Lọ mọ trên mạng, copy được cuốn sách khá hay dành cho những ai yêu việc viết lách, viết văn, viết báo. Thiết nghĩ nên làm người tử tế, chua sẻ cho mọi người dùng chung. Ai có nhu cầu, xin comment và để lại email, sẽ nhận được sách.
Cuốn sách đó đây.
Khiemnguyen
Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014
Tặng sách cho người tập viết...
Thành ngữ và quán ngữ, vỡ vạc lần đầu
Nhân có bạn hỏi về thành ngữ và quán ngữ, tôi mới để ý răng nhiều thứ chuối và cóc cáy hơn như phong dao, phương ngữ, tục ngữ thì hắn đã dành nhiều công sức cày cuốc để tìm hiểu, nhưng quán ngữ thì thực sự lâu nay tự hắn vẫn nghĩ giản đơn đó là những ngữ được sử dụng như một quán tính, đi từ ý thức đen vô thức, dần dần, từ hay cụm từ đo đi vào cuộc sống của mỗi người, đi vào xã hội lúc nào ko hay (nhất là trong thế giới ngôn ngữ mạng). Có lẽ sự suy nghĩ thô thiển và cơ học của hắn cũng có lý, khi hắn lục lọi tài liệu để trả lời cho một cô gái xinh đẹp nào đó trên này. Tạm thời, copy bài viết của ai đó, thấy hay hay trên chuyên trang ngôn ngữ về đây cho các bạn. Còn câu "núi cao..." thì để mai mốt có thời gian hắn sẽ tìm hiểu sau nhé.
*
CỤM TỪ CỐ ĐINH - PHÂN LOẠI
Mặc dù có nhiều điểm giống nhau về nguyên tắc, nhưng cách xây dựng, tạo lập cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn như nhau. Vì thế, cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau có thể được phân loại khác nhau. Chẳng hạn, N.M. Shanskij (1985) đã phân loại các cụm từ cố định trong tiếng Nga hiện đại như sau:
- Phân loại theo mức độ tính chất về ngữ nghĩa: tách ra 5 loại;
- Phân loại theo đặc điểm các từ trong thành phần của cụm từ cố định: tác ra 4 loại;
- Phân loại theo mô hình cấu trúc: tách ra 16 loại;
- Phân loại theo nguồn gốc: tách ra 6 loại.
Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàn diện nhưng đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trong nhà trường đại học và tạp chí chuyên ngành.
Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định ngay nội dung khái niệm của chúng, thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ cố định tiếng Việt như sau:
![[ Mô hình phân loại cụm từ cố định ]](http://ngonngu.net/media/img/nnh/cumtucodinh_phanloai.png)
Dưới đây là một số miêu tả cụ thể:
1. Thành ngữ
1.1. Định nghĩa
Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/và gợi cảm.
Ví dụ: Ba cọc ba đồng, Chó cắn áo rách, Nhà ngói cây mít, Bán bò tậu ễnh ương, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Ông mất của kia bà chìa của nọ, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông,...
Các cụm từ cố định (thành ngữ) như thế đều thoả mãn định nghĩa nêu trên. Chúng là những thành ngữ điển hình.
1.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại thành ngữ. Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ.
1.2.1. Thành ngữ so sánh
Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Cưới không bằng lại mặt,...
Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:
A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ so sánh:như, bằng, tựa, hệt,...
Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ. Chúng có thể có các kiểu:
A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: Đắt như tôm tươi, Nhẹ tựa lông hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, Lừ đừ như ông từ vào đền,...
(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt. Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (Rẻ) như bèo, (Chắc) như đinh đóng cột, (Vui) như mở cờ trong bụng, (To) như bồ tuột cạp, (Khinh) như rác, (Khinh) như mẻ, (Chậm) như rùa,...
ss.B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ. Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ:
Ăn ở với nhau Xử sự với nhau Giữ ý giữ tứ với nhau ... | như mẹ chồng với nàng dâu |
Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe sấm, Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột thị,...
Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét về cấu trúc của chúng như sau:
- Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diện trên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cái được "nhận ra". A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng hoặc trạng thái hành động,... nào đó. Rất ít khi chúng ta gặp những khả năng khác.
- Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; còn những từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể, bằng, tày,... (Gương tày liếp, Tội tày đình, Cưới không bằng lại mặt,...) chỉ xuất hiện hết sức ít ỏi.
- Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong khi kết hợp với A, thong qua A. Ví dụ: Ý nghĩa "lạnh" của tiền chỉ bộ lộ trong Lạnh như tiền mà thôi. Các thành ngữ Nợ như chúa Chổm, Rách như tổ đỉa, Say như điếu đổ, Say khướt cò bợ,... cũng tương tự như vậy.
Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái,... được nêu ở B phản ánh khá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt. Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó. - Vế B có cấu trúc không thuần nhất:
- B có thể là một từ. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Nợ như chúa Chổm, Đắng như bồ hòn, Rẻ như bèo, Khinh như mẻ,...
- B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề). Ví dụ: Như đỉa phải vôi, Như chó nhai giẻ rách, Lừ đừ như ông từ vào đền, Như thầy bói xem voi, Như xầm sờ vợ,...
Ngoài những điều nói trên, khi đối chiếu các thành ngữ so sánh với cấu trúc so sánh thông thường của tiếng Việt, ta thấy:
- Các cấu trúc so sánh thông thường có thể có so sánh bậc ngang hoặc so sánh bậc hơn. Ví dụ: Anh yêu em như yêu đất nước (so sánh bậc ngang), Dung biết mình đẹphơn Mai (so sánh bậc hơn),...
- Từ so sánh và các phương tiện so sánh khác (chỗ ngừng, các cặp từ phiếm định hô ứng,...) được sử dụng trong các cấu trúc so sánh thông thường, rất đa dạng: như, bằng, tựa, hệt, giống, chẳng khác gì, y như là, hơn, hơn là,...
- Một vế A trong cấu trúc so sánh thông thường có thể kết hợp với một hoặc hai, thậm chí một chuỗi nhiều hơn các vế B qua sự nối kết với từ so sánh. Ví dụ:
- Kết hợp với một B: Cổ tay em trắng như ngà /Đôi mắt em liếc như là dao cau.
- Kết hợp với một chuỗi B: Những chị cào cào (...) khuôn mặt trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng.
- Cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng, trong khi đó thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn và nếu có thì cũng biến dạng một cách giản dị như đã nêu trên. Lí do chính là ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc và ý nghĩa.
1.2.2. Thành ngữ miêu tả ẩn dụ
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ.
Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện. Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng. Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa "sơ khởi", "cấp một" nào đó, rồi trên nền tảng của "nghĩa cấp một" này người ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ.
Ví dụ: Xét thành ngữ "Ngã vào võng đào". Cấu trúc của thành ngữ này cho thấy:
– (Có người nào đó) bị ngã – tức là gặp nạn, không may;
– Ngã, nhưng rơi vào võng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt và quý) tức là vẫn được đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và không mấy lúc được ngồi, nằm ở đó.
Từ các hiểu cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt nayf, người ta rút ra và nhận lấy ý nghĩa thực của thành ngữ như sau: Gặp tình huống tưởng như không may nhưng thực ra lại là rất may (và thích gặp tình huống đó hơn là không gặp bởi vì có lợi hơn là không gặp).
Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:
Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện. Trong các thành ngữ này, chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu. Chính vì vậy, cũng chỉ một hình ảnh được xây dựng và phản ánh. Ví dụ: Ngã vào võng đào, Nuôi ong tay áo, Nước đổ đầu vịt, Chó có váy lĩnh, Hàng thịt nguýt hàng cá, Vải thưa che mắt thánh, Múa rìu qua mắt thợ,...
Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng. Ở đây, trong mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh. Chúng tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối). Ví dụ: Ba đầu sáu tay, Nói có sách mách có chứng, Ăn trên ngồi trốc, Mẹ tròn con vuông, Hòn đất ném đi hòn chì ném lại,...
Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản. Ngược lại với loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng tương phản nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau. Ví dụ: Các thành ngữ Một vốn bốn lời, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, Bán bò tậu ễnh ương, Xấu máu đòi ăn của độc,...
Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấu trúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng. Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế áp đảo về số lượng (xấp xỉ 85%). Điều này có cơ sở của nó. Người Việt rất ưu lối nói cân đối nhịp nhàng và hài hoà về âm điệu. Ngay ở bậc từ ta cũng thấy rằng hiện nay các từ song tiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác.
Và đến lượt mình, tỉ lệ 85% thành ngữ đó gây nên một áp lực về số lượng, khiến cho những cụm từ như: Trăng tủi hoa sầu, Tan cửa nát nhà, Tháng đợi năm chờ, Ăn gió nằm mưa, Lót đó luồn đây, Gìn vàng giữ ngọc,... nhanh chóng mang dáng dấp của các thành ngữ và rất hay được sử dụng.
2. Quán ngữ
Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ.
Ví dụ: Của đáng tội, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói tóm lại, Kết cục là, Nói cách khác,...
Thật ra, tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không được như thành ngữ. Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng như một đơn vị có sẵn.
Có thể phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng, như sau:
Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: Của đáng tội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma, Nó chết (một) cái là, Nói (...) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùng một cái, Chẳng ra chó gì, Nói trộm bóng vía,...
Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận,...) hoặc diễn giảng như: Nói tóm lại, Có thể nghĩ rằng, Ngược lại, Một mặt thì, Mặt khác thì, Có nghĩa là, Như trên đã nói, Có thể cho rằng, Như sau, Như dưới đây, Như đã nêu trên, Sự thực là, Vấn đề là ở chỗ,...
Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng. Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể bỏ qua được, và chức năng của chúng có thể chứng minh được không khó khăn gì. Tình trạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng như những đặc trưng bản tính của chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng ở vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào, mặc dù ở từng quán ngữ cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ về bên kia một chút hay ngược lại.
3. Ngữ cố định định danh
3.1. Tên gọi này chúng ta tạm dùng (vì nó chưa thật chặt về nội dung) để chỉ những đơn vị vốn ổn định về cấu trúc và ý nghĩa hơn các quán ngữ rất nhiều, nhưng lại chưa có được ý nghĩa mang tính hình tượng như thành ngữ.
Chúng thực sự là các cụm từ cố định, nhưng được tạo dựng theo cách gần như cách tạo những từ ghép mà người ta vẫn hay gọi là từ ghép chính phụ. Chẳng hạn: Quân sư quạt mo, Anh hùng rơm, Kỉ luật sắt, Tuần trăng mật, Con gái rượu, Giọng ông kễnh, Tóc rễ tre, Mắt ốc nhồi, Má bánh đúc, Mũi dọc dừa,...
3.2. Thực chất đó là những cụm từ cố định, định danh, gọi tên sự vật. Trong mỗi cụm từ như vậy thường có một thành tố chính và một vài thành tố phụ miêu tả sự vật được nêu ở thành tố chính. Nó miêu tả chủ yếu bằng con đường so sánh nhưng không hề có từ so sánh. Thành tố chính thường bao giờ cũng là thành tố gọi tên.
Con đường tạo dựng những cụm từ như: Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt ốc nhồi, Mắt lợn luộc, Mắt bồ câu, Mắt lươn,... gần như đồng hình với con đường tạo dựng các từ ghép: đen xì, đen sẫm, đen trũi, đen láy, đen nhánh, đen xỉn,...
Chính bởi vậy, ở đây có hai xu hướng chuyển di ngược chiều nhau và thâm nhập vào nhau. Một số thành ngữ so sánh bị khử từ so sánh dễ được nhập vào số những cụm từ kiểu này: Ngang cành bứa, Cay xé, Dẻo kẹo, Đen thui, Trẻ măng,... Ngược lại, một số cụm từ vốn được tạo ra theo kiểu này, nhưng vì tính thành ngữ, tính hình tượng đạt tới mức độ gần tương đương với các thành ngữ thực sự, lai rất có thể dễ được nhận vào hàng ngũ của các thành ngữ: Ví dụ: Tuần trăng mật, Kỉ luật sắt, Con gái rượu, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Thẳng ruột ngựa, Toạc móng héo,...
3.3. Các ngữ cố định định danh thường tập trung với mật độ khá đậm ở khu vực tên gọi các bộ phận cơ thể con người như: Tóc rễ tre, Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt bồ câu, Mắt ốc nhồi, Râu ngạnh trê, Má bánh đúc, Mặt trái xoan, Mũi dọc dừa, Mồm cá ngão, Răng cải mả, Chân vòng kiềng, Chân chữ bát, Mặt lưỡi cày, Bụng cóc, Mình trắm,...
Một số ít hơn là tên gọi của các sự vật khác hoặc tên gọi của một trạng thái, thuộc tính. Chẳng hạn: Giọng ông kễnh, Đá tai mèo, Kỉ luật sắt, Gót sắt, Con gái rượu, Bạn áo ngắn, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Cười cầu tài, Tấm lòng vàng, Bạn vàng, Toạc móng heo, Thẳng ruột ngựa,...
Rõ ràng là cơ chế cấu tạo những cụm từ trên đây không khác những cụm từ làm tên gọi cho một số sự vật, hiện tượng như: Than quả bàng, Bánh ca vát, Máy bay chuồn chuồn, Chuối tay bụt,... Chỉ có điều, tính thành ngữ của những cụm từ như thế thấp đến tận cùng mà thôi.
3.4. Cũng như tình trạng của quán ngữ, các cụm từ là ngữ cố định định danh có những biểu hiện không đồng đều nhau ở điểm này hoặc điểm khác. Rõ ràng là, nhìn chung, chúng ổn định cả cấu trúc lẫn ngữ nghĩa. Nhưng tính thành ngữ thì lại kém, thậm chí kém xa hoặc rất xa so với những thành ngữ chân chính. Tuy nhiên, chúng cũng không phải là từ ghép, nếu xét về bậc được cấu tạo. Chỉ có điều, việc cơ chế cấu tạo của chúng có phần giống với các từ ghép chính phục thì chúng ta phải thừa nhận.
Ở những mức độ khác nhau, chúng hiện diện như là đơn vị đứng giữa cụm từ cố định-thành ngữ với từ ghép.
4. Những hiện tượng trung gian
Việc phân loại các cụm từ cố định tiếng Việt như vừa trình bày trên đây không phải là đã vạch ra những ranh giới tuyệt đối giữa các loại, và không phải các đơn vị trong mỗi loại đều thể hiện những thuộc tính thuần khiết của loại. Chúng ta đã thấy là quán ngữ ít nhiều mang tính chất trung gian giữa cụm từ cố định với cụm từ tự do, còn ngữ cố định định danh thì có tính trung gian giữa cụm từ cố định với từ ghép.
Mặc dầu vậy, chúng vẫn là những cụm từ có tính cố định. Chỉ có điều tính cố định đó cao hay thấp, nhiều hay ít mà thôi.
Có thể coi các cụm từ cố định tiếng Việt có vùng tâm và vùng biên, có đơn vị điển hình và đơn vị không điển hình. Thành ngữ chắc chắn thuộc vùng trung tâm.
Thế nhưng, ngay ở khu vực thành ngữ cũng có những đơn vị trung gian được cấu tạo theo lối thành ngữ nhưng tính tự do, kém ổn định vẫn còn rõ nét.
Có những đơn vị đã đạt được tính thành ngữ khá cao nhưng tính bền chắc, tính chỉnh thể về cấu trúc lại còn kém ổn định. Nghĩa là số thành tố cấu tạo nên chúng có thể còn tăng hay giảm được một cách tuỳ nghi.
Rất nhiều cụm từ cấu tạo theo kiểu thành ngữ so sánh, là như thế: Nhức như búa bổ, Đắt như vàng, Gầy như gọng vó, Buồn như cha chết, Hôi như chuột chù, Bẩn như hủi, Lôi thôi như ổ chó,...
Ngược lại, có những đơn vị khác, tính ổ định về cấu trúc khá bảo đảm, tức là không thể thêm bớt các thành tố cấu tạo một cách tuỳ nghi, nhưng tính thành ngữ, tính nhất thể về nghĩa vẫn chưa cao. Nghĩa của cả cụm từ vẫn là nghĩa được hiểu nhờ từng thành tố cộng lại. Ví dụ: Bàn mưu tính kế, Đi ra đi vào, Buôn gian bán lận, Suy đi tính lại, Nghĩ tới nghĩ lui, Gìn vàng giữ ngọc, Trăng tủi hoa sầu, Chân mây cuối trời, Than thân trách phận, Ăn thô nói tục, Yêu trẻ kính già,...
Những đơn vị như thế, đã, đang và chắc sẽ còn được tạo lập trong tiếng Việt. Đó là những sản phẩm được tạo ra trong đời sống hoạt động ngôn ngữ. Trả lời cho câu hỏi "Chúng có trở thành thành ngữ hay không?" thật là khó. Hẳn rằng còn phải qua thời gian, qua thực tế sử dụng, qua rất nhiều tác động của các nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ nữa,... mới có thể kết luận được.
Thứ Tư, 26 tháng 11, 2014
"Buổi chợ trung du" - Một trong những tác phẩm cuối cùng của Ngô Tất Tố

Xn trân trọng giới thiệu.
80.000 lượt truy cập!
Sau hơn 2 năm, hôm nay my blog cán mốc 80 ngàn lượt truy cập. Một con số nhỏ nhoi so trong kỷ nguyên thông tin mạng, nhưng với một blog cá nhân chuyên vè lý luận báo chí nói chung và sử báo chí nói riêng thì con số này quả ko phải là nhỏ.
1. Tổng quan:
2. Chi tiết
Xin cảm ơn sự quan tâm của tất cả các bạn.
2. Chi tiết
Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014
Chúc mừng nhân ngày Nhà giáo Việt Nam
Nhân ngày Lễ trọng của nhà giáo Việt Nam, xin cho phép tôi được gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến các thầy giáo, cô giáo của tôi, chúc các thầy cô luôn luôn mạnh khoẻ, may mắn, hạnh phúc và thành công. Cũng xin gửi đến các anh, chị đã và đang theo nghiệp giáo dục, đứng trên bục giảng... những lời chúc mừng chân thành nhất, chúc cho sức khoẻ, hạnh phúc, thành công và may mắn.
Nhân đây, cũng cho phép tôi gửi đến các bạn lời cảm ơn vì những lời chúc mừng đã dành cho tôi - không biết là tôi có xứng được nhận hay ko nữa.
Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014
Phố mắc nợ mùa để mình mắc nợ nhau...
"Hà Nội vui buồn, những nhớ - những quên
Ô cửa sổ màu xanh, một mùa mùa đông bắc mới
Bàn chân trần run nhưng dường như chẳng vội
Ngai ngái những điều không tên
Còn nhớ không em? Hay... đã lại quên?
Gió mùa đông lật ngược chiều phố khóc
Câu hát gọi ai cất lên lời khó nhọc
Hư ảo mùa về lạnh lắm biết không?
Ngọn heo may nơi góc phố trải lòng
Đặt vào tay một lời hứa đợi
Co ro đôi vai nhận lời yêu đến vội
Phố mắc nợ mùa để mình mắc nợ nhau
Nhớ nghe em đừng để lạnh lắm những nỗi đau
Đừng để mùa xa, ngủ sâu vào đáy mắt
Để nhớ thương cất lên chứ đừng im bặt
Còn Nhớ! Là còn ngày mai...."
Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014
Những điều hôm nay mới biết về Bác của tôi
Chuyện tình thời chiến
Ông Nguyễn Như Bích, em trai liệt sĩ, kể: "Anh Trang chết trẻ quá, chưa kịp có gia đình. Anh có hứa hôn với một chị. Anh mất, chị đến ở với cha mẹ tôi từ năm 1948 đến tận 1957, cùng cha mẹ nuôi dạy các em, 10 năm sau mới chịu về đi lấy chồng. Cả nhà tôi vẫn coi chị như dâu cả".
|
Nơi biên cương xa lắc xa lơ - mây vấn vương trời mơ - gió quyện sương núi - suối reo thác gào... Bao anh hùng vì non sông không màng chi thân thể - Thề chết giữ gìn biên cương - thề quét hết loài xâm lăng - dù xác có phơi chiến trường biên cương oai hùng. Có một người trai Hà Nội nơi biên ải
65 năm trước, có một người trai Hà Nội mới 20 tuổi xuân, chỉ huy một đơn vị trong đoàn quân Tây Tiến ngược sông Mã lên bảo vệ biên cương miền tây Tổ quốc đã viết nên những giai điệu mênh mang, hào sảng, oai hùng ấy. Anh là Nguyễn Như Trang, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 150, trung đoàn 52 - trung đoàn Tây Tiến. Cùng với bài ca viết từ trái tim và cuộc sống của mình, cuộc đời Nguyễn Như Trang, cho đến khi nằm xuống, tròn 21 mùa xuân, đẹp một cách bi tráng và khốc liệt như những vần thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng - đồng đội của anh
Là anh cả trong một gia đình có chín anh em, Nguyễn Như Trang nổi tiếng đàn hay học giỏi ở Trường tư thục Thăng Long. Năm 1945, cách mạng về, chàng trai vừa qua tuổi 18 (anh sinh ngày 27-7-1927) Nguyễn Như Trang đã xung phong vào Vệ quốc đoàn, trở thành đại đội trưởng của đại đội 212, trung đoàn Thủ Đô khi mới 19 tuổi. Trung đoàn đã chiến đấu bảo vệ Hà Nội suốt thời kỳ giặc Pháp gây hấn, trên từng hè phố, từng ngôi nhà, từng chiến lũy. Chàng trai cũng đã được kết nạp Đảng ngay trên chiến lũy thủ đô.
Ông Nguyễn Như Bích - nguyên phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao, em thứ chín của Nguyễn Như Trang - nói: "Anh đi bộ đội nhưng thỉnh thoảng tạt về qua nhà vẫn bế tôi. Anh đẹp lắm, mặt sáng ngời, cao 1,83m, các em đứa nào cũng mê anh và tự hào về anh. Tôi bé quá, chưa biết, nhưng nghe mẹ và các anh chị kể lại: anh cưỡi ngựa, đeo súng ngắn, đội mũ calô, đúng là hình mẫu một người chiến sĩ Vệ quốc đoàn mà các nhà thơ, các nhạc sĩ hay viết".
Đầu năm 1947, đơn vị Tây Tiến được thành lập, với nhiệm vụ hành quân lên biên giới phối hợp với các đơn vị của quân đội Lào chống Pháp ở miền tây. Nguyễn Như Trang cũng xung phong gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Anh là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 150, trung đoàn 52 Tây Tiến. Năm ấy anh mới 20 tuổi, chỉ huy một đơn vị hàng trăm chàng trai trong "đoàn quân không mọc tóc - quân xanh màu lá dữ oai hùm - mắt trừng gửi mộng qua biên giới - đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm".
Những trận chiến đấu ác liệt diễn ra suốt thời kỳ đầu kháng chiến đã khiến lính Tây Tiến thương vong và hi sinh rất nhiều.Bản thân Nguyễn Như Trang cũng bị thương nhiều lần trong địa bàn tác chiến là tỉnh Hòa Bình.
Bác sĩ Hùng Lâm, một cựu binh Tây Tiến, hồi tưởng trong tập sách Tây Tiến - Một thời để nhớ: "Sau trận Mường Lồ cuối 1947, Như Trang bị thương nằm ở quân y xá trung đoàn, trên một nhà sàn, được bác sĩ Phạm Ngọc Khuê cứu chữa. Nằm cạnh anh là Quang Dũng ốm sốt rét. Hết cơn sốt là Quang Dũng lại vẽ cảnh sông Mã, Như Trang ngồi thưởng thức. Khi Như Trang nghêu ngao hát hoặc sáng tác thì Quang Dũng lại hòa theo...". Trưa 21-11-1948, tại làng Mu, thôn Ngọc Châu Lâu, Lạc Sơn, Hòa Bình, anh và đồng đội đã bị phục kích. Trong một trận chiến không cân sức, hai người lính đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và ngã xuống. Tiểu đoàn phó Như Trang lúc ấy vừa qua 21 tuổi. Anh ngã xuống, trùng hợp với hình ảnh của người đồng đội Quang Dũng đã khắc họa trong bài thơ bất hủ: Rải rác biên cương mồ viễn xứ - Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh - Áo bào thay chiếu anh về đất - Sông Mã gầm lên khúc độc hành...
Trấn biên cương
"Mong thế hệ trẻ nghe và biết đến Trấn biên cương, để biết đã có những con người đẹp đẽ như vậy, hi sinh cuộc đời khi còn thanh xuân như vậy cho từng tấc đất biên cương"
Đại diện gia đình liệt sĩ Nguyễn Như Trang
|
Không chỉ là một chỉ huy trẻ có tài, Như Trang còn là một người lính am hiểu văn thơ nhạc họa, thích làm thơ, viết văn, có nhạc lý cơ bản vững vàng như rất nhiều người lính - trí thức thời kỳ đầu cách mạng. Anh đã viết bút ký Vượt biên thùy đăng báo Vệ Quốc Quân để động viên tinh thần chiến sĩ trong cuộc hành quân phối hợp với bộ đội Lào đánh Chiềng Cồng. Anh cũng đã viết Hành khúc đoàn quân miền tây - bài hát đã trở thành ca khúc truyền thống của trung đoàn 52 Tây Tiến. Những người lính Tây Tiến mỗi khi có dịp về chiến trường xưa vẫn cùng nhau nghẹn ngào hát bài ca này.
Một bài hát khác có sức lan tỏa rộng hơn, vượt khỏi chiến trường miền tây để đến tất cả các đơn vị bộ đội thời ấy là bài Tiếng cồng quân y. Những ngày bị thương nặng gãy xương chân nằm điều trị tại Quân y viện Châu Trang, chứng kiến bao nhiêu sự ra đi của đồng đội, thấm thía sự khốc liệt của cuộc chiến đã khiến anh viết nên bản nhạc bi thiết đó. Nữ y tá Kiều Thanh Thôn kể lại: "Khi có người chết, nghe đánh cồng, anh em tự vệ và dân bản Châu Trang đến cùng cán bộ quân y lo liệu chôn cất. Anh Như Trang làm bài Tiếng cồng quân y rất thương cảm. Bà con ở Vụ Bản đã tặng hàng trăm chiếc chiếu để có cái mà... bó gần 200 đồng chí đã nằm xuống, kín quả đồi trọc". Côồng... Đưa một chiến sĩ qua đời tới nơi ngàn thu - Chàng đâu muốn chết... Nước non chưa yên - Nhưng bệnh tình trầm trọng đã mang chàng đi - mà nước non đang chờ - và chí trai còn say... - nghệ sĩ ưu tú, đại tá Kim Ngọc nói rằng bà đã hát bài này hàng trăm lần, và lần nào cũng khóc.
Trấn biên cương cũng được Như Trang viết năm 1947, khi chàng tiểu đoàn phó của trung đoàn Thủ Đô 20 tuổi. Tác phẩm này cùng âm hưởng bi tráng với những Ngày về của Lương Ngọc Trác, Tây Tiến của Quang Dũng và là tiền đề cho những Sông Lô, Du kích sông Thao sau này - tất nhiên đơn giản, mộc mạc và thô sơ hơn. Năm 1988, nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc - giảng viên Nhạc viện Hà Nội, một người trong gia tộc họ ngoại của liệt sĩ Như Trang - đã dựng lại bài ca này cho hai giọng ca tuyệt vời là NSND Lê Dung và NSND Quang Thọ. NSND Lê Dung đã đi xa hơn mười năm, nhưng nghe lại giọng ca của bà, người ta vẫn thấy hết cái tình của một người lính với một bài hát về lính, và cái tình của một nghệ sĩ đích thực với một tâm hồn nghệ sĩ đã khuất núi. Tiếc là vì nhiều lý do, bài hát đã chưa được phổ biến.
65 năm sau khi bài hát ra đời, năm 2012, cũng với bản phối khí của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc, lần đầu tiên Trấn biên cương vang lên trên sân khấu lớn, với sự trình bày của dàn hợp xướng Trường cao đẳng Nghệ thuật Tây Bắc trong lễ khánh thành tượng đài kỷ niệm Tây Tiến ở Châu Trang. Những người lính Tây Tiến đều xúc động mãnh liệt khi nghe lại âm hưởng hào hùng và lời nhắn gửi từ người đồng đội đã khuất: Rồi đây khi quân thù tan - biên cương vững vàng - đoàn quân lên trấn biên cương - hào hùng một mùa xuân mới...
Nhân rộng giá trị tinh thần của tác phẩm
Thiếu tướng Vũ Hiệp Bình - phó chính ủy Bộ đội biên phòng - đã phát biểu bên mộ liệt sĩ Nguyễn Như Trang: "Tác phẩm Trấn biên cương là tác phẩm âm nhạc bài bản đầu tiên viết về sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Với ý nghĩa giá trị tinh thần của tác phẩm và trên thực tế khi nghe tác phẩm chúng tôi thấy tấm lòng, trách nhiệm cũng như hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm đối với sự nghiệp biên phòng toàn dân của cả nước. Chúng tôi xin hứa với hương hồn liệt sĩ Như Trang cũng như gia đình bạn bè của liệt sĩ là sẽ cố gắng bằng các biện pháp và hình thức khác nhau để nhân rộng giá trị tinh thần của tác phẩm".
|
Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014
Hoàng hôn nhớ
Nhà nàng trước ngõ sân hàng dậu
Mỗi lần qua phải nhón chân nhìn.
Mẹ nói đời con nhiều điêu đứng.
Tôi chỉ trời xanh đứng lặng thinh.
Nàng thường phơi tóc bên hiên nắng.
Mỗi lần qua phải cúi lưng nhìn.
Mẹ nói lưng con nay cong lắm.
Cúi đầu tôi chỉ đất lặng thinh.
Đời màu hồng xa lắm người ơi.
Anh nhỏ hơn em một tuổi đời.
Nên em cứ hẹn rồi lại quên.
Mang vào giấc ngủ không tên một ngày.
Rồi hai đứa cùng lớn như nhau.
Anh cao hơn em một cái đầu.
Cũng vì đôi mắt ướt long lanh.
Anh ngơ ngẩn mãi không đành bước đi.
Bên đường anh đứng hóa vô duyên.
Cũng là thôi cũng là đành.
Anh lo canh cánh một phen lỡ làng.
Mỗi chiều em đi lễ.
Anh chờ ngoài giáo đường.
Bài ca dâng Đức Mẹ.
Anh chờ bóng người thương.
Dáng thanh anh cầu nguyện.
Áo đỏ màu da trời.
Nâng niu dòng chuỗi hạt.
Anh chờ đến mòn hơi.
Nhìn trời anh khẽ nói.
Như ngôi sao phương xa.
Là anh là em thế.
Như cả tấm lòng ta.
Chợt một vì sao lạ.
Từ chùm sao thiên hà.
Vượt qua chùm sao sáng.
Đối diện với sao ta.
Hoa tựa đồi thông reo.
Nghe già hơn mười bảy.
Ta vẫn phải ngồi đây.
Dù bao mùa tiếc nuối.
Ta vẫn phải ngồi đây.
Ta vẫn phải ngồi đây.
Ta nhớ chiều qua màu hoa tim tím.
Cho ta thương nghe lửa lòng còn đây.
Em đã lên ngôi từ cuộc duyên ấy.
Anh vẫn còn ôm màu tím đợi chờ./.
Mỗi lần qua phải nhón chân nhìn.
Mẹ nói đời con nhiều điêu đứng.
Tôi chỉ trời xanh đứng lặng thinh.
Nàng thường phơi tóc bên hiên nắng.
Mỗi lần qua phải cúi lưng nhìn.
Mẹ nói lưng con nay cong lắm.
Cúi đầu tôi chỉ đất lặng thinh.
Đời màu hồng xa lắm người ơi.
Anh nhỏ hơn em một tuổi đời.
Nên em cứ hẹn rồi lại quên.
Mang vào giấc ngủ không tên một ngày.
Rồi hai đứa cùng lớn như nhau.
Anh cao hơn em một cái đầu.
Cũng vì đôi mắt ướt long lanh.
Anh ngơ ngẩn mãi không đành bước đi.
Bên đường anh đứng hóa vô duyên.
Cũng là thôi cũng là đành.
Anh lo canh cánh một phen lỡ làng.
Mỗi chiều em đi lễ.
Anh chờ ngoài giáo đường.
Bài ca dâng Đức Mẹ.
Anh chờ bóng người thương.
Dáng thanh anh cầu nguyện.
Áo đỏ màu da trời.
Nâng niu dòng chuỗi hạt.
Anh chờ đến mòn hơi.
Nhìn trời anh khẽ nói.
Như ngôi sao phương xa.
Là anh là em thế.
Như cả tấm lòng ta.
Chợt một vì sao lạ.
Từ chùm sao thiên hà.
Vượt qua chùm sao sáng.
Đối diện với sao ta.
Hoa tựa đồi thông reo.
Nghe già hơn mười bảy.
Ta vẫn phải ngồi đây.
Dù bao mùa tiếc nuối.
Ta vẫn phải ngồi đây.
Ta vẫn phải ngồi đây.
Ta nhớ chiều qua màu hoa tim tím.
Cho ta thương nghe lửa lòng còn đây.
Em đã lên ngôi từ cuộc duyên ấy.
Anh vẫn còn ôm màu tím đợi chờ./.
Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014
Người VN dùng smartphone chủ yếu chụp ảnh
Theo Google, người Việt Nam thường xem video online ở nơi làm việc, chủ yếu để thư giãn hoặc trốn tránh (việc), tỉ lệ sử dụng smartphone vẫn còn thua xa so với máy tính và dùng để chụp ảnh là chính.
Google vừa công bố khảo sát toàn cầu Consumer Barometer 2014 phân tích chi tiết về mức độ sử dụng Internet ở 46 quốc gia năm 2014, trong đó có Việt Nam.
Theo Google, khảo sát này do hãng nghiên cứu thị trường TNS tiến hành dựa trên 150 nghìn phỏng vấn tập trung vào sử dụng thiết bị và truy cập trực tuyến, người dùng mua sắm và xem gì trên mạng, vai trò của kỹ thuật số trong quá trình mua sắm. Kết quả khảo sát cho thấy ngày càng nhiều người châu Á sử dụng smartphone để truy cập Internet hơn là máy tính để bàn.

Google: Người Việt dùng smartphone chủ yếu chụp ảnh
Trong một bài đăng trên blog hôm 28/10 vừa qua, Giám đốc tiếp thị của Google châu Á-Thái Bình Dương, ông Simon Kahn viết rằng xu hướng "mobile-first" (di động là trước hết) rất đang thịnh hành ở châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, nơi có tỉ lệ thâm nhập smartphone đã vượt desktop lần đầu tiên trong năm vừa qua. Xu hướng này có ở nhiều quốc gia với trình độ phát triển kinh tế cũng như quy mô khác nhau như Singapore, Malaysia, Indonesia, Hong Kong, Trung Quốc...
Khảo sát cũng phát hiện các quốc gia châu Á có tỉ lệ người dùng Internet truy cập mạng chỉ sử dụng smartphone cao nhất. Không có nước nào ngoài châu Á biểu thị xu hướng này. Malaysia đứng vị trí số 1 trong nhóm này với 35% người tiêu dùng truy cập Internet chỉ từ smartphone.
Đối với Việt Nam, tuy không nằm trong nhóm quốc gia có tỉ lệ người dùng smartphone vượt máy tính hay truy cập Internet từ smartphone cao hơn nhưng cũng có những lĩnh vực được xếp hạng top đầu thế giới (trong số 46 quốc gia được xếp hạng).
Chẳng hạn, tỉ lệ thực hiện nghiên cứu, khảo sát mạng phục vụ cho mua sắm của người Việt Nam đạt đến 75%, đứng thứ nhì chỉ sau Hàn Quốc và vượt Hong Kong, Anh, Mỹ. Việt Nam cũng đứng thứ nhì về tỉ lệ sử dụng smartphone để nghiên cứu thông tin trong quá trình mua sắm, đứng trên Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức... và chỉ sau Hàn Quốc.
Theo Google, hiện tại trung bình mỗi người Việt Nam sử dụng một thiết bị (máy tính/ di động), thấp hơn so với Malaysia là 1,2 và Trung Quốc là 1,9. Máy tính vẫn là thiết bị kết nối phổ biến nhất với tỉ lệ 44%, tiếp đến là smartphone 36% và tablet là 5%.
Khảo sát cho thấy hầu hết người dùng Internet ở Việt Nam online hằng ngày. Điều này xảy ra ở mọi lứa tuổi, với 51% người dùng Internet là ở độ tuổi từ 55 trở lên. Tầm tuổi từ 16-24 online hằng ngày chiếm tỉ lệ cao nhất: 81%.
Về các hoạt động phổ biến trên smartphone, khảo sát phát hiện người dùng smartphone ở Việt Nam chủ yếu để chụp ảnh, chiếm 71%, tiếp đến là nghe nhạc (70%), báo thức (65%). Đọc báo trên smartphone chiếm tỉ lệ thấp nhất, 54%.
Người Việt thường mua sắm gì qua mạng? 63% người Việt được hỏi cho biết lần gần nhất họ mua sắm online là đặt vé máy bay, mua đồ gia dụng và quần áo đều chiếm tỉ lệ 18%; mua bảo hiểm, đặt vé xem phim đều là 17%.
Và như trên đã đề cập, có đến 70% người Việt trong khảo sát cho biết họ đã nghiên cứu cả trên mạng và offline để phục vụ mua sắm - tỉ lệ cao nhất trong khu vực.
Một nội dung đáng chú ý nữa là người dùng Internet ở Việt Nam xem video như thế nào? Chiếm đa số (67%) phản hồi cho hay họ xem video online là để thư giãn hoặc trốn tránh, 65% là cảm hứng, 46% là học hành và 30% là để tìm hiểu sản phẩm.
Và mọi người thường xem video ở đâu? Câu trả lời phổ biến nhất là ở công sở hoặc trường học.
Trên đây là khảo sát Google vừa công bố về thói quen người dùng Internet Việt Nam. Bạn có đồng ý với những phát hiện này không? Hãy chia sẻ với chúng tôi nếu bạn có ý kiến khác./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)