Khả năng tiếp cận thể hiện ở hai khía cạnh: Mức độ dễ dàng để có thể xác minh được số liệu thống kê cần có và sự phù hợp của các phương thức tiếp cận số liệu.
(v) Khả năng giải thích của số liệu thống  phản ánh mức độ sẵn có của những thông tin bổ sung và các bảng giải thích cần thiết giúp cho người dùng tin hiểu và sử dụng số liệu một cách chính xác và hợp lý, bao gồm: khái niệm của chỉ tiêu, các phương pháp phân loại đang áp dụng, phương pháp thu thập và xử lý thông tin, phương pháp luận dùng trong biên soạn chỉ tiêu và chỉ rõ mức độ chính xác của số liệu thông tin thống kê.
(vi) Tính chặt chẽ của số liệu thống kê phản ánh mức độ kết hợp số liệu từ các nguồn khác nhau để đưa vào cùng một lược đồ số liệu rộng hơn theo thời gian. Tính chặt chẽ đòi hỏi cơ quan thống kê phải sử dụng thống nhất các khái niệm, phân loại chuẩn và phương pháp luận trong toàn bộ hệ thống thống kê.
Các tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê mang ý nghĩa định tính. Trong quản lý, các nhà thống kê đã xây dựng Hệ thống đánh giá chất lượng thông tin để đo lường chất lượng thông tin về mặt định lượng. Hệ thống này tập trung đánh giá trên sáu lĩnh vực: (i) Môi trường làm ra thông tin thống kê, (ii) Tính phù hợp của qui trình làm ra thông tin thống kê, (iii) Tính chính xác của hoạt động thu thập thông tin, (iv) Tính hoàn hảo của thông tin thống kê đã công bố, (v) Mức độ thoả mãn nhu cầu của người sử dụng, (vi) Nỗ lực hoàn thiện chất lượng thông tin. Trong mỗi lĩnh vực đều lựa chọn một số chỉ tiêu để đánh giá và cuối cùng lượng hoá bằng điểm số cho cả hệ thống.
II. Thực trạng chất lượng thông tin thống kê của nước ta
1. Thực trạng chất lượng thông tin thống kê nước ta
Trên cơ sở lựa chọn sáu tiêu thức phản ánh chất lượng thông tin thống kê, trong phần này chúng tôi đề cập tới thực trạng chất lượng thông tin thống kê theo những tiêu thức này.
1.1. Tính phù hợp của thông tin thống kê là một đòi hỏi cao và khó đối với ngành Thống kê vì yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê rất đa dạng và có tính phức tạp khác nhau. Cơ quan quản lý nhà nước cần nhiều thông tin mang tính tổng hợp, ngược lại yêu cầu thông tin của nhà đầu tư lại rất cụ thể về các yếu tố sản xuất, kết quả sản xuất và chi tiết đến từng ngành, nhóm ngành.
Do yêu cầu đa dạng và phức tạp của các đối tượng sử dụng, ngành Thống kê không bao giờ đáp ứng đầy đủ mọi đòi hỏi của tất cả các đối tượng sử dụng chủ yếu và các đối tượng khác. Nhìn chung số liệu của Tổng cục Thống kê ngày càng mở rộng và đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các đối tượng dùng tin, nhưng mới đảm bảo một phần yêu cầu và còn thiếu nhiều chỉ tiêu như: Chỉ tiêu phản ánh về tiến bộ kỹ thuật và áp dụng công nghệ kỹ thuật mới, chỉ tiêu phản ánh về năng lực sản xuất và sử dụng năng lực của một số ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân,... Mặt khác còn có sự trùng chéo về thông tin thống kê đầu ra giữa TCTK và một số Bộ, ngành liên quan. Số liệu thống kê của các chuyên ngành phân tổ theo vùng lãnh thổ còn bất cập, chưa phù hợp, chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng.
1.2. Tính chính xác. Hiện nay ngành Thống kê chưa lượng hoá được các sai số, đồng thời mức độ chính xác của số liệu mới chỉ đánh giá mang tính chất định tính và theo kinh nghiệm của các chuyên gia. Nhìn chung, số liệu thống kê tính chung cho toàn bộ nền kinh tế đã phản ánh đúng bản chất và xu hướng của các hiện tượng kinh tế, xã hội như: tốc độ tăng trưởng của sản xuất, cơ cấu kinh tế,... Tuy vậy, mức độ tiệm cận của xu hướng so với thực tế vẫn chưa sát do số liệu thống kê còn chứa đựng các sai số không chỉ do chủ quan của cán bộ thống kê, mà còn bị ảnh hưởng của tư tưởng thành tích cục bộ, áp đặt số liệu theo chủ quan duy ý chí của lãnh đạo các cấp.
Tính chính xác của số liệu thống kê còn được đánh giá thông qua mức độ chênh lệch của số liệu ước tính, số liệu sơ bộ và số liệu chính thức. Qua tìm hiểu một số chuyên ngành cho thấy tính chính xác của số liệu thống kê hiện nay vẫn là chủ đề gây nhiều tranh luận. Hiện tượng chênh lệch giữa số liệu ước, số liệu sơ bộ và số liệu chính thức, giữa số liệu tổng hợp chung của toàn quốc với số liệu của các địa phương là khá phổ biến. Hiện tượng này phát sinh ở hầu hết các chuyên ngành.
1.3. Tính kịp thời. Ngành Thống kê đã tổ chức thu thập, tổng hợp và công bố số liệu vào những thời điểm, dưới các dạng số liệu khác nhau: số ước tính, số sơ bộ và số chính thức. Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các Cục Thống kê đã bổ sung nhiều chỉ tiêu so với trước và các biểu báo cáo đã thay đổi về thời gian để có thông tin kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế của từng vùng. Ngành Thống kê đã tăng số kỳ báo cáo của nhiều chỉ tiêu nên đã nâng cao hơn tính kịp thời trong cung cấp thông tin thống kê. Tuy vậy, tính kịp thời của thông tin thống kê còn chưa đồng đều giữa các ngành, các nhóm chỉ tiêu. Nhiều chỉ tiêu, báo cáo chính thức, đặc biệt là các chỉ tiêu báo cáo năm, số liệu của các cuộc tổng điều tra thống kê,... còn chậm đã làm giảm tính thời sự và giá trị của thông tin.
1.4. Khả năng tiếp cận. Số liệu thống kê được biên soạn nhằm mục đích hướng tới nhu cầu của người sử dụng và phổ biến rộng rãi dưới nhiều hình thức. Trong các hình thức phổ biến khác nhau, trang Web của TCTK được người dùng tin đánh giá cao. Tuy vậy, việc cung cấp thông tin thống kê vẫn còn những hạn chế. Chưa công bố rộng rãi một số thông tin ước tính và thường tập trung công bố một số chỉ tiêu quan trọng, cho một số đối tượng sử dụng chủ yếu như: Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan trực tiếp. Nhiều thông tin chỉ công bố hạn chế ở mức độ tổng hợp và cho phạm vi cả nước. Số lượng và chủng loại các ấn phẩm còn ở mức khiêm tốn, chưa đa dạng, chậm được cải tiến cả về hình thức và nội dung thông tin. Thông tin để người sử dụng có thể khai thác qua mạng chưa nhiều và chưa được cập nhật kịp thời. Công tác tuyên truyền quảng bá về thống kê còn ít. Chưa có cơ chế rõ ràng về cung cấp các thông tin chuyên sâu, chi tiết, các cơ sở dữ liệu vi mô. Do vậy, việc cung cấp các loại thông tin còn mang tính tự phát, tuỳ tiện và nhiều khi không thống nhất giữa các đối tượng khác nhau.
1.5. Khả năng giải thích. Ngành Thống kê đã quan tâm đến khả năng giải thích của số liệu và trên thực tế đã đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng về tính công khai, minh bạch đối với phương pháp thu thập thông tin và chế độ báo cáo. Phương án của các cuộc tổng điều tra được công khai trên trang Web của TCTK để mọi đối tượng có thể tìm hiểu. Phổ biến thông tin thống kê có kèm theo các bảng giải thích về khái niệm, nội dung, phương pháp tính. Tuy vậy, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục nhằm nâng cao hơn nữa khả năng giải thích của số liệu thống kê trong thời gian tới với mục tiêu để đa số người sử dụng biết được những thông tin nào hiện có, phương pháp thu thập và tính toán các chỉ tiêu cũng như thời điểm cung cấp số liệu.
1.6. Tính chặt chẽ. Số liệu thống kê cơ bản đã đảm bảo tính chặt chẽ và lôgíc cả về không gian và thời gian. Số liệu sơ cấp được thu thập, tính toán dựa trên các khái niệm, định nghĩa và phân tổ theo một chuẩn mực thống nhất nên có thể dùng để tổng hợp và liên kết giữa các chỉ tiêu có liên quan. Số liệu tổng hợp được sắp xếp theo trình tự khoa học, thống nhất về phạm vi và cách phân tổ.
Quá trình thiết kế các loại phiếu điều tra được thực hiện một cách đồng bộ ở các khâu công việc từ việc xác định nhu cầu, nội dung điều tra đến xây dựng phương án, thiết kế mẫu, phiếu điều tra, tài liệu hướng dẫn cũng như các qui trình bắt buộc trong điều tra. Chế độ báo cáo thống kê thường xuyên được nghiên cứu, bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với nhu cầu thông tin trong từng thời kỳ và đặc điểm tổ chức sản xuất của các đơn vị đề xuất những nội dung và hình thức báo cáo phù hợp. Tuy vậy đi sâu tìm hiểu số liệu chi tiết của ngành còn thấy bất hợp lý. Phần lớn số liệu chỉ sử dụng được ở mức độ toàn nền kinh tế, phân tổ đối với ngành cấp I và cấp II. Các bộ số liệu khác nhau phân tổ chi tiết đến ngành cấp III còn có mâu thuẫn. Giữa Tổng cục với các Cục Thống kê và giữa các Cục Thống kê với nhau chưa có sự thống nhất về nội dung, phương pháp điều tra thu thập số liệu, tổng hợp, tính toán và suy rộng trên địa bàn lãnh thổ. Chưa đảm bảo tính hệ thống và thiếu sự chỉ đạo thống nhất, mặc dù nội dung, nguồn thông tin và phương pháp tính của nhiều chỉ tiêu đã được xây dựng theo những qui trình chặt chẽ và khoa học nhưng trên thực tế việc tổ chức thực hiện chưa nghiêm túc.
2. Các nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng thông tin thống kê
2.1. Phương pháp thống kê có vai trò quan trọng, không những quyết định phương pháp tính các chỉ tiêu cụ thể mà còn quyết định tới các hoạt động thống kê có liên quan. Với thực tế hiện nay về phương pháp thống kê của ngành, Tổng cục cần rà soát và hoàn thiện phương pháp thống kê thuộc tất cả các lĩnh vực. Đây là một nội dung lớn, cần đưa ra thành một chương trình công tác trọng tâm của ngành. Ở đây chúng tôi chỉ liệt kê một vài nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng của một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đó là: Phạm vi tính chưa đầy đủ; đơn vị thống kê dùng để thu thập thông tin chưa phù hợp; phương pháp tính còn nhiều bất cập, chưa tôn trọng đầy đủ các nguyên tắc cơ bản khi tính chỉ tiêu; qui trình tính chưa phù hợp và khoa học.
2.2. Tính đồng bộ của số liệu thống kê được phản ánh trên hai góc độ: đồng bộ giữa số liệu đầu vào và chỉ tiêu đầu ra được đề cập theo các nội dung sau: (i) Giữa số liệu trung ương và số liệu địa phương, (ii) Số liệu giữa TCTK và các Bộ, Ngành, (iii) Giữa chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu chuyên ngành, (iv) Giữa số liệu dự báo và số liệu chính thức. Đồng bộ về phương pháp và công cụ dùng trong biên soạn các chỉ tiêu được đề cập theo các nội dung sau: (i) Đồng bộ giữa số liệu thống kê chuyên ngành và thống kê tổng hợp, (ii) Đồng bộ giữa thống kê tài khoản quốc gia thuộc TCTK với các Cục Thống kê, (iii) Đồng bộ của thống kê chuyên ngành, giữa TCTK với các Cục Thống kê.
2.3. Cơ chế quản lý và một số yếu tố khác như: quan niệm của người sử dụng thông tin, phương thức phổ biến thông tin, sự hiểu biết của người sử dụng về qui trình sản xuất số liệu thống kê cũng là những nhân tố tác động tới chất lượng của thông tin thống kê. Chẳng hạn, Cục Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu sự quản lý của TCTK về nghiệp vụ chuyên môn, nhưng hệ thống chính trị thuộc sự quản lý của địa phương. Do bệnh thành tích và một số lý do khách quan khác, lãnh đạo tỉnh và thành phố đôi khi can thiệp vào số liệu do các Cục Thống kê tính.
III. Một số vấn đề cần nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng thông tin thống kê
1. Hoàn thiện phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê có tầm quan trọng đặc biệt vì nó sẽ quyết định tới các loại thông tin thống kê đầu vào, tới đối tượng thu thập thông tin, phương pháp và công cụ dùng trong tính toán các chỉ tiêu thống kê đầu ra. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi đề xuất một số nội dung cơ bản nhất về hoàn thiện phương pháp thống kê trong tổng thể các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin thống kê, bao gồm các nội dung sau:
1.1. Đơn vị thống kê. TCTK cần nghiên cứu và hoàn thiện từng loại cụ thể đơn vị thống kê với mục đích biên soạn từng chỉ tiêu kinh tế cụ thể. Vụ Phương pháp chế độ thống kê phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện nội dung này.
1.2. Xây dựng và áp dụng các bảng phân loại. Bên cạnh việc rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các bảng danh mục hiện có TCTK cần tiếp tục nghiên cứu và trình Chính phủ ban hành một số bảng phân loại mới. Khi đã xây dựng và ban hành các bảng phân loại và danh mục, Tổng cục phải có biện pháp áp dụng vào từng lĩnh vực thống kê phù hợp. Việc áp dụng phải đáp ứng hai yêu cầu: (i) áp dụng ở mức độ chi tiết, đảm bảo yêu cầu tính chi tiết của các lĩnh vực thống kê và đáp ứng khả năng so sánh, (ii) áp dụng thống nhất cho các lĩnh vực thống kê có liên quan.
1.3. Xác định phương pháp và qui trình tính. Đảm bảo sự nhất quán và thống nhất về phương pháp thống kê có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong kế hoạch công tác giai đoạn 2007 - 2010, TCTK nên dành nguồn lực và thời gian thoả đáng để xác định các phương pháp thống kê phải áp dụng trong thống kê tổng hợp và thống kê chuyên ngành.
Việc thực hiện phương pháp thống kê có liên quan tới tất cả các nghiệp vụ chuyên môn, liên quan giữa TCTK với các Cục Thống kê, giữa TCTK với các Bộ, ngành. Để đảm bảo chất lượng thông tin thống kê nói chung, đảm bảo khả năng so sánh và độ tin cậy về phương pháp áp dụng đòi hỏi các đơn vị trong Tổng cục phải tuân thủ và áp dụng thống nhất phương pháp thống kê. Tổng cục có thể áp dụng một số giải pháp nhằm tạo ra sự nhất quán và thống nhất giữa các đơn vị trong Tổng cục; giữa các đơn vị trong Tổng cục và các Cục Thống kê; giữa TCTK và các Bộ, ngành.
1.4. Qui trình tính toán cần nghiên cứu và đổi mới đối với từng chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Đối với GDP Tổng cục nên áp dụng qui trình tính từ trên xuồng. Áp dụng qui trình này có các ưu điểm; (i) Kiểm soát được phạm vi thu thập thông tin của các Cục Thống kê, (ii) Không mất thời gian và lực lượng cán bộ để kiểm soát việc tính toán và áp dụng thống nhất phương pháp tính của các Cục thống kê, (iii) loại trừ bệnh thành tích muốn có tốc độ tăng trưởng cao của các tỉnh, thành phố, (iv) Với việc áp dụng đơn vị cơ sở làm đơn vị thống kê, Tổng cục Thống kê sẽ loại trừ hiện tượng chênh lệch giữa số liệu của trung ương và địa phương, (v) Thực hiện đúng Luật Thống kê qui định: "Thủ trưởng cơ quan thông kê trung ương công bố thông tin thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia", (vi) Tổng cục có thể sắp xếp lại đội ngũ cán bộ giữa trung ương và địa phương.
2. Nghiên cứu các giải pháp quản lý chất lượng số liệu thống kê
2.1. Quản lý tính phù hợp. TCTK cần xây dựng kế hoạch rà soát định kỳ nhu cầu của người sử dụng. Quá trình rà soát có thể thực hiện theo bốn nhóm hoạt động sau:
a, Xây dựng cơ chế phản hồi của người dùng tin, bao gồm: thành lập Hội đồng thống kê quốc gia; thành lập Hội đồng tư vấn chuyên môn cho các lĩnh vực thống kê chủ yếu của TCTK; trao đổi định kỳ với phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để tìm hiểu nhu cầu thông tin của giới doanh nghiệp và thông báo cho họ chính sách phục vụ và phổ biến thông tin của TCTK; trao đổi định kỳ với các cơ quan Thống kê nước ngoài và các tổ chức quốc tế để tìm hiểu nhu cầu mới về thông tin thống kê,…
b, Rà soát lại các chương trình công tác thống kê nghiệp vụ và thống kê tổng hợpnhằm đánh giá mức độ thoả mãn nhu cầu của người sử dụng. Tất cả các đơn vị trong Tổng cục phải làm báo cáo định kỳ đề cập rõ việc thực hiện chương trình công tác, xác định phương hướng, rà soát tiêu thức tính phù hợp của số liệu thống kê và đề xuất những thay đổi trong thời gian tới. Tất cả các đề xuất trong báo cáo sẽ được cân nhắc trong quá trình lập kế hoạch công tác thống kê cho giai đoạn tiếp theo.
c. Phân tích số liệu. Hoạt động phân tích số liệu sẽ phát hiện ra bản chất bên trong của số liệu hiện có và sẽ biết được số liệu thuộc đơn vị nào để đưa thành nhiệm vụ công tác cho một số Vụ thống kê có liên quan, hoặc có thể thành lập các tổ phân tích với cơ chế linh hoạt.
d. Lập kế hoạch phát triển công tác số liệu của ngành thống kê cho giai đoạn trung và dài hạn sẽ được cung cấp một lược đồ chiến lược phát triển một cách bài bản và làm cơ sở đưa ra những thay đổi trong chương trình công tác của ngành trong các năm tiếp theo. TCTK nên đưa việc lập kế hoạch phát triển công tác thông tin nên trở thành một chương trình nghị sự quan trọng trong Hội nghị Tổng kết công tác thống kê hàng năm. Đề nghị lãnh đạo các cấp trong Ngành xác định những công việc nào chưa cần thiết thực hiện trong năm tới và vài năm tiếp theo, đồng thời khuyến khích mọi ý kiến đề xuất những công việc cần làm nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin.
2.2. Quản lý tính chính xác. Chất lượng thông tin đầu vào quyết định tính chính xác của số liệu thống kê. Hiện nay, thông tin thống kê đầu vào chủ yếu dựa vào các cuộc điều tra, các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin điều tra, bao gồm các nội dung phù hợp với qui trình điều tra: (i) Thiết kế chương trình điều tra; (ii) Thực hiện điều tra; (iii) Đánh giá chất lượng của số liệu điều tra; (iv) Đánh giá việc tuân thủ phương án điều tra.
2.3. Quản lý tính kịp thời. Tổng cục Thống kê cần nghiên cứu, áp dụng một số giải pháp sau: (i) Phân loại số liệu và xác định thời điểm công bố đối với từng loại số liệu; (ii) Rà soát và hoàn thiện chính sách phổ biến thông tin đối với từng chỉ tiêu thống kê; (iii) Thông báo trước kế hoạch, trong đó nêu rõ thời điểm công bố các loại số liệu; (iv) Xây dựng kế hoạch, xác định thời gian hoàn thành và xây dựng chương trình giám sát việc thực hiện kế hoạch cho từng hoạt động thống kê của từng lĩnh vực hoạt động cụ thể; (v) Nghiên cứu và tiến tới áp dụng hoàn thiện công nghệ thông tin vào mọi khâu và mọi quá trình hoạt động thống kê để nâng cao năng lực, giảm thời gian xử lý và truyền đưa thông tin.
2.4. Quản lý khả năng tiếp cận. TCTK cần thực hiện một số giải pháp như sau; (i) Tìm hiểu sở thích của người dùng tin và thành lập Tổ nghiên cứu thị trường; (i) Tiến hành lập hồ sơ của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê; (iii) Xây dựng trang Web trở thành phương thức phổ biến số liệu chủ yếu của Tổng cục và đưa trang Web trở thành một thư viện thông tin; (iv) Xây dựng mối liên hệ phổ biến thông tin thống kê qua hệ thống thư viện quốc gia, hệ thống thư viện của trung tâm thông tin quốc gia của Bộ Khoa học và Công nghệ, hệ thống thư viện của các trường Đại học; (v) Quản lý tập trung và thống nhất hoạt động công bố và phổ biến số liệu qua "Qui chế công bố thông tin thống kê"; (iv) Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ thống kê qua việc thành lập một bộ phận khách hàng.
2.5. Quản lý khả năng giải thích. TCTK có trách nhiệm giải thích cho người sử dụng hiểu rõ các loại số liệu thống kê hiện có. Khi công bố bất kỳ một chỉ tiêu hay một loại số liệu thống kê nào, Tổng cục phải cung cấp các thông tin có liên quan như khái niệm, phân loại hiện đang áp dụng để biên soạn số liệu; phương pháp thu thập số liệu và phương pháp tính các chỉ tiêu; đánh giá tính chính xác của số liệu. Nên đưa ra danh mục những chỉ tiêu đã được tính toán, đồng thời cũng chỉ ra những tồn tại của phương pháp và đánh giá cách tính tốt đến mức nào. Biên soạn các bản siêu dữ liệu của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các chỉ tiêu thống kê khác.
TCTK cần xây dựng và thực hiện chính sách phổ biến kiến thức cho những người dùng tin. Mỗi loại đối tượng phải có phương thức và nội dung phổ biến phù hợp. Đối với các đại biểu Quốc hội, Tổng cục nên có những buổi báo cáo khái niệm, nội dung chủ yếu của một số chỉ tiêu kinh tế xã hội quan trọng; đối với các Bộ, ngành, Tổng cục có thể tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề về
khái niệm, nội dung và phương pháp tính một số chỉ tiêu thống kê có liên quan; đối với đông đảo công chúng, Tổng cục có thể thực hiện chương trình phổ biến kiến thức qua các phương tiện thông tin đại chúng.
2.6. Quản lý tính chặt chẽbao gồm ba nhóm giải pháp: (i) Xây dựng và áp dụng thống nhất khái niệm, phân loại nhằm đảm bảo tính thống nhất trong tính toán của toàn bộ hệ thống thống kê; (ii) Thống nhất các qui trình tính; (iii) Phân tích, so sánh và tổng hợp số liệu nhằm tìm ra các sai lệch và sự bất hợp lý của số liệu thống kê.
2.7. Thực hiện các nguyên tắc của thống kê nhà nước.
Thực hiện đầy đủ 10 nguyên tắc của thống kê nhà nước là cơ sở nâng cao vị trí, vai trò và uy tín của TCTK, đồng thời cũng góp phần nâng cao chất lượng của thông tin thống kê. Tổng cục cần đưa ra những giải pháp cụ thể 10 nguyên tắc thành những hành động nhằm thực hiện trong thực tế công tác của ngành đối với tất cả các lĩnh vực có liên quan.
2.8. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng thông tin thống kê
Tổng cục nên xây dựng Hệ thống đánh giá chất lượng thông tin thống kê theo sáu lĩnh vực trong hệ thống đánh giá chất lượng và cần thực hiện một số công việc theo các bước: (i) Thành lập nhóm chuyên trách đánh giá và quản lý chất lượng số liệu thống kê; (ii) Nghiên cứu và đề xuất các lĩnh vực cần đánh giá chất lượng, phù hợp với tình hình thực tế của ngành Thống kê nước ta hiện nay; (iii) Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng số liệu của từng lĩnh vực; (iv) Triển khai đánh giá chất lượng tại Tổng cục cho các lĩnh vực lựa chọn cho thời kỳ 2008 - 2010. Tổng kết, rút kinh nghiệm cho giai đoạn sau.
2.9. Các giải pháp về môi trường thống kê
Trong nhóm giải pháp này gồm: (i) Môi trường pháp lý; (ii) Mối quan hệ với đối tượng cung cấp số liệu; (iii) Tuyển dụng và đào tạo cán bộ của ngành thống kê; (iv) Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành Thống kê; (v) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê.